BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT ĐẤT ĐAI ĐỀ BÀI SỐ 3 “Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới Bằng kiến thức đã học và tích luỹ, Anh (Chị) hãy làm sáng tỏ nh.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT ĐẤT ĐAI
ĐỀ BÀI SỐ 3:
“Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời
gian tới
Bằng kiến thức đã học và tích luỹ, Anh (Chị) hãy làm sáng tỏ nhận định
nêu trên.”
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
A Mở đầu 2
B Nội dung 2
I Khái quát chung về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam 2
1 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 3
2 Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai 4
2.1 Khái niệm và chức năng của chế độ sở hữu toàn dân 4
2.2 Cơ sở lý luận 5
II Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp 7
1 Thực tiễn việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 7
1.1 Chính trị 7
1.2 Kinh tế 9
1.3 Xã hội 12
2 Sự cần thiết phải tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân đối với đất đai trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 13
III Kiến nghị đổi mới quy định của pháp luật nâng cao hiệu quả thực thi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong thời gian tới 15
C Kết luận 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 32
A Mở đầu
Đất đai từ lâu vốn đã là một tài sản vô giá bởi nó không chỉ liên quan đến quyền lợi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến việc gìn giữ lãnh thổ quốc gia Đối mặt với tình trạng gia tăng dân số nhanh và mạnh như hiện nay đồng thời quỹ đất đang dần thu hẹp lại bởi những tác động xấu của thiên nhiên và của con người, mỗi quốc gia lại
có một thể chế riêng trong việc quản lí quỹ đất quốc gia Nếu Hoa Kỳ tôn trọng sở hữu tư là hình thức sở hữu thiêng liêng nhất và không thể bị xâm phạm, Trung Quốc với chế độ sở hữu tập thể mà người sở hữu chính là Nhà nước thì Việt Nam lại theo chế độ sở hữu toàn dân với Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và quản lí đất đai Tuy mỗi thể chế đều có những đặc điểm riêng nhưng không thể phủ nhận rằng luật pháp
có tác động vô cùng quan trọng đến việc quản lí đất đai Chính vì vậy mà nhóm chúng
em chọn Đề 3 làm đề bài tập nhóm: “Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp Tuy nhiên, pháp luật cần phải tiếp tục có những chế định mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế chế độ sở hữu này trong thời gian tới.” để
đi sâu làm rõ vấn đề
B Nội dung
I Khái quát chung về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về chế độ
sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam
1 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
1.1 Khái niệm
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội
mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được mô tả là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần với khu vực kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với
Trang 43
mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội Là một sản phẩm của thời kỳ đổi mới, thay thế cho nền kinh tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường với những thay đổi giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
1.2 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Về mục tiêu
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh” Việt Nam đang
ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì vậy việc sử dụng cơ chế này
để kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế
Thứ nhất, sở hữu là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội trên cơ sở chiếm hữu nguồn lực của quá trình sản xuất và kết quả lao động tương ứng của quá trình sản xuất hay tái sản xuất ấy trong một điều kiện lịch sử nhất định Sở hữu hàm ý trong đó bao gồm có chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu, lợi ích từ đối tượng sở hữu Về nội dung kinh tế, sở hữu là điều kiện của sản xuất, là lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu được thụ hưởng khi sở hữu đối tượng sở hữu Về nội dung pháp lý, sở hữu thể hiện những quy định mang tính chất pháp luật
về quyền hạn hay nghĩa vụ của chủ thể sở hữu
Thứ hai, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phât triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật
Về quan hệ quản lý
Trang 54
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có đặc trưng là do Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sự làm chủ và giám sát của nhân dân với mục tiêu dùng kinh tế thị trường để xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho CNXH vì " dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh" Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua pháp luật, các chiến lược, kế hoạch,
cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc của thị trường, khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường và phù hợp với yêu cầu xây dựng CNXH ở Việt Nam
Về quan hệ phân phối
Quan hệ phân phối bị chi phối và quyết định bởi quan hệ sở hữu về TLSX Nền kinh tế thị trường với sự đa dạng các hình thức sở hữu do vậy thích ứng với nó sẽ có các loại hình phân phối khác nhau: phân phối theo kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
Về quan hệ gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa – xã hội vừa là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, vừa là mục tiêu thể hiện bản chất tốt đẹp của chế
độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta phải hiện thực hóa từng bước trong suốt thời kỳ quá
độ lên CNXH
2 Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
2.1 Khái niệm và chức năng của chế độ sở hữu toàn dân
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã được đề cập đến trong các văn bản pháp
luật như Điều 53 Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.” hay như Điều 4 Luật Đất đai 2013: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Trang 65
Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm về chế độ sở hữu toàn dân như sau:
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai
Theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người
sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc cho phép người sử dụng đất chuyển sang
sử dụng vào mục đích khác Nhà nước ta với tư cách là cơ quan quyền lực, đại biểu cho lợi ích của Nhân dân, đóng vai trò người đại diện cho chủ sở hữu toàn dân Nhà nước có quyền và trách nhiệm tổ chức quản lý, giao cho các chủ thể khác sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn lực thuộc đối tượng của sở hữu toàn dân Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế cần nhận thức rõ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thu ngân sách thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản
lý và sử dụng đất,… tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các thành phần kinh tế
và các vùng kinh tế phát triển, tạo cơ sở điều tiết phân phối thu nhập, đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế
2.2 Cơ sở lý luận
Học thuyết Mác Lênin cho rằng nhân loại cần phải thay thế hình thức sở hữu tư nhân về đất đai bằng cách “xã hội hóa” đất đai thông qua việc thực hiện quốc hữu hóa đất đai Quốc hữu hóa đất đai là một việc làm mang tính tất yếu khách quan và phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội loài người
Thứ nhất, tập trung đất đai thông qua việc quốc hữu hóa đất đai sẽ tạo điều kiện
cho việc áp dụng máy móc và thành tựu khoa học công nghệ Trên phương diện kinh
tế, tập trung đất đai đem lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc sản xuất nông nghiệp trong điều kiện duy trì hình thức sở hữu tư nhân về đất đai Bởi vì hình thức sở hữu tư nhân về đất đai dẫn đến việc chia nhỏ, manh mún đất đai từ đó, không phù hợp với sự phát triển của các lực lượng sản xuất “đại cơ khí” trong nông nghiệp; cản trở việc áp dụng máy móc và các thành tựu khoa học - kỹ
Trang 76
thuật, công nghệ hiện đại và sản xuất nông nghiệp, kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, mọi người sinh ra đều có bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng đất
đai Đất đai là một sản phẩm, một món quà do thiên nhiên ban tặng vì vậy đất đai không phải là do bất cứ ai tạo ra, mọi người đều có quyền bình đẳng sử dụng đất đai
Thứ ba, xét dưới góc độ kinh tế, hiệu quả kinh tế mà phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mang lại dựa trên sự khai thác tối đa có xu hướng dẫn đến kiệt quệ hóa đất đai Mặt khác, xét về phương diện xã hội, sở hữu tư nhân
về đất đai vô hình chung trở thành phương tiện để giai cấp tư sản (Giai cấp chiếm hữu đất đai) thực hiện việc khai thác, bóc lột sức lao động của người lao động để làm giàu cho chính bản thân mình Muốn giải phóng người lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột, xây dựng xã hội bình đẳng, tiến bộ và công bằng thì cần phải thủ tiêu hình thức sở hữu tư nhân về đất đai của giai cấp tư bản chiếm thiểu số trong xã hội
Thứ tư, quốc hữu hóa đất đai do giai cấp vô sản thực hiện phải gắn với vấn đề
giành chính quyền và thiết lập chính quyền vô sån Tức là nhiệm vụ chính của chính quyền công - nông là phải thực hiện và xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong phạm vi toàn quốc nhằm đem lại ruộng đất cho người dân Để thực hiện thành công việc quốc hữu hóa đất đai thì giai cấp vô sản phải thiết lập được chuyên chính
vô sản bởi vì giai cấp tư sản không dễ dàng từ bỏ các quyền lợi của mình gắn với đất đai Việc thiết lập chính quyền vô sản giúp cho giai cấp vô sản có đủ sức mạnh cần thiết để đập tan mọi sự chống trả và phản kháng của giai cấp tư sản
Thứ năm, việc xóa bỏ chế độ tư hữu về ruộng đất của giai cấp tư sản phải là
một quá trình tiến hành lâu dài, gian khổ
Trang 87
II Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là cần thiết và phù hợp
1 Thực tiễn việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước
ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1 Chính trị
Thứ nhất, xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực Nhà nước
thuộc về nhân dân; xuất phát từ quy định của Hiến pháp và Luật đất đai không quy định các hình thức sở hữu khác về đất đai Ở nước ta, khái niệm quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 đã tạo cơ
sở pháp lí cho việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với quy định đất đai
là của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19) Kể từ đó đến nay, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tiếp tục được khẳng định trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta, như: Hiến pháp năm 1992; Hiến pháp năm 2013; Cương lĩnh của Đảng về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội năm 2011, Luật đất đai năm 1987; Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai năm 2003; Luật đất đai năm 2013 nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội hóa đất đai
Thứ hai, đất đai là tài nguyên quốc gia, là tài sản của toàn dân và không ai có
quyền sở hữu tư nhân về đất đai Ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức, mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải thuộc về toàn thể nhân dân Trong Báo cáo thẩm tra dự án Luật đất đai năm 1993 của Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa IX được trình bày tại kì họp thứ ba ngày 13/6/1993 đã
khẳng định: “Vì đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta…nước ta…mật độ dân số cao…người làm nghề nông chiếm hơn 85% dân số, vì lẽ đó việc xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý là hết sức quan trọng”2 Không ai có quyền sở hữu tư nhân về đất đai, toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả
2 Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội về Dự án Luật đất đai (sửa đổi) tại kì họp thứ 3, Quốc hội khóa IX, ngày 133/6/1993, tr.1-2
Trang 98
nước dù đã được giao hay chưa được giao cho bất kì tổ chức, cá nhân nào sử dụng đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; việc sử dụng đất đai phải tuân thủ các quy định của Nhà nước
Thứ ba, hiện nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, với
nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở”, việc xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất đai là một trong những phương thức nhằm góp phần củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc 3 Một trong những việc được thực hiện nhằm xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất đai là việc thể chế hóa các quy định của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu tại Luật đất đai 2013 Trước hết, xét đến các quy định của pháp luật thể hiện vai trò của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai gồm: quy định vai trò
nhà nước là người đại diện chủ sở hữu (Điều 4) “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” Điều 13 quy định các quyền của đại diện chủ sở hữu
về đất đai thể hiện quyền định đoạt đất đai của nhà nước thông qua các quyết định
như: “quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quyết định mục đích
sử dụng đất …” Điều 19 Nhà nước quyết định chính sách tài chính về đất đai như
sau: Quyết định chính sách thu, chi tài chính; Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi Điều 22,23,26,27,28 Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai: i) Xác định nội dung quản lí nhà nước về đất đai; ii) Xác định trách nhiệm quản lí nhà nước về đất đai; iii) Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; iv) Xác định trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số; v) Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai Tiếp theo là các quy định thể hiện việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của nhà nước gồm: Thể chế hóa quy
định tại Điều 6 Luật Hiến pháp 2013 “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước…bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước”, Điều 21 Luật đất đai quy định việc Thực hiện quyền đại diện
3 Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, Tr.40-41
Trang 109
chủ sở hữu về đất đai của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp Thể chế hóa quy định tại khoản 2 Điều 54 Hiến pháp 2013 về quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Điều 26 Luật đất đai 2013 quy định về
“Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất” Điều 198, 199 Luật đất đai 2013 quy định quyền giám sát gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận; quyền giám sát trực tiếp của công dân về việc quản lý, sử dụng đất đai Đứng trước sự hội nhập, những quy định chặt chẽ của pháp luật chính là một nền tảng bảo
vệ nguồn đất đai của nhà nước, củng cố nền độc lập
Thứ tư, nếu thay đổi hình thức sở hữu về đất đai hiện nay sẽ dẫn đến những hệ
lụy phức tạp, khó giải quyết Cho đến nay, các quan hệ về quản lý và sử dụng đất đai
ở nước ta được xác lập dựa trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý đã mang tính ổn định trong thời gian dài (từ năm 1980 đến nay); nên nếu thay đổi hình thức sở hữu đất đai này sẽ dẫn đến những sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, làm tăng tính phức tạp của các quan hệ đất đai, thậm chí dẫn đến sự mất ổn định về chính trị xã hội của đất nước Sẽ thực sự là khó khăn cho cả Nhà nước
và người dân khi thay đổi một hình thức sở hữu khác về đất đai; nó kéo theo một hệ lụy bắt đầu từ những văn bản pháp luật cần thay đổi, đến việc thực thi và áp dụng của cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và chính người dân Vậy nên, việc duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà nhà nước là chủ đại diện là cần thiết và phù hợp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay
1.2 Kinh tế
Thứ nhất, đất đai là “tư liệu sản xuất” đặc biệt trong nền kinh tế Đất đai là điều
kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động, như: xây dựng nhà xưởng,
bố trí máy móc, làm đất ) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng
để gieo trồng, nuôi gia súc ) Vì vậy nên đất đai là “tư liệu sản xuất” Nói nó là đặc biệt bởi: Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch
sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong lịch sử nhân loại, cho