1 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM Môn LUẬT ĐẤT ĐAI Đề bài 02 Bằng kiến thức đã học, Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định sau đây “ Quyền sử đụng đất đai của người sử dụng đất vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, vừa mang tính độc lập trong quá trình khai thác và sử dụng đất ” Nhóm 02 Lớp N06 TL1 Năm học 2021 2022 3 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG 4 1 Khái quát quyền sử dụng đất trong hệ thống Pháp luật Việt Nam 4 1 1 Khái.
Trang 11
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Môn: LUẬT ĐẤT ĐAI
-* -
Đề bài 02: Bằng kiến thức đã học, Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định sau đây: “ Quyền sử đụng đất đai của người sử dụng đất vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, vừa mang tính độc lập
trong quá trình khai thác và sử dụng đất.”
Nhóm : 02 Lớp : N06 - TL1
Năm học 2021 - 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 4
1 Khái quát quyền sử dụng đất trong hệ thống Pháp luật Việt Nam 4
1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất 4
1.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền sử dụng đất 5
1.2.1 Quyền sử dụng đất là quyền của chủ sở hữu đất đai 5
1.2.2 Quyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng đất đai 6
2 Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất 6
2.1 Quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu 6
2.2 Quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất mang tính độc lập trong quá trình khai thác và sử dụng đất 10
2.3 Mối quan hệ giữa tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và tính độc lập trong quá trình khai thác, sử dụng đất 13
2.3.1.Sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu tạo nền tảng cho sự hình thành các quyền của người sử dụng đất 13
2.3.2 Quyền sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều phối đất đai 14
3 Hoàn thiện quy định về chế định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất 15
3.1 Những điểm hạn chế 15
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật đất đai bảo đảm thể chế chế định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất 16
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó không chỉ đơn thuần
là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lí mà còn là tư liệu sản xuất và là cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng của người sử dụng đất Đất đai có mặt trong tất cả các lĩnh vực trọng điểm của một quốc gia, là tư liệu sản xuất của các ngành nông và lâm nghiệp, là môi trường sống và là cơ sở tiến hành mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngày nay, nhu cầu về sử dụng đất đai ngày càng gia tăng, vì vậy Luật đất đai 2013 đã đưa ra những quy định pháp lí về quyền sử dụng đất, mang ý nghĩa vừa giúp Nhà nước thực hiện hiệu quả việc quản lí, vừa bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, nhóm 02 chúng em xin được làm rõ nhận định
“Quyền sử đụng đất đai của người sử dụng đất vừa mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, vừa
mang tính độc lập trong quá trình khai thác và sử dụng đất.”
NỘI DUNG
1 Khái quát quyền sử dụng đất trong hệ thống Pháp luật Việt Nam
Dưới góc độ pháp lý, quyền sử dụng đất là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa
vụ của của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng Theo đó, quyền sử dụng đất là một quyền năng mà Nhà nước trao cho người sử dụng đất, nhằm mang lại lợi ích cho người sử dụng đất và cho xã hội Người sử dụng đất không có toàn bộ quyền năng như quyền sử dụng tài sản khác như quyền cho mượn, tiêu hủy tài sản nhưng có một số quyền năng nhất định (Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất) theo quy định tại Luật Đất đai 2013
Trang 4Về bản chất, quyền sử dụng đất là một loại tài sản gắn liền với tài sản khác là đất đai Đây là một loại tài sản đặc thù, không giống như những loại tài sản khác Quyền sở hữu đất là một loại quyền nguyên vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất lại không bởi vì:người sử dụng đất không có đầy đủ quyền năng như Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu; không có quyền sử dụng đất độc lập mà quyền sử dụng đất luôn gắn liền và được thiết lập dựa trên một diện tích nhất định
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về quyền
sử dụng đất Theo định nghĩa phổ biến nhất thì quyền sử dụng đất chính là quyền của chủ thể có quyền sử dụng đất được phép sử dụng, khai thác nguồn tài sản đó để phúc vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Trên thực tế, phần lớn diện tích đất đai ở nước ta đã được nhà nước quản lý, quy hoạch, phân bố và chuyển giao cho các chủ thể sử dụng đất để sử dụng vào các mục đích khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế, xã hội
Như vậy, có thể hiểu về quyền sử dụng đất một cách tổng quát như sau:
Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho…từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất 1
1.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền sử dụng đất
1.2.1 Quyền sử dụng đất là quyền của chủ sở hữu đất đai
Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thì Nhà nước
có đầy đủ ba quyền năng đối với đất đai Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước
1 Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, trang 655
Trang 5thực hiện chức năng chủ yếu đối với đất đai là chức năng thống nhất quản lý đối với đất đai và chức năng điều phối đối với đất đai Bên cạnh đó, với tư cách là chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước còn có đầy đủ ba quyền năng đối với tài sản thuộc sở hữu của mình: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt
1.2.2 Quyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng đất đai
Nhà nước không trực tiếp sử dụng tất cả đất đai trên lãnh thổ, mà Nhà nước trao quyền sử dụng đất lại cho chủ sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Khi Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thì họ có các quyền như sau: Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất… theo quy định của pháp luậtvề đất đai; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ,cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi dưỡng đất nông nghiệp được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật đất đai
2 Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất
2.1 Quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất mang tính phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu.
Thứ nhất, quyền sử dụng đất đai là quyền có sau khi được nhà nước
giao đất hoặc cho thuê đất cho phép nhận quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước có quyền định đoạt toàn bộ đất đai trên phạm vi toàn quốc Nhà nước có đầy đủ ba quyền năng đối với đất theo luật định Tuy nhiên Nhà nước lại không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng
Trang 6đất đai để khai thác những thuộc tính có ích từ đất mà thông qua quyền định đoạt, giao đất thuộc quyền sở hữu của mình cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và nước ngoài sử dụng dưới các hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận sử dụng đất ổn định hoặc thừa nhận các hành vi chuyển quyền sử dụng đất Như vậy, chế định quyền sử dụng đất được xây dựng trên nền tảng chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
Thứ hai, người sử dụng đất phải hành động theo ý chí của nhà nước với
tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao.
Một là, quá trình khai thác sử dụng đất của người sử dụng đất bị chi phối
bởi Nhà nước
Về hình thức sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, người
sử dụng đất chỉ có hai hình thức sử dụng đất là hình thức giao đất và hình thức cho thuê đất Tùy thuộc vào đối tượng, loại đất, mục đích sử dụng đất, và nguyện vọng của người sử dụng đất mà Nhà nước căn cứ vào đó để đưa ra các trường hợp được giao đất (Điều 54,55 Luật đất đai) hoặc được cho thuê đất (Điều 56 Luật đất đai), người sử dụng đất bị phụ thuộc vào Nhà nước trong việc Nhà nước cho phép sử dụng đất dưới hình thức nào
Về mục đích sử dụng đất: Điều này thể hiện rõ ở Điều 14, Điều 57 Luật Đất đai, theo đó tại Điều 14: “Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất” Tùy theo loại đất, vị trí đất mà Nhà nước cho phép chủ thể nào có quyền sử dụng đất, sử dụng đất vào mục đích gì Sau đó, người
sử dụng đất phải sử dụng đúng mục đích đã cho phép, đất trồng lúa thì phải là trồng lúa, đất ở thì phải là đất ở, đất để thực hiện các dự án đầu tư thì phải thực hiện các dự án Đồng thời việc thay đổi mục đích sử dụng đất phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và nhận được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền trong một số trường hợp nhất định (Điều 57)
Trang 7Về thời hạn sử dụng đất: Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước
có quyền hạn chế thời hạn sử dụng đất của người dụng đất (Điều 15 Luật đất đai), tùy theo từng trường hợp mà thời hạn có thể là ổn định lâu dài hoặc là giới hạn ở mức 05 năm, 50 năm, không quá 50 năm, không quá 70 năm, không quá 99 năm (Điều 126, Luật đất đai)
Về giá đất: Nhà nước quyết định giá đất để Nhà nước thực hiện việc quản lí đất đai về mặt kinh tế (Điều 18) Giá đất được hiểu là giá trị của quyền
sử dụng đất tính trên đơn vị diện tích đất(khoản 19 Điều 3 Luật Đất đai) Nhà nước ban hành khung giá đất (Điều 13, Luật đất đai 2013), từ đó các cơ quan
có thẩm quyền đưa ra bảng giá đất và giá đất cụ thể (Điều 114, Luật đất đai) Chứng tỏ khi người sử dụng đất thực hiện các nghĩa vụ tài chính hay giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất thì phải dựa theo nguyên tắc về giá mà Nhà nước đặt ra, qua đó cho thấy tính phụ thuộc cao về giá đất
Hai là, hình thức và nội dung của các giao dịch liên quan đến quyền sử
dụng đất đều chịu sự chi phối của các quy định pháp luật mà Nhà nước đặt ra Các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
Về hình thức: Tất cả các loại giao dịch này đều thể hiện dưới dạng văn bản (Khoản 1 Điều 502 BLDS 2015), mà cụ thể là khi thực hiện các giao dịch
về quyền sử dụng đất thì các bên phải thiết lập hợp đồng về loại giao dịch quyền sử dụng đất đó (Điều 500, Điều 501, Điều 502 và Điều 503 BLDS 2015) Một số loại giao dịch bắt buộc phải công chứng, chứng thực
Về trình tự thủ tục: Việc giao dịch đất đai thông qua các loại giao dịch
đều có trình tự, thủ tục riêng theo quy định của pháp luật Trình tự, thủ tục trong việc thực hiện các loại giao dịch quyền sử dụng đất trên được quy định tại Điều 502 BLDS 2015 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP
Trang 8Bởi đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đứng ra đại diện, thống nhất quản lí nên bất cứ một cá nhân, tổ chức nào khi thực hiện các giao dịch liên quan đến đất đai thì đều phải đáp ứng các điều kiện cho phép giao dịch và thực hiện theo quy định của pháp luật
Ba là, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất có những nghĩa vụ tài
chính nhất định xuất phát từ cơ sở sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
Trong quá trình sử dụng đất, chính vì chủ sở hữu của đất đai là toàn dân chứ không phải bất cứ một chủ thể nào riêng biệt nên để có được các quyền,
có được lợi ích trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất phải thực hiện những nghĩa vụ tài chính nhất định Các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất phát sinh dựa trên cơ sở hình thức sở hữu toàn dân Nhà nước là đại diện chủ sở hữu là (đồng thời là các khoản thu tài chính từ đất đai): tiền sử dụng đất (Điều 55, 56 Luật Đất đai), tiền thuê đất (Điều 56, 60 Luật Đất đai), tiền thuế sử dụng đất, thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí,
xử lý vi phạm hành chính, tiền bồi thường
Những trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất đều do Nhà nước quy định Người sử dụng đất sẽ phải thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính của mình để quyền sử dụng đất được Nhà nước công nhận
và bảo vệ Như vậy việc sử dụng đất có phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, nộp tiền thuê đất, thuế sử dụng đất không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của Nhà nước Cụ thể, nộp tiền thuê đất hằng năm hay một lần, có được miễn trừ thuế không và nghĩa vụ tài chính trên có đơn giá như thế nào là tuân theo quy định mà Nhà nước đề ra, điều chỉnh, bắt buộc Nếu không thực hiện nghĩa vụ tài chính trên, người sử dụng đất sẽ không có những quyền của người sử dụng đất đồng thời trong một số trường hợp sẽ bị Nhà nước áp dụng các chế tài xử lý
Trang 9Bốn là, mặc dù trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, Nhà nước
vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng trong một số trường hợp nhất định
Thu hồi đất có hậu quả pháp lí là chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng, bằng 1 quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định tại Điều 16, 61, 62, 64,
65, 67, 70, 71 Luật Đất đai Như vậy, người sử dụng đất mặc dù được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định, lâu dài nhưng họ bắt buộc phải
sử dụng đất đúng với quy định, nếu làm trái quy định thì được coi là hành vi
vi phạm pháp luật về đất đai và hậu quả là Nhà nước sẽ thu hồi đất Đồng thời, trong những trường hợp thật cần thiết khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng an ninh, thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người bị thu hồi đất bắt buộc hợp tác cùng Nhà nước Khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất thì người sử dụng đất nếu không chấp hành, thì sẽ buộc cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất tiến hành cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất Như vậy, người sử dụng đất bắt buộc phải chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước, họ không có quyền lựa chọn mà hoàn toàn phụ thuộc bởi ý chí của Nhà nước (với căn cứ pháp lý rõ ràng, lí do hợp lý)
2.2 Quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất mang tính độc lập trong quá trình khai thác và sử dụng đất
Quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất mang tính độc lập trong quá trình khai thác và sử dụng đất được thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất: tính trực tiếp và cụ thể Trong khi quyền sử dụng đất của
Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang tính chất trực tiếp và cụ thể Điều 4 Luật Đất đai
2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử
Trang 10dụng đất theo quy định của Luật này.” Như vậy, người sử dụng đất mặc dù không phải chủ sở hữu của đất đai nhưng chính họ là những người được trao quyền sử dụng và trực tiếp chiếm hữu Hành vi trực tiếp chiếm hữu đất đai của người sử dụng đất cho thấy việc sử dụng đất đai một cách độc lập của họ đối với đại diện chủ sở hữu là Nhà nước và các chủ thể khác, Nhà nước và các chủ thể khác phải tôn trọng quyền chiếm hữu của họ
Thứ hai: tính tự quyết định Người sử dụng đất hoàn toàn có thể tự
quyết định hình thức, mục đích, thời hạn,diện tích, giá đất trong quá trình khai thác, sử dụng đất một cách độc lập với Nhà nước biểu hiện như sau : Hình thức sử dụng đất có sự thay đổi qua các năm theo hướng người sử dụng đất có quyền tự lựa chọn hình thức sử dụng phù hợp (Điều 172 Luật Đất đai) Người
sử dụng đất căn cứ vào khả năng tài chính, nhu cầu sử dụng, khả năng khai thác có quyền tự quyết định sẽ chọn hình thức sử dụng đất nào Luật đất đai
2013 quy định tất cả các chủ thể không kể là chủ thể trong nước hay chủ thể
có vốn đầu tư nước ngoài đều có quyền lựa chọn hình thức sử dụng đất thích hợp, không dành riêng bất cứ một sự khác biệt hoặc ưu đãi nào đó cho các chủ thể sử dụng đất khác nhau Về mục đích sử dụng đất, pháp luật có quy định các trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải xin phép (Điều 57, Luật đất đai), nên người sử dụng đất có thể tự do chuyển đổi trong các trường hợp còn lại Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất Lý luận về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước
ta hình thành và phát triển dựa trên quan điểm xác định quyền lợi của người lao động là động lực trực tiếp phát triển xã hội của Đảng trong lĩnh vực đất đai; theo đó, hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài và được chuyển quyền sử dụng đất Việc công nhận quyền sở hữu tài sản quyền
sử dụng đất của người lao động đã đưa lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: nước ta từ chỗ là nước thiếu lương thực đã tự túc được vấn đề lương thực và trở thành