1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

17 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Họ và tên sinh viên Nguyễn Thị Diễm MSSV 030136200075 Lớp học phần D13 THÔNG TIN BÀI THI Bài thi có (bằng số) 13 trang (bằng chữ) mười ba trang YÊU CẦU Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT LỜI NÓI ĐẦU 1 Phần 1 Giới thiệu về dự trữ bắt buộc 1 1 Khái niệm 2 1 2 Cơ chế vận hành 2 1 3 Cơ chế tác động 2 1.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

Môn thi: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Diễm

MSSV: 030136200075 Lớp học phần: D13

THÔNG TIN BÀI THI

Bài thi có: (bằng số): …13… trang

(bằng chữ): …mười ba… trang

YÊU CẦU: Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều

hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

Phần 1: Giới thiệu về dự trữ bắt buộc

1.1 Khái niệm 2

1.2 Cơ chế vận hành 2

1.3 Cơ chế tác động 2

1.4 Ưu và nhược điểm của dự trữ bắt buộc 2

Phần 2: Thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam

2.1 Các văn bản hiện hành về quản lý DTBB của NHNN Việt Nam 4

2.2 Phương pháp tính dự trữ bắt buộc của Việt Nam hiện nay 4

2.3 Việc sử dụng công cụ DTBB trong điều hành CSTT tại Việt Nam 5

2.4 Đánh giá 11

Phần 3: Đánh giá hiệu quả quản lý dự trữ bắt buộc của ngân hàng nhà nước Việt Nam

3.1 Đánh giá mức độ hiệu quả 12

3.2 Kiến nghị 12

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TPTTT Tổng phương tiện thanh toán

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng thông qua việc cung ứng tiền

và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương của các quốc gia đã tiến hành sử dụng các công cụ như: chính sách chiết khấu, thị trường mở, lãi suất, Đáng chú ý hơn hết là dự trữ bắt buộc, đây là công cụ nhận được khá nhiều

sự quan tâm, chú ý đến từ các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, Để tìm hiểu sâu hơn về công cụ dự trữ bắt buộc và ứng dụng của nó trong thực tế, trong bài tiểu luận này, em xin đề cập tới vấn đề ‘’Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam’’

Để làm rõ hơn về vấn đề này, bài làm của em sẽ gồm ba phần Phần đầu tiên là giới thiệu về dự trữ bắt buộc Tiếp đến là thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam Và cuối cùng là nhận xét về thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Trang 5

Phần 1: Giới thiệu về dự trữ bắt buộc

1.1 Khái niệm

Dự trữ bắt buộc là một phần vốn huy động tiền gửi mà các tổ chức tín dụng bắt buộc phải dự trữ theo luật định Tỷ lệ dự trữ bắt buộc này được quy định khác nhau đối với các thời hạn tiền gửi, quy mô và tính chất hoạt động của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Và đây chính là một trong những công cụ mà Ngân hàng trung ương sử dụng để thực hiện chính sách tiền tệ thông qua việc làm thay đổi số nhân tiền tệ

Như vậy, dựa vào đâu để xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc? Đó chính là dựa vào tính ổn định của các loại tiền gửi, mục tiêu của chính sách tiền tệ từng thời kỳ và chi phí phải trả của các Ngân hàng Thương mại (NHTM) khi duy trì dự trữ

1.2 Cơ chế vận hành

Cơ chế vận hành của công cụ dự trữ bắt buộc như sau:

Thứ nhất, là điều chỉnh (tăng hoặc giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Thứ hai, là điều chỉnh (tăng hoặc giảm) lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân

hàng Trung ương

1.3 Cơ chế tác động

Khi NHTW thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ dẫn đến lượng dự trữ bắt buộc thay đổi theo, từ đó tác động đến cung tiền và lãi suất Trong trường hợp, NHTW tăng

tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì lượng tiền dự trữ bắt buộc của NHTM tại NHTW sẽ tăng, vốn khả dụng của NHTM giảm dẫn đến khả năng cho vay của NHTM giảm theo, đồng thời, khả năng tạo tiền giảm và cung tiền cũng sẽ giảm

Bên cạnh đó, khi NHTW tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc thì chi phí duy trì các khoản dự trữ bắt buộc của NHTM giảm Trong trường hợp này, để cạnh tranh hơn so với các NHTM khác, NHTM này sẽ tăng lãi suất huy động, hoặc giảm lãi suất cho vay nhằm khuyến khích, thúc đẩy công chúng gửi tiền và đi vay Từ đó làm tăng khả năng cho vay và tạo bút tệ của NHTM, dẫn đến cung tiền tăng lên

1.3 Ưu và nhược điểm của công cụ dự trữ bắt buộc

Trang 6

Là công cụ nhận được khá nhiều sự quan tâm và được sử dụng nhiều nên chắc chắn công cụ dự trữ bắt buộc cũng sở hữu cho minh khá nhiều ưu điểm nổi bật

Thứ nhất, một trong những ưu điểm đó là tạo nên sự bình đẳng giữa các NHTM

trong điều kiện kinh doanh như nhau Bởi công cụ dự trữ bắt buộc được áp dụng không phân biệt đối với các NHTM và các tổ chức tín dụng

Thứ hai, đây còn là công cụ chủ động và đầy quyền lực của NHTW, phản ánh

được tính chất quyền lực của Ngân hàng Nhà nước, đảm bảo cho Ngân hàng Nhà nước thực thi được các chính sách tiền tệ một cách công bằng, nhanh và mạnh đến lượng cung tiền thông qua việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc

Thứ ba, hơn thế nữa, công cụ dự trữ bắt buộc còn thiết lập mối quan hệ giữa việc

tạo tiền của hệ thống NHTM với nhu cầu tái cấp vốn tại NHTW

Bên cạnh sở hữu những ưu điểm vượt trội, đầy tính chất quyền lực thì công cụ

dự trữ bắt buộc còn có một số nhược điểm như:

Thứ nhất, thiếu linh hoạt, cần có thời gian để phát huy tác dụng Vì khi có sự thay

đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây ra tình trạng bất ổn trong hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là đối với những ngân hàng có dự trữ cấp thấp

Thứ hai, công cụ dự trữ bắt buộc còn gây ra sự khó khăn cho việc quản lý khả

năng thanh toán của hệ thống NHTM

Thứ ba, dự trữ bắt buộc cũng giống như một hình thức thuế thu nhập vô hình đối

với các NHTM, bởi lẽ các ngân hàng phải giữ lại một phần tiền gửi, không được

sử dụng vào mục đích sinh lời theo yêu cầu và vẫn phải trả lãi tiền gửi cho những khách hàng gửi tiền

Thứ tư, công cụ dự trữ bắt buộc rất ít khi được NHTW sử dụng để điều chỉnh

những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ

Qua việc tìm hiểu, ta thấy công cụ dự trữ bắt buộc có khá nhiều nhược điểm và hầu như những nhược điểm này là lớn hơn ưu điểm Đó chính là nguyên nhân dẫn đến công cụ này có xu hướng được sử dụng ít đi trong điều tiết tiền tệ Tuy nhiên, với điều kiện thực tế ngày nay, tại nhiều quốc gia cũng như với Việt Nam thì công

cụ dự trữ bắt buộc vẫn được xem là một công cụ đắc lực, vô cùng quan trọng trong

Trang 7

việc điều hành chính sách tiền tệ cùng với sự kết hợp với các công cụ khác Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau khám phá, phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam để thấy rõ hơn vai trò quan trọng của công cụ này

Phần 2: Thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam

2.1 Các văn bản hiện hành về quản lý dự trữ bắt buộc của NHNN Việt Nam

Thứ nhất, Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 9 tháng 6 năm 2003 của

Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng

Thứ hai, Thông tư 27/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc

sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 09/06/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Thứ ba, Quyết định số 2560/QĐ-NHNN ngày 3/11/2008 Quyết định này có hiệu

lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 11 năm 2008 và thay thế Quyết định số 187/QĐ-NHNN ngày 16 tháng 1 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Thứ tư, Quyết định số 379/QĐ- NHNN ngày 24/2/2009( áp dụng kỳ dự trữ tháng

3/2009), tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD áp dụng theo QĐ1925/QĐ- NHNN ngày 26/8/2011( áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 9/2011)

2.2 Phương pháp tính dự trữ bắt buộc của Việt Nam hiện nay

Căn cứ vào điều 4 Quyết định 581/Q Đ/2003- NHNN

Dự trữ bắt buộc được tính toán trên cơ sở số dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các chi nhánh của tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng được

Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ

Căn cứ vào điều 13 Quyết đinh 581/Q Đ/2003- NHNN

Cách tính dự trữ bắt buộc cho kỳ duy trì dự trữ bắt buộc

Trang 8

1 Dự trữ bắt buộc cho kỳ duy trì dự trữ bắt buộc được tính bằng cách lấy số dư bình quân các loại tiền gửi huy động phải dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (quy định tại Điều 12 Quy chế này) trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc nhân với tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định cho từng loại hình tổ chức tín dụng và cho từng loại tiền gửi tương ứng

2 Số dư bình quân các loại tiền gửi huy động phải tính dự trữ bắt buộc trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc được tính bằng cách cộng các số dư tiền gửi huy động phải tính dự trữ bắt buộc cuối mỗi ngày trong kỳ đem chia cho tổng số ngày trong kỳ

2.3 Việc sử dụng công cụ DTBB trong điều hành CSTT tại Việt Nam

Bảng 01: Tỷ lệ DTBB(VNĐ) đối với các TCTD Việt Nam từ tháng 01/2008 –

01/2011

Tiền gửi đối với TG KKH

và kỳ hạn dưới 12 tháng

Tiền gửi đối với TG kỳ hạn 12 tháng trở lên

Văn bản

16/01/2008

03/11/2008

20/11/2008

03/12/2008

19/12/2008

24/02/2009

18/01/2010

Trang 9

Nhận xét:

Từ kết quả của bảng 01 cho thấy từ tháng 01/2008 – 01/2011 đến nay, tỷ lệ DTBB được điều chỉnh giảm tác động đến chính sách tiền tệ Việc điều chỉnh này của NHNN một mặt nhằm đưa ra tín hiệu nới lỏng tiền tệ, mặt khác thông qua việc nâng cao hệ số nhân tiền chính thức mở rộng khả năng cho vay, kích thích các NHTM đẩy mạnh hoạt động tín dụng

Năm 2008:

Từ bảng số liệu trên ta thấy rõ được sự thay đổi của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại Việt Nam vào năm 2008 Vào đầu năm 2008 thì: đối với tiền VND không kỳ hạn và có

kỳ hạn dưới 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5% Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn

Ngân hàng muốn tăng dự trữ bắt buộc vào đầu năm 2008 vì tình hình nước ta lúc bấy giờ đang gặp phải là tỷ lệ lạm phát cao Theo báo cáo thường niên năm 2008:

Trang 10

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Từ 6 tháng đầu năm 2008 lạm phát tăng mạnh, từ tháng 7 khi có sự tác động tăng

tỷ lệ DTBB thì từ tháng 7/2008 giảm dần và đạt mức âm vào 3 tháng quý IV Tính chung cả năm thì tỷ lệ lạm phát bình quân tăng 22,97% (năm 2007: 8,3%)

Khi có dấu hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất là khi tình trạng suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam thì vào cuối năm 2008 Chính phủ có lại giảm tỷ lệ DTBB khi Đầu năm khi tiền gửi (VNĐ) không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 11% thì đến cuối năm 2008 tỉ lệ này chỉ còn 6%; đối với tiền gửi(VNĐ) có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ DTBB giảm từ 5% xuống còn 2%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không

kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm từ 11 xuống 7 đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 5% xuống 3%

Điều này đã tác động đến TPTTTcủa năm 2008 theo báo cáo thường niên:

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 11

Tổng phương tiện thanh toán (M2) tính đến 31/12/2008 tăng 20,31% so cuối năm

2007, thấp hơn nhiều so với mức tăng 46,12% của năm 2007, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng 46,12% của năm 2007 Trong đó tài sản có nước ngoài ròng chỉ trưởng của tài sản ở trong mức ròng cũng dừng ở mức 27,23% so với cuối năm

2017 Điều này giúp ta thấy cơ cấu TPTTT thay đổi tích cực, chính vì thế để tăng lượng cung tiền thì NHTW đã tiếp tục giảm tỉ lệ DTBB trong các năm tiếp theo

Nguyên nhân: Năm 2007- 2008, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động,

đáng chú ý là khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cầu tài sản tăng vọt, nói lỏng cung tiền tệ làm cho lạm phát tăng cao=> Chính Phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

Năm 2009:

Ngay từ đầu năm 2009, để dễ hỗ trợ các TCTD tăng cường cung ứng vốn cho nền kinh tế, chống suy giảm kinh tế, NHNN đã có 2 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB bằng VNĐ đối với kỳ hạn dưới 12 tháng: từ 6% - 5% - 3% và lần điều chỉnh giảm từ: 2% -1% đối với kỳ hạn 12 tháng trở lên; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, điều chỉnh giảm từ 3% - 2% - 1% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng và giữ nguyên tỷ lệ DTBB 1% đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên Tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ được giữ nguyên như năm 2008, ở mức 7% đối với tiền gửi 12 tháng, 3% dối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên, để duy trì ổn định lãi suất ngoại tệ Riêng với

Trang 12

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ là 6% đối với tiền gửi dưới 12 tháng, 2% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên

Theo báo cáo thường niên năm 2009:

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2009 so với cùng kỳ chỉ tăng 6,52%; chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2009 so với năm 2008 tăng 6,88%; thấp hơn nhiều so với mức tăng tương ứng của năm 2008 là 19,89% và 22,97% Lạm phát giảm trong 3 tháng đầu năm Từ tháng 4/2009 lạm phát lại có xu hướng tăng do tác động của nhiều yếu

tố trong đó có tỷ lệ DTBB

Theo như báo cáo thường niên năm 2009, thì TPTTT tăng 28,99% trong năm

2009, cao hơn so với tốc độ tăng 20,31% của năm 2008 chủ yếu do tín dụng đối với nền kinh tế tăng cao Cơ cấu của TPTT có những chiều hướng thay đổi tích cực với

tỷ trọng tiền mặt đạt 14,01% giảm so với mức 14,6% của năm 2008 Điều này cho thấy các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tăng mạnh hơn các hình thức thanh toán bằng tiền mặt Tỷ trọng gửi bằng ngoại tệ trong tổng phương tiện thanh

Trang 13

toán tăng nhẹ mức 20,37% trong năm 2008 lên mức 20,41% trong năm 2009 Chính

vì thế việc NHNN giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc để giúp các ngân hàng có thể mở rộng vốn tín dụng có hiệu quả nhằm khuyến khích sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nguyên nhân: Năm 2009, thâm hụt ngân sách của Chính Phủ tăng đột biến

Chính Phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

Năm 2010

Năm 2010 NHNN duy trì các tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi VNĐ ở mức thấp, cụ thể kỳ hạn dưới tháng 12 là 3% và kỳ hạn từ tháng 12 trở lên là 1% nhằm thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về việc giảm nhần lãi suất cho vay Ngày 29/9/2010, NHNN ban hành thông tư số 20/2010/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện các biện pháp công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong năm 2010 thì có tới 4 TCTD được giảm tỷ lệ DTBB theo Thông

tư 20/2010/TT – NHNN với tổng số tiền phải DTBB giảm khoảng 2.200 tỷ đồng

Trang 14

Việc duy trì tỷ lệ DTBB đã làm cho lạm phát năm 2020 tăng cao so với năm

2009, thể hiện qua 3 tiêu chí: lạm phát CPI tăng 11,75% so với 6,52% của năm

2009, lạm phát lương thực thực phẩm tăng 16.18% so với năm 5,78% của năm 2009; lạm phát bình quân tăng 9,19% so với 6,88% của năm 2009 chịu tác động của

cả sức ép bên cung , duy trì tỷ lệ DTBB

Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tổng phương tiện thanh toán tăng liên tục qua các tháng phù hợp với diễn biến tắng trưởng kinh tế tín dụng và huy động vốn Tính đến cuối tháng 12/2010, TPTTT tăng trưởng 33,3% so với cuối tháng 12/2009, cao hơn mức tăng 28,99% cuar cùng

kỳ năm 2009 trong đó, tiền lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tăng 15,25% và huy động vốn từ nền kinh tế tăng 36,24%, TPTTT tăng cao hơn năm 2009 lúc này không có sự tác động từ tỷ lệ DTBB mà từ tài sản có trong nước ròng của toàn ngành ngân hàng tăng 41,71%; tài sản có nước ngoài ròng của toàn ngành giảm 14,63%so với cuối năm 2009, chủ yếu là do có tài sản nước ngoài ròng của NHNN giảm 20.33%, tài sản có nước ngoài ròng của TCTD tăng 37%

2.4 Đánh giá

Nhìn chung dự trữ bắt buộc là công cụ được NHNN sử dụng thường xuyên, đặc biệt trong những thời kì mà nền kinh tế có nhiều biến động như năm 2008, 2009,

2010 Chẳng hạn như vào những cuối năm 2007 đầu 2008 việc tăng tỷ lệ DTBB thật

sự đã giúp cho tỷ lệ lạm phát có xu hướng giảm Hay là từ cuối năm 2008 – 2009 tỷ

Ngày đăng: 28/04/2022, 18:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Tỷ lệ DTBB(VNĐ) đối với các TCTD Việt Nam từ tháng 01/2008 – 01/2011. - Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.
Bảng 01 Tỷ lệ DTBB(VNĐ) đối với các TCTD Việt Nam từ tháng 01/2008 – 01/2011 (Trang 8)
Từ kết quả của bảng 01 cho thấy từ tháng 01/2008 – 01/2011 đến nay, tỷ lệ DTBB được điều chỉnh giảm tác động đến chính sách tiền tệ - Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.
k ết quả của bảng 01 cho thấy từ tháng 01/2008 – 01/2011 đến nay, tỷ lệ DTBB được điều chỉnh giảm tác động đến chính sách tiền tệ (Trang 9)
Nguyên nhân: Năm 2007- 2008, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, đáng chú ý là khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cầu tài sản tăng vọt, nói  lỏng cung tiền tệ làm cho lạm phát tăng cao=> Chính Phủ thực hiện chính sách thắt  chặt tiền t - Phân tích thực trạng sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.
guy ên nhân: Năm 2007- 2008, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, đáng chú ý là khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cầu tài sản tăng vọt, nói lỏng cung tiền tệ làm cho lạm phát tăng cao=> Chính Phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền t (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w