Lượng và chất là hai mặt cơ bản của mọi sự vật hiện tượng. Trong bản thân sự vật thì hai mặt này luôn tác động qua lại, ở nột mức độ nào đó, làm cho sự vật phát triển. Khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng trong sự vật chưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ. Chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sự thay đổi về chất thì độ bị phá vỡ và sự vật phát triển sang một giai đoạn mới, khác hẳn về chất. Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển không ngừng. Việc tích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của sự vật. Vì thế, dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy về lượng của sự vật cũng sẽ đến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sự vật thay đổi về căn bản. Thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút. Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI -
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI : TRÌNH BÀY QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT VÀO VỊ TRÍ CÔNG VIỆC THANH TRA, KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn :
Trang 2Thomas Edison
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được đề tài tiểu luận này, trước hết tôi xin trân thành cảm ơnThầy/cô……….đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý giá về môn triếthọc nói chung và các quy luật nói riêng, trong đó có quy luật lượng chất Giúptổi hiểu được nội dung và bản chất của quy luật Đây là cơ sở quan trọng để tôiứng dụng quy luật vào công việc của mình
Sau đó, tôi xin trân cảm ơn bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã đóng góp ýkiến để giúp tôi hoàn thành được bài tiểu luận
Tôi xin trân thành cảm ơn
Học viên
Họ và tên học viên
Trang 4Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện vàkhông vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Học viên
Họ và tên học viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT 2
1.1 Khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm “Chất” 2
1.1.2 Khái niệm “Lượng” 3
1.2 Nội dung quy luật lượng và chất 4
1.3 Ý nghĩa của Phương pháp luận 7
1.3.1 Ý nghĩa trong nhận thức 7
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 8
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO VỊ TRÍ CÔNG VIỆC THANH TRA, KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG 9
2.1 Mô tả vị trí công việc 9
2.2 Vận dụng quy luật lượng chất vào vị trí công việc của bản thân 11
2.3 Các định hướng phát triển công việc của bản thân dựa trên quy luật lượng chất 15
KẾT LUẬN 19
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất là phạm trù triếthọc dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhấthữu cơ những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác Lượng
là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt sốlượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như cácthuộc tính của sự vật
Lượng và chất là hai mặt cơ bản của mọi sự vật hiện tượng Trong bảnthân sự vật thì hai mặt này luôn tác động qua lại, ở nột mức độ nào đó, làm cho
sự vật phát triển Khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng trong sự vậtchưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ Chỉ trong trườnghợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sự thay đổi về chất thì độ
bị phá vỡ và sự vật phát triển sang một giai đoạn mới, khác hẳn về chất
Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển khôngngừng Việc tích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của
sự vật Vì thế, dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy về lượng của
sự vật cũng sẽ đến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sự vật thay đổi về cănbản Thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm thay đổi về chất của
sự vật gọi là điểm nút Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước
đó gây ra gọi là bước nhảy
Vận dụng quy luật này vào thực tế khá phong phú Bài tiểu luận đượcthực hiện nhằm xác định và đánh giá được những vận dụng về quy luật lượngchất vào thực tiễn công việc thanh tra, kiểm soát thị trường và được kết cấuthành 2 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quy luật lượng chất
Chương 2 Vận dụng quy luật lượng chất và vị trí công việc Thanh tra,kiểm soát thị trường
Trang 7sự thay đổi về chất và ngược lại.
1.1.1 Khái niệm “Chất”
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn cócủa sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nóchứ không phải là cái khác
Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nênchính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác
Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tốcấu thành sự vật,… Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh rahoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó Tuy nhiên nhữngthuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tácđộng qua lại với các sự vật, hiện tượng khác Chúng ta chỉ có thể biết nhiệt độcao hay thấp của không khí thông qua sự tác động qua lại của nó với cơ quanxúc giác của chúng ta Chất của một người cụ thể chỉ được bộc lộ thông quaquan hệ của người đó với những người khác, với môi trường xung quanh, thôngqua lời nói và việc làm của người ấy Như vậy, muốn nhận thức đúng đắn vềnhững thuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sựvật đó với bản thân chúng ta hoặc thông qua quan hệ, mối liên hệ qua lại của nóvới các sự vật khác nhau
Trang 8Nhưng thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các
sự vật khác Bởi vậy, sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộctính không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối Trong mối liên hệ cụ thể này,thuộc tính này là thuộc tính cơ bản thể hiện chất của sự vật, trong mối liên hệ cụthể khác sẽ có thêm thuộc tính khác hay thuộc tính khác là thuộc tính cơ bản.Trong mối quan hệ với động vật thì các thuộc tính có khả năng chế tạo, sử dụngcông cụ, có tư duy là thuộc tính cơ bản của con người còn những thuộc tínhkhác không là thuộc tính cơ bản Song trong quan hệ giữa những con người cụthể với nhau thì những thuộc tính của con người về nhân dạng, về dấu vân tay,
… lại trở thành thuộc tính cơ bản
Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tốtạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa làbởi kết cấu của sự vật Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tốnhư nhau, song chất của chúng lại khác Ví dụ, kim cương và than chì đều cócùng thành phần hóa học do các nguyên tố các bon tạo nên, nhưng do phươngthức liên kết giữa các nguyên tử các bon là khác nhau, vì thế chất của chúnghoàn toàn khác nhau Kim cương rất cứng, còn than chì lại mềm Trong một tậpthể nhất định nếu phương thức liên kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể đó
có thể trở nên vững mạnh, hoặc sẽ trở thành yếu kém, nghĩa là chất của tập thểbiến đổi Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc cả vào sựthay đổi các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữacác yếu tố ấy
1.1.2 Khái niệm “Lượng”
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật
về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũngnhư các thuộc tính của sự vật
Trang 9Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó,
chưa làm cho nó khác với những cái khác Lượng tồn tại cùng với chất của sựvật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít,quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,… Trongthực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thểnhư vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây, một phân tử nước baogồm hai nguyên tử hyđrô liên kết với một nguyên tử ôxy,… bên cạnh đó cónhững lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độtri thức khoa học của một người, ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một côngdân,… trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của
sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa Có những lượng biểu thịyếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tử hợp thànhnguyên tố hóa học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội), có nhữnglượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiềucao của sự vật)
Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Có nhữngtính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệkhác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại Chẳng hạn, số lượng sinh viênhọc giỏi nhất định của một lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó Điềunày cũng có nghĩa là dù số lượng cụ thể quy định thuần túy về lượng, song sốlượng ấy cũng có tính quy định về chất của sự vật
Trang 101.2 Nội dung quy luật lượng và chất
Về quy luật lượng - chất, Ăngghen nêu: “Trong giới tự nhiên, thì những
sự biến đổi về chất - xảy ra một cách xác định chặt chẽ đối với từng trường hợp
cá biệt - chỉ có thể có được do thêm vào hay bớt đi một số lượng vật chất hay vận động (hay là năng lượng như người ta thường nói)”
Ăngghen giải thích như sau: “Tất cả những sự khác nhau về chất trong giới tự nhiên đều dựa hoặc là trên thành phần hoá học khác nhau, hoặc là trên những số lượng hay hình thức vận động (năng lượng) khác nhau, hoặc như trong hầu hết mọi trường hợp, đều dựa trên cả hai cái đó Như thế là nếu không thêm vào hoặc bớt đi một số vật chất hay vận động, nghĩa là nếu không thay đổi một vật thể về mặt số lượng, thì không thể thay đổi được chất lượng của vật thể
ấy Dưới hình thức ấy, luận đề thần bí của Hêghen không những đã trở nên hoàn toàn hợp lý mà thậm chí còn khá hiển nhiên nữa”.
Qua nhiều thí dụ về vật lý học và hoá học thời đó, Ăngghen vạch rõ khoahọc tự nhiên luôn luôn chứng thực những sự chuyển hoá lượng thành chất:
“Trong vật lý học, người ta coi các vật thể là những cái gì không biến hoá hoặc không khác biệt về mặt hoá học; ở đây, chúng ta có những sự biến hoá của trạng thái phân tử của các vật thể, và có sự biến đổi hình thái của vận động, sự biến đổi này, trong mọi trường hợp - ít nhất là ở một trong hai mặt - đều làm cho các phân tử hoạt động Ở đây mọi sự biến hoá đều là sự đổi lượng thành chất, là kết quả của sự biến đổi về lượng của số lượng vận động - vận động bất
kỳ dưới hình thức nào - cố hữu của vật thể ấy hoặc được truyền cho vật thể ấy”.
Như đã phân tích ở trên, lượng là phạm trù triết học được dùng để chỉ tínhquy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô trình độ của sự vận động vàphát triển cũng như là các thuộc tính khác đã cấu thành lên sự vật
Đặc trưng của lượng sẽ được biểu thị bằng con số hoặc các đại lượng chỉkích thước dài hoặc ngắn, quy mô, tổng số hay trình độ Nhưng đối với các
Trang 11Chất chính là chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, được coi là
sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vậy là nó chứ không phảinhững sự vật khác
Từ đó có thể thấy chất và thuộc tính không thể đồng nhất với nhau Bởimỗi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng rất nhiều thuộc tính, nhưng những thuộctính này không thể cùng tham gia vào việc quy định chất như nhau, mà chỉ cónhững thuộc tính cơ bản nhất mới có thể quyết định được bản chất của sự vật
Do đó, chỉ khi nào những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vậtmới thay đổi theo, đồng nghĩa với việc khi các thuộc tính không cơ bản dù cóthay đổi hay không thì cũng không làm biến đổi bản chất của sự vật
Tuy nhiên các thuộc tính cũng như chất của sự vật sẽ luôn có mối quan hệ
cụ thể với nhau, vì vậy việc phân biệt này chỉ mang tính tương đối
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại ở một thể thống nhất bao gồm phần chất vàphần lượng Trong đó phần chất là phần tương đối ổn định còn phần lượng làphần thường xuyên có sự biến đổi
Sự biến đổi này của lượng sẽ tạo nên sự mâu thuẫn giữa lượng và chất.Trong một điều kiện nhất định đáp ứng được sự biến đổi về lượng, một sựvật, hiện tượng sẽ có sự biến đổi về lượng, đến một mức độ nhất định, nó sẽ phá
vỡ chất cũ Lúc này mâu thuẫn giữa lượng và chất được giải quyết, chất mớiđược hình thành với một lượng mới Tuy nhiên bản chất của lượng là vận độngnên nó sẽ không đứng yên mà sẽ tiếp tục vận động đến một thời điểm nào đó nó
sẽ làm phá vỡ chất hiện tại
Quá trình vận động giữa hai mặt Lượng và chất tác động với nhau qua haimặt: Chúng tạo nên sự vận động liên tục và không dừng lại Lượng sẽ biến đổi
Trang 12dần dần và tạo nên chất mới, hay nói cách khác, lượng biến đổi dần dần và tạonên bước nhảy vọt Sau đó chúng tiếp tục biến đổi dần và tạo nên bước nhảy vọttiếp theo.
Nói một cách ngắn gọn thì nội dung quy luật lượng chất là bất cứ một sựvật, hiện tượng nào cũng đều vận động và phát triển
Biến đổi về lượng đến một mức nhất định sẽ dẫn đến biến đổi về chất, sảnsinh chất mới Rồi trên nền tảng của chất mới lại bắt đầu biến đổi về lượng Biếnđổi về lượng là nền tảng và chuẩn bị tất yếu của biến đổi về chất Biến đổi vềchất là kết quả tất yếu của biến đổi về lượng Quy luật biến đổi về chất và lượngcho thấy trạng thái và quá trình phát triển của sự vật
Theo Mac – Lê nin thì chất và lượng là hai mặt đối lập, bản chất của chấtthì tương đối ổn định, ngược lại thì lượng thường xuyên biến đổi Tuy nhiênchúng lại không thể tách rời nhau, đổi lại giữa chúng đều luôn có sự tác độngqua lại lẫn nhau
Sự thống nhất này được xác định trong một độ nhất định khi sự vật đangtồn tại Trong đó độ là một phạm trù của triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữalượng và chất, được biểu thị ở mức độ sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi
cơ bản về chất của sự vật đó
Đổi lại khi sự vật mới được hình thành thì từ chất mới thì sẽ có một lượngmới phù hợp, từ đó tạo nên sự thống nhất mới giữa lượng và chất, sự tác độngnày được hiểu thông qua quy mô, nhịp điệu phát triển mới của lượng
1.3 Ý nghĩa của Phương pháp luận
Trang 13Cần phải làm rõ quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng bằng cách xácđịnh giới hạn độ, điểm nút, bước nhảy Quá trình vận động và phát triển của sựvật diễn ra theo chiều hướng tích lũy về lượng đến một giới hạn nhất định, sau
đó sẽ chuyển hóa về chất Từ đó đã rút ra được những tư tưởng mang tính địnhhướng, hạn chế được tư tưởng chủ quan, duy ý chí trong việc thực hiện nhữngbước nhảy vọt
Trong quá trình hoạt động thì con người luôn vận dụng linh hoạt các hìnhthức khác nhau Và sự vận dụng này tùy thuộc vào việc phân tích đúng đắnnhững điều kiện khách quan tùy vào từng trường hợp cụ thể
Mặt khác, xã hội loài người đang càng ngày phát triển, đa dạng theo chiềuhướng tích cực do rất nhiều yếu tố tác động thành, từ đó ta cần thực hiện đổimới thành công trên từng lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội để tạo ra cácbước nhảy về chất
Do đó để có thể thực hiện các bước nhảy vọt thì trước hết phải thực hiệncác bước nhảy cục bộ để làm thay đổi từng yếu tố của chất
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Muốn có sự biến đổi về chất thì cần kiên trì để biến đổi về lượng (baogồm độ và điểm nút);
Cần tránh hai khuynh hướng sau:
Một là, nôn nóng tả khuynh: Đây là việc mà một cá nhân không kiên trì
và nỗ lực để có sự thay đổi về lượng nhưng lại muốn có sự thay đổi về chất;
Hai là, bảo thủ hữu khuynh: Lượng đã được tích lũy đến mức điểm nút
nhưng không muốn thực hiện bước nhảy để có sự thay đổi về chất
- Nếu không muốn có sự thay đổi về chất thì cần biết cách kiểm soátlượng trong giới hạn độ
- Bước nhảy là một giai đoạn hết sức đa dạng nên việc thực hiện bướcnhảy phải được thực hiện một cách cẩn thận
Trang 14Chỉ thực hiện bước nhảy khi đã tích lũy lượng đến giới hạn điểm nút vàthực hiện bước nhảy một cách phù hợp với từng thời điểm, điều kiện và hoàncảnh cụ thể để tránh được những hậu quả không đáng có như không đạt được sựthay đổi về chất, dẫn đến việc phải thực hiện sự thay đổi về lượng lại từ đầu
Trang 15CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO VỊ TRÍ CÔNG VIỆC THANH TRA, KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG
2.1 Mô tả vị trí công việc
Hiện tại Học viên đang thực hiện công việc Thanh tra, kiểm soát thịtrường tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Hà Nam Với các công việc thực hiện chủyếu như sau:
- Được giao trách nhiệm kiểm tra; kiểm soát việc thi hành pháp luật tronghoạt động thương mại ở thị trường trong nước Khi thừa hành công vụ phải tuânthủ pháp luật và quy chế công tác về quản lý thị trường; chịu trách nhiệm vềhoạt động của mình
– Khi thấy có dấu hiệu vi phạm thì công chức làm công tác kiểm soát thịtrường được quyền:
+ Yêu cầu tổ chức và cá nhân liên quan cung cấp tình hình số liệu; tài liệucần thiết có liên quan đến việc kiểm tra
+ Được kiểm tra hiện trường nơi sản xuất, nơi cất dấu hàng hoá, tang vật
vi phạm
+ Thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy mẫu sản phẩm hàng hóa, tang vật,phương tiện có dấu hiệu vi phạm, trưng cầu giám định, kiểm nghiệm mẫu vật làhàng hóa, tài liệu, giấy tờ, vật chứng liên quan đến vi phạm pháp luật của tổchức, cá nhân;
+ Lập biên bản vi phạm hành chính; quyết định áp dụng; hoặc đề nghị cơquan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính theo quy định;
xử lý vi phạm theo thẩm quyền; hoặc chuyển giao cơ quan Nhà nước có thẩmquyền để xử lý các vi; phạm pháp luật trong hoạt động thương mại
– Được trang bị; sử dụng vũ khí; công cụ hỗ trợ; và các phương tiệnchuyên dùng khác theo quy định của pháp luật (kể cả ô tô; xe mô tô phân khốilớn; thiết bị thông tin liên lạc) để làm nhiệm vụ kiểm tra