ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN NGUYỄN HOÀNG HÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN TRONG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG Daklak 2019 1 ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN HOÀNG HÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN TRONG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững (Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC T S NGÔ BẢO AN Daklak 2019 2 Danh mục c.
Trang 1ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-NGUYỄN HOÀNG HÀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN
TRONG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Daklak- 2019
1
Trang 2ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-NGUYỄN HOÀNG HÀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN
TRONG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC T.S NGÔ BẢO AN
Daklak- 2019
2
Trang 3Danh mục các bảng, sơ đồ.
Bảng 1.1 Số lượng khách tham quan VQG YOK ĐÔN 2010 - 2019 23Bảng 3.1 Các thông số khí hậu – khí tượng từ các trạm 36Bảng 3.2 Tổng lượng nước chảy mùa lũ và mùa kiệt 38
4 Bản đồ tuyến du lịch sinh thái VQG Yok Đôn 78,81
Trang 5Quỹ bảo tồn Việt nam
Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Nhật Bản
Trang 6Mục lục
MỞ ĐẦU 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 15
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16
4 KẾT QUẢ MONG ĐỢI CỦA ĐỀ TÀI 16
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 16
Chương 1 17
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 17
1.1 Khái niệm về DLST, nguyên tắc và quan điểm phát triển DLST ở các vườn quốc gia 17
1.1.1 Khái niệm 17
1.1.2 Nguyên tắc cơ bản phát triển Du Lịch Sinh Thái 21
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 22
1.1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái 23
1.1.5 Phát triển du lịch sinh thái ở các Vườn Quốc gia 24
1.1.6 Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái 25
a Thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên thế giới 25
b Các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình Du lịch Sinh thái ở các VQG trên thế giới 29
c Thực trạng Du lịch sinh thái ở các VQG của Việt Nam 30
d Thực trạng du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Yok Đôn 33
Chương 2 35
Trang 7ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Địa điểm, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Quan điểm nghiên cứu 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 38
Chương 3 40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Tiềm năng hiện trạng phục vụ DLST 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên VQG YOK ĐÔN 40
a Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích 40
c Địa chất và thổ nhưỡng 45
3.1.2 Khí hậu thuỷ văn 46
3.2 Dân sinh kinh tế 49
3.2.1 Kinh tế hộ gia đình 49
3.2.2 Kinh tế trang trại 50
3.2.3 Kinh tế hợp tác xã 52
3.3 Vai trò VQG YOK ĐÔN đối với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường vùng đồng bằng Bắc Bộ và Việt Nam 53 3.3.1 Vườn quốc gia YOK ĐÔN trong bối cảnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ53
3.3.2 Vai trò của VQG YOK ĐÔN đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh
Trang 83.3.3 Vai trò đối với môi trường 55
3.5 Hệ thực vật 66
3.6.Hệ động vật Vườn quốc gia YOK ĐÔN 68
3.6.1 Tính đa dạng loài của hệ động vật YOK ĐÔN 69
3.6.2 Động vật đặc hữu và quý hiếm 71
3.9 Sự cần thiết về việc đề xuất phát triển DLST ở VQG Yok Đôn 78
Chương 4 83
ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DLST Ở VQG YOK ĐÔN 83
4.1 Nguyên tắc chung phát triển DLST ở VQG YOK ĐÔN 83
4.2 Định hướng phát triển DLST ở VQG Yok Đôn 84
4.2.1 Định hướng phát triển các sản phẩm DLST 85
4.2.2 Định hướng về thị trường 86
4.2.4 Đề xuất các hoạt động tuyên truyền GDMT, nâng cao nhận thức bảo tồn ĐDSH 92
4.2.5 Định hướng các hoạt động khuyến khích người dân tham gia 95
4.3 Ảnh hưởng qua lại giữa DLST, cộng đồng dân cư và bảo tồn 96
4.3.1 Những tác động tích cực của DLST đến cộng đồng địa phương 96
4.3.2 Những nguy cơ và biện pháp giảm thiểu 98
10
Trang 94.3.3 Dự báo nguy cơ đối với công tác bảo tồn 100
4.4 Đề xuất giải pháp thực hiện 101
4.4.1 Giải pháp nhằm bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học 101
4.4.2 Giải pháp phát triển DLST ở VQG Yok Đôn 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Giá trị Đa dạng sinh học là không thể thay thế được đối với sự tồn tại và pháttriển của Thế giới sinh học trong đó đặc biệt là con người Do vậy Bảo tồn đa dạngsinh học đang ngày càng trở nên cấp thiết và có thể nói là vấn đề quan tâm của toàn xãhội và đặc biệt đối với các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên, vì đây là nơitrực tiếp tham gia thực hiện công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quảnhất
Việt Nam là một quốc gia được các nhà khoa học đánh giá có tính đa dạng sinhhọc cao Nhưng hiện nay với tốc độ phát triển của mọi ngành nghề, cùng với nền kinh
tế thị trường đang làm cho đất nước ngày một giàu mạnh, mức sống mỗi người ngàyđược nâng cao dẫn đến nhu cầu của con người ngày càng cao Tuy nhiên, các hoạtđộng phát triển này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính đa dạng sinh học của Việt Namnói chung và các vùng sinh thái trọng điểm nói riêng
Du lịch sinh thái được coi là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồnđồng thời Phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững Tại đại hội các Vườn Quốc giathế giới lần thứ V do IUCN tổ chức đã khẳng định “Du lịch Sinh thái ở trong và ngoàikhu bảo tồn là một phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng cường nhận thức về các giá trịquan trọng của Khu bảo tồn như giá trị sinh thái, văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí
và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinhthái và di sản văn hóa Du lịch sinh thái cũng đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sốngcho cộng đồng bản địa [6]
Trong những năm gần đây trong cuộc phát triển chung của xã hội, lĩnh vực dulịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Quantrọng nhất là việc du lịch sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đềtài để suy ngẫm Ngược lại, nó đã trở thành hướng phát triển mang tính thời sự trên
Trang 11toàn cầu Hơn lúc nào hết khi vấn đề phát triển kinh tế xã hội hiện nay đang được đặt ratrên quan điểm phát triển bền vững, thì việc phát triển du lịch sinh thái được xem làmột công cụ hiệu quả đáp ứng được mục tiêu là phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạngsinh học, bảo vệ môi trường.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và pháttriển bền vững Ở CốstaRica và Nê Pan, Thái Lan… một số chủ trang trại chăn nuôi đãbảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đã biếnnhững nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tựnhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương Ecuado sử dụngkhoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galapze để giúp duy trì toàn bộ mạng lướiVườn quốc gia Tại Nam Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả đểnâng cao mức sống của người da đen ở nông thôn, những người da đen này, ngày càngtham gia nhiều vào các hoạt động du lịch sinh thái; Chính phủ Nhật Bản cũng tích cựckhuyến khích phát triển du lịch sinh thái với những chính sách rõ ràng, thành lập cácđơn vị chuyên trách và các quỹ nhằm duy trì và phát triển nghành Du lịch hướng tớithiên nhiên để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia.Theo Báo cáo về Xu hướng du lịch của khách du lịch Nhật Bản do Công ty Giao thôngNhật Bản thực hiện vào năm 2004, loại hình du lịch được khách du lịch Nhật Bản ưathích nhất là du lịch tắm suối nước nóng (chiếm 57,9 % số người được hỏi) Xếp thứ 2
là du lịch hướng tới thiên nhiên (45,7%) Nhận thức về du lịch sinh thái của người dâncũng cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây[9]
Tại Úc và Niu zi lân, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào hạng dulịch sinh thái Đây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao trong nền kinh tế của cảhai nước Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi Việt Nam
có những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế và giao lưu quốc tế cho sự phát triển du lịchphù hợp với xu thế của thế giới và khu vực Tại Việt Nam, du lịch đang dần dần trở
Trang 12thành ngành kinh tế quan trọng và trong tương lai gần hoạt động du lịch được coi như
là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước Việt Nam làđất nước có nhiều tiềm năng về nguồn lực du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn Kháchnước ngoài đến Việt Nam đều đánh giá cao vẻ đẹp đất nước ta Hàng loạt các địa danh
có thể sử dụng phục vụ khách du lịch, bên cạnh đó nhiều điểm vẫn còn chưa được khaithác Thật khó mà liệt kê hết tất cả những điểm có sức thu hút khách Cùng với sự pháttriển của du lịch nói chung, trong những năm gần đây du lịch sinh thái Việt Nam cũngphát triển nhanh chóng Mặc dù Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịchsinh thái, xong cho đến nay thì chúng ta vẫn chưa khai thác được nhiều những tiềmnăng này và du lịch sinh thái chưa được phát triển xứng tầm với tiềm năng vốn có vàđang đứng trước nhiều thách thức to lớn
Vườn quốc gia Yok Don nằm trên địa bàn 7 xã thuộc 3 huyện: Xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, xã Ea Bung, Chư M'Lanh huyện Ea Súp (tỉnh Đắk Lắk) và xã Ea Pô huyện Cư
Jút (tỉnh Đăk Nông); vườn cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 40 km về phía tây bắc Vườn quốc gia Yok Don được phê duyệt theo quyết định số 352/CT ngày 29 tháng
10 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam với mục đích bảo vệ 58.200 ha hệ sinh thái rừng khộp đất thấp Ngày 24 tháng 6 năm 1992 Bộ Lâm nghiệp ra quyết định 301/TCLĐ thành lập Vườn quốc gia Yok Don trực thuộc Bộ Lâm nghiệp Vườn quốc gia Yok Don được mở rộng theo quyết định số 39/2002/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Thủtướng Chính phủ Việt Nam
Toạ độ địa lý: Từ 12°45′ đến 13°10′ vĩ bắc và từ 107°29′30″ đến 107°48′30″ kinh đông Quy
mô diện tích: Được mở rộng với diện tích 115.545 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 80.947 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 30.426 ha và phân khu dịch vụ hành chính
là 4.172 ha Vùng đệm: có diện tích 133.890 ha, bao gồm các xã bao quanh Vườn quốc gia.Vườn nằm trên một vùng tương đối bằng phẳng, với hai ngọn núi nhỏ ở phía nam của sông Serepôk Rừng chủ yếu là rừng tự nhiên, phần lớn là rừng khộp Yok Don cũng là vườn quốc gia duy nhất ở Việt Nam bảo tồn loại rừng đặc biệt này
Ranh giới của vườn quốc gia này như sau:
Phía bắc theo đường tỉnh lộ 1A từ ngã ba Chư M'Lanh qua đồn biên phòng số 2 đến biên giới Việt Nam-Campuchia
Phía tây giáp biên giới Việt Nam-Campuchia
Phía đông theo tỉnh lộ 1A từ ngã ba Chư M'Lanh đến Bản Đôn, ngược dòng sông Serepôk đến giáp ranh giới huyện Cư Jút
Phía nam giáp huyện Cư Jút và cắt đường 6B tại Km 22+500, theo đường 6B đến
Trang 13Đa dạng sinh học
Nơi đây có 89 loài động vật có vú, 305 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư, 858 loài thực vật, hàng trăm loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài côn trùng Vườn có voi
rừng, trâu rừng và bò tót, báo gấm, báo hoa mai, lợn rừng,
Đây là nơi trú ngụ của một số loài động vật nguy cấp mang tính toàn cầu như: bò xám (Bos
banteng (Bos javanicus), voi châu Á (Elephas maximus), hổ (Panthera tigris), sói đỏ (Cuon
các kết quả nghiên cứu cho thấy vườn quốc gia Yok Đôn là một trong những nơi có khu hệ chim phong phú nhất Đông Dương[cần dẫn nguồn]
Các vấn đề
Ngành lâm nghiệp, chính quyền các cấp và ban quản lý vườn quốc gia Yok Don có nhiều nỗlực trong quản lý bảo tồn đa dạng sinh học của vườn nhưng vẫn phải đối mặt với trạng săn bắt, xâm lấn đất đai và nguy cơ cháy rừng Bên cạnh đó, xung quanh vườn còn tồn tại nhiều khu rừng rộng lớn, trong đó phần lớn được giao để khai thác gỗ thương phẩm do các lâm trường quốc doanh quản lý
Kế hoạch Hành động khẩn cấp bảo tồn voi rừng
Do ngày càng trầm trọng, nên ngày 14-12-2016, Quỹ quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam và Vườn quốc gia Yok Don khởi động kế hoạch Hành động khẩn cấp bảo tồn voi rừng Yok Don giai đoạn 2016-2020, nhằm hạn chế nguy cơ tuyệt chủng một số loài có trong danh sách đỏ trong nước, đặc biệt là loài voi rừng Tây Nguyên Số liệu quan sát cho thấy Tây nguyên hiện có đàn voi rừng lớn nhất với khoảng 70 con, trong tổng số khoảng 100 con trên cả nước Từ năm 2009 đến nay có ít nhất 23 cá thể, chủ yếu là voi con dưới một tuổi, ở Đắk Lắk bị chết Trong khi đó tình trạng săn bắn voi
để lấy ngà, phá rừng làm rẫy đe dọa trực tiếp đến không gian sinh sống, dẫn tới nguy cơ tuyệt chủng của đàn voi rừng tại đây
Do vậy chúng ta cần chung tay bảo vệ rừng Yok đôn và các muôn loài ở đó
14
Trang 14Đây chính là những tiềm năng to lớn để phục vụ cho du lịch sinh thái mà ít nơi cóđược, xong cho đến nay Vườn quốc gia YOK ĐÔN vẫn chưa có quy hoạch du lịch sinhthái cụ thể, mặc dù đã có trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trườngnhưng trung tâm này vẫn chưa khai thác được hết tiềm năng về du lịch sinh thái củaVườn, do vậy du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia YOK ĐÔN còn nhiều hạn chế, chưathu hút được nhiều khách đến tham quan, nghỉ mát và đóng góp cho công tác bảo tồn
đa dạng sinh học của Vườn Chính vì những lý do trên, Tôi đã quyết định chọn đề tài
nguyên cứu: “ Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia YOK ĐÔN trong bảo tồn
đa dạng sinh học”.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
a Mục tiêu tổng thể: Nghiên cứu, xây dựng giải pháp phát triển du lịch sinh thái nhằmphục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư thuộc các xã vùng đệm Vườnquốc gia Yok Đôn
b Mục tiêu cụ thể:
- Tổng quan một số vấn đề về du lịch sinh thái trên thế giới và Việt Nam
- Đánh giá tài nguyên Du lịch sinh thái Vườn quốc gia Yok Đôn
- Xây dựng và đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc giaYok Đôn
- Xác định được một số ảnh hưởng qua lại giữa du lịch sinh thái với bảo tồn đadạng sinh học ở Vườn quốc gia Yok Đôn
15
Trang 153 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu được thực hiện trong khu vực VQG Yok Đôn
- Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá các điều kiện tự nhiên (đa dạngsinh học, cảnh quan), văn hóa lịch sử ở VQG YOK ĐÔN và điều kiện kinh tế, xã hộivùng đệm Từ đó đề xuất định hướng phát triển DLST hỗ trợ cho nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học
4 KẾT QUẢ MONG ĐỢI CỦA ĐỀ TÀI
- Đề xuất được định hướng phát triển DLST nhằm hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn
đa dạng sinh học ở VQG Yok Đôn
- Xác định được một số ảnh hưởng qua lại giữa DLST, bảo tồn đa dạng sinh học
và cộng đồng dân cư vùng đệm của VQG Yok Đôn , từ đó nêu lên các vấn đề cần quantâm khi phát triển DLST ở VQG Yok Đôn
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
a.Ý nghĩa khoa học:
+ Đây là nghiên cứu đầu tiên về Du lịch sinh thái ở VQG Yok Đôn
+ Kết quả của đề tài là đưa ra được đề xuất về phát triển du lịch sinh thái ở VQGYOK ĐÔN nhằm tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học
+ Đưa ra giải pháp, kiến nghị dung hòa được mâu thuẫn của người dân và công tác bảo tồn
b Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài là một sản phẩm có giá trị thực tiễn có khả năng áp dụng triển khai phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học ở VQG Yok Đôn
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày gồm có các phần; Mở đầu, mục đích, ý nghĩa, phạm vi nghiên cứu, tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu và thảo luận, đề xuất phát triển du
Trang 16lịch sinh thái ở VQG Yok Đôn , tài liệu tham khảo và phụ lục Cấu trúc chính của luận văn được trình bày trong 4 chương cụ thể như sau: Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, phạm vi, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Đề xuất phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Yok Đôn Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Khái niệm về DLST, nguyên tắc và quan điểm phát triển DLST ở các
vườn quốc gia.
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực sự đã
có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược vàchính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thếgiới Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này,điển hình như:
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái,định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đếnnhững khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt:nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã,
Trang 17cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong nhữngkhu vực này" (trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn)[16].
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, cóliên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được quản lý bềnvững về mặt sinh thái”[10]
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ ( 1998) “DLST là du lịch có mục đích với các khu tựnhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biếnđổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệnguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” [16].Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khuvực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại
và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nótrực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nókhuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”[6]
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốcgia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái làhình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tácđộng tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích vềtài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”[6]
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái "là một loạihình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho nhữngkhách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu
về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh
tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyêntruyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”[10]
Trang 18Luật du lịch (2005), định nghĩa “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vàothiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằmphát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại cácVườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm
2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu “ là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắnvới bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phươngnhằm phát triển bền vững”
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì
“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường vàcải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [6]
Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các khu bảo tồn và Vườn quốcgia là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lịch sinhthái
Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặchữu, cuộc sống hoang dã phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa hình hùng
vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tựnhiên Những yếu tố này sẽ làm lợi cho các đơn vị tổ chức du lịch sinh thái và cộngđồng địa phương do vậy các yếu tố này sẽ được bảo vệ tốt, chính đây là mối quan hệgiữa du lịch và các Khu bảo tồn và Vườn quốc gia
Ở Việt Nam nói chung và ở Vườn quốc gia nói riêng, một yếu tố gây hấp dẫn chokhách du lịch đó là những thông tin về Đa dạng sinh học, những phát hiện mới về cácloài động thực vật và những cảnh đẹp thiên nhiên Tuy nhiên cũng phải khẳng địnhrằng các khách đến với các khu bảo tồn và Vườn quốc gia không hẳn là khách Du lịchsinh thái, mà họ chỉ có những sở thích về muốn khám phá cảnh đẹp, do vậy họ chỉ lưulại những khu vực này với thời gian rất ngắn, họ không muốn có những trải nghiệmthực sự với thiên nhiên Nhưng không là quan trọng miễn là chúng ta có cách quản lý
Trang 19tốt, họ cũng là những nguồn thu lợi hiệu quả góp phần vào cho việc bảo tồn và cảithiện sinh kế cho người dân ở đây như một giải pháp trước mắt, nhưng đó không phải
là đối tượng chính của hoạt động du lịch sinh thái Mà các hoạt động du lịch sinh thái ởđây phải được xây dựng bám sát định nghĩa về du lịch sinh thái Nhằm đảm bảo rằngphát triển du lịch sinh thái không làm tổn hại đến Vườn quốc gia và tăng nguồn thunhập một cách bền vững cho cộng đồng địa phương bằng các hoạt động du lịch sinhthái
Hiện nay DLST đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tồn thiênnhiên và phát triển cảnh quan, các mục tiêu của DLST có liên quan đến các khu bảotồn thiên nhiên là: [6]
- Sự tương thích về mặt sinh thái và văn hóa của phát triển du lịch là một điều kiện quan trọng
- Phát triển Du lịch phải hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn ở các khu BTTN vàVQG
- Tạo thu nhập cho người dân địa phương
- Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi người chấp nhận bảo tồn thiên nhiên là một kết quả gián tiếp của các tác động kinh tế
Du lịch sinh thái là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phương và cácKBTTN & VQG Đó cũng là một hợp phần lý tưởng của chiến lược phát triển bềnvững trong đó tài nguyên thiên nhiên được sử dụng như một yếu tố thu hút khách dulịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực Là một công cụ quan trọngtrong quản lý các KBTTN & VQG Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo được pháttriển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Với rất nhiều khái niệm khác nhau song chúng ta có thể biểu diễn DLST bằng sơ
đồ sau:
Trang 20DU LỊCH
DU LỊCH HỖ TRỢ
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TỰ
DU LỊCH
DLS T
MÔI TRƯỜNG
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc Du lịch Sinh thái [16]
Như vậy DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa củacộng đồng địa phương, được thiết kế mang tính giáo dục môi trường cao Nhằm manglại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương và công tác bảo tồn, trong đó phát huy
sự tham gia của cộng đồng địa phương
1.1.2 Nguyên tắc cơ bản phát triển Du Lịch Sinh Thái
Những nguyên tắc đảm bảo trong du lịch sinh thái không chỉ cho các nhà quyhoạch, quản lý tổ chức, điều hành du lịch mà cho cảc hướng dẫn vi ên, cộng đồng dânđịa phương.[15]
- Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiểu tự nhiên và con người Đây chính là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động DLST
Trang 21- Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ởcác Vườn Quốc gia, khu bảo tồn nói chung Cụ thể là DLST phải
21
Trang 22được tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trường cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
- Hỗ trợ kinh tế địa phương, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộngđồng dân địa phương, những người có quyền làm chủ cho sự phát triển và trong côngtác hoạch định du lịch
Xuất phát từ những khái niệm về DLST ở trên chúng ta có thể thấy để phát triểnDLST cần phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản trên Nếu các hoạt động du lịch màkhông đáp ứng được các tiêu chí trên thì không thể xem là DLST
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
Các hoạt động DLST khác với các loại hình du lịch khác ở các đặc trưng chủyếu sau: [16]
* Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng của DLST là những khu vựchấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả nhữngnét văn hoá bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít
bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người Chính vì vậy, hoạt động DLSTthường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các Vườn quốc gia và các khu Bảo tồn tựnhiên
* Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLSTtrong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho dulịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngược trở lại môitrường DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoàinhững lợi ích về văn hoá-xã hội Sự đóng góp về tài chính với một phần chi phí trongchuyến đi của du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 23* DLST gắn liền với giáo dục môi trường: Đặc điểm GDMT trong DLST là mộtyếu tố cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác Giải thích và GDMT
là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh nghiệm du lịch thú vị vànâng cao kiến thức và sự trân trọng môi trường cho du khách, dẫn đến hành động tíchcực đối với bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của hoạt động DLST trongnhững khu tự nhiên
* Mang lại lợi ích cho địa phương: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi íchcho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực Cộng đồng địa phương chỉ cóthể tham gia vào những công việc vận hành DLST, trên phương diện cung cấp về kiếnthức, những kinh nghiệm thực tế, các dịch vụ, các trang thiết bị và các sản phẩm phục
vụ khách Những lợi ích này nhất thiết phải "nặng ký" hơn sự trả giá về môi trường vàvăn hoá-xã hội nảy sinh từ du lịch mà cộng đồng địa phương phải gánh chịu
* Thoả mãn nhu cầu về trải nghiệm du lịch cho du khách: Việc thoả mãn nhữngmong muốn của khách tham quan với những kinh nghiệm du lịch lý thú là cần thiết đốivới sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST, trong đó có một phần quan trọng là sự
an toàn cho du khách và phải thoả mãn hoặc vượt quá sự mong đợi của du khách
1.1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái.
Theo Drumm (2002) ( được trích trong Cẩm nang quản lý và phát triển DLST cụckiểm lâm năm 2004), thì những yếu tố dưới đây có vai trò quyết định đối với việc tổchức thành công hoạt động DLST: [6]
- Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của KBTTN và VQG
- Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan tổ chức phi chính phủ
- Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương
Trang 24- Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour tư nhân.
- Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của KBTTN
- Giáo dục những người tham gia về vai trò của họ trong công tác bảo tồn
1.1.5 Phát triển du lịch sinh thái ở các Vườn Quốc gia
Khái niệm Vườn Quốc gia
Vườn quốc gia là một khái niệm đã rất phổ biến trong hoạt động bảo tồn đadạng sinh học, hiện nay đang có nhiều khái niện khác nhau như: Tổ chức IUCN đã đưa
ra một định nghĩa về VQG [18]
Vườn Quốc gia là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:
- Ở đó có một hay nhiều hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai khác haychiếm lĩnh của con người Các loài thực vật - động vật, các đặc điểm sinh thái, địa mạo
và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là mối quantâm cho nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí
- Ở đó ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ càng nhanhcàng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cường sự tôn trọng những đặc trưng vềsinh thái, hình thái học và cảnh quan
- Ở đó cho phép các hoạt động khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, giải trí và lòng ngưỡng mộ
Vườn quốc gia ở việt nam được hiểu theo khoản 1 điều 13 quy chế quản lý rừngban hành theo quyết định 186/2006 của thủ tướng chính phủ [3]
Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng
Trang 25hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loàisinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.
Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và
hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái
Như vậy ở các Vườn quốc gia chính là mảnh đất màu mở cho các hoạt động dulịch sinh thái
1.1.6 Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái
a Thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên thế giới
Du lịch sinh thái đang dấy lên trong giới lữ hành và bảo tồn ngày một tăng,nguồn gốc của nó giống như sự tiến hóa hơn là một cuộc cách mạng Những du khách
lũ lượt kéo đến Vườn quốc gia Yellowstone và Yasemite cách đây hàng mấy thế kỷchính là những khách du lịch sinh thái đầu tiên Đến thế kỷ 20 đã chứng kiến sự thayđổi đầy kịch tính và liên tục của lữ hành thiên nhiên; với những trò chơi gây được sựquan tâm như: Săn Thú, Câu Cá cho đến thời đoạn ngày nay khách du lịch sinh tháithực sự đã có những hiểu biết hơn và phát triển ở mức cao hơn [8] Hiện nay nhiềuquốc gia phát triển Du lịch sinh thái trở thành một nghành công nghiệp chính đem lạinguồn thu quan trọng cho đất nước điển hình như: Một số nước châu phi; Nam Phi,Tanzania, và một số quốc gia khác như; Nê Pan, Úc, Thái Lan,
Kinh nghiệm hoạt động DLST ở các Vườn Quốc gia
* DLST ở VQG Galapagos [12]
Vườn Quốc gia Galapagos ở Equado không chỉ là một VQG mà còn là một disản thế giới, một khu dự trữ sinh quyển, và giờ đây còn là một khu dự trữ sinh tháibiển Về mặt vị trí thì VQG Galapagos nằm tách khỏi lục địa, Có môi trường phù hợpcho các loài sinh vật thích nghi như Rùa, Kỳ Đà, Chim Sẻ, Xương Rồng khổng lồ và
họ hàng hướng dương, Chim cốc không bay, Chim bói cá và còn rất nhiều giống động
Trang 26thực vật khác Những loài này mang những thông tin không gì sánh được trên thế giới
về quá khứ và tương lai
Galapagos có lẽ là một trong những nơi thuận lợi nhất trên thế giới để nghiêncứu về tiến hóa của hệ sinh thái Được thưởng thức những quang cảnh đại dương, venbiển và đất liền Nơi động vật hoang dã đã tiến hóa và như không có chút sợ hãi nàođối với con người đây chính là một cảm giác thật khó so sánh
Khác với các VQG khác ở Equado và các nước Châu Mỹ la tinh khác, nơi cóthể có người sống hợp pháp hoặc không hợp pháp trong phạm vi được bảo vệ, ngườidân ở Galapagos không được phép sống trong VQG Họ tập trung ở khoảng 4% diệntích của quần đảo trên đất thuộc sở hữu tư nhân Hầu hết khách tham quan từ đất liền đibằng máy bay đến các đảo, sau đó đi thăm thú bằng các tua du lịch được thiết kế sẵn
Sau mười năm đầu kể từ khi đón khách, chiến lược quản lý và hỗ trợ quản lýđầu tiên của VQG được thực hiện tương đối suôn sẻ với một số lượng nhỏ du khách vàphát triển liên tục trong những năm 1970 Từ ban đầu có 7000 khách tham quan đếnnăm 1973 là 12000 khách, năm 1981 là 25000 khách và năm 1989 đã thu hút gần
42000 khách Sau đó, sự sa sút của nền kinh tế khu vực đã dẫn đến việc giảm ngânsách của dịch vụ DLST ở VQG Galapagos Nhưng với những biện pháp hữu hiệu cộngvới sự hỗ trợ nỗ lực của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ môi trườngtoàn cầu đã làm vực lại sự phát triển DLST ở đây
Chuyến du lịch truyền thống ở đây là một chuyến đi chơi biển bằng tàu thủy kéodài một tuần đến các điểm du lịch khác nhau Những năm gần đây Galapagos phải tiếpngày càng tăng lượng khách tới thăm, Các nhà điều hành đã rất linh hoạt ngoài tour Dulịch truyền thống thì họ đã tổ chức các tour ngắn ngày hơn, thậm chí là 1 ngày, đểnhằm phù hợp hơn với các đối tượng khách khác nhau Nhìn chung các hoạt động ởđây đã đem lại lợi nhuận cao cho VQG Galapagos và cộng đồng người dân ở đây Hiện
có 6 Du thuyền, bốn tàu thủy (chở được từ 34 người đến 90 người), 75 thuyền máy lớn
Trang 27và 10 thuyên buồn những năm gần đây nhu cầu cấp phép hoạt động thuyền du lịch ởđây là rất lớn, đã có nhiều bất cập xảy ra trong hoạt động này song, Ban quản lý VQG
và chính phủ Equador đã có những điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế phù hợp số lượngthuyền hoạt động Với nguồn thu 40 $ lệ phí vào VQG và nguồn phí từ các hoạt độngcủa các nhà điều hành du lịch được dùng để phục vụ cho các hoạt động của Vườn và
hỗ trợ các hoạt động bảo tồn ở các khu bảo tồn khác ở Equador, đây là những đóng gópđáng kể mà không phải các VQG khác trên thế giới làm được Hiện nay thì Galapagosđang được coi là mỏ vàng của Equador
Một số kinh nghiệm của việc phát triển DLST ở VQG Galapagos:
- Các hoạt động dịch vụ VQG đã được tổ chức tập huấn cẩn thận và được cấpchứng nhận cho các hướng dẫn viên, các hướng dẫn viên này sẽ đi cùng với tất cả cácđoàn tham quan, vừa đóng vai trò hướng dẫn vừa kiểm soát các hoạt động không tốtcho môi trường của khách du lịch
- Phương tiện tham quan là đa phần bằng thuyền, các dịch vụ ăn nghỉ đều ở trênthuyền phần nào đã giảm tác động vào các khu vực tham quan của khách Khu thamquan thường ngắn và có ranh giới rõ ràng Các hành trình của chuyến tham quan đềuđược cố định và không được vào các khu vực chưa bị xâm nhập của các loài nhập nội
- Các phương tiện hoạt động dịch vụ ở VQG đều kiểm soát và cấp phép khá chặt
Trang 28tặng cho những điều kiện tuyệt vời cho các loài động, thực vật quý hiếm phát triểnnhư: loài Báo tuyết, Cừu xanh, hơn 100 chủng loại phong lan và một trong các khurừng Đỗ quyên lớn nhất thế giới Phần lớn dân cư sống ở đây là tá điền, sống dựa vàonguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong khu vực và phát triển các hệ thống quản lýtruyền thống của riêng họ.
Trong vòng hai thập kỷ qua các hoạt động du lịch được triển khai ở vùng này vàphát triển một cách chóng mặt đã làm nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây bị khai tháctới mức giới hạn và KBT đã rơi vào bờ vực của sự khủng hoảng
Hằng năm có hơn 36.000 khách ưu mạo hiểm đã tới Annapurna, để chiêmngưỡng vẻ đẹp của phong cảnh và thưởng thức sự độc đáo của các bản sắc văn hóa bảnđịa, tạo nguồn thu nhập lớn cho nhiều người ở cộng đồng địa phương, nhưng nó cũng
đã tạo nên một số vấn đề về môi trường nghiêm trọng Rừng bị chặt hạ để làm nhiênliệu nấu ăn, sưởi ấm và làm nhà nghỉ, sự ô nhiễm nguồn nước, hệ thống xử lý rác yếu
đã làm rác lan tràn trên các tuyến đường và các khu có hoạt động du lịch, cộng thêm sựgia tăng dân số nhanh
Hoạt động du lịch sinh thái là một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ chínhcủa Nê Pan, nhưng lại không đếm xỉa đến những người dân địa phương Chính vì thếnhững tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lại càng trở nên trầm trọng Trướcnhững nhu cầu đó mà năm 1986 đã xuất hiện dự án xây dựng khu bảo tồn Annapurna
Dự án đề cập đồng thời 3 khía cạnh chính là: Bảo tồn thiên nhiên, phát triển nhân lực
và quản lý du lịch
Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường tự nhiên và văn hóa vùng Annapurna
vì lợ ích của 40.000 dân cư trong vùng cũng như du khách quốc tế, song song với hoạtđộng nâng cao nhận thức của họ về sự mong manh của Môi trường
Trang 29Các hoạt động đã chia ra làm 8 nhóm bao gồm: Bảo tồn rừng, các nguồn nănglượng thay thế, giáo dục bảo tồn, quản lý du lịch, phát triển cộng đồng, sức khỏe và vệsinh cộng đồng, các ủy ban quản lý cộng đồng, nghiên cứu.
Kết quả dự án sau 5 năm thực hiện, khắp nơi trên vùng Annapurna đã chứngkiến sự thay đổi theo chiều hướng tốt trong việc bảo vệ môi trường, văn hóa bản địa,mức sống của người dân được nâng lên, khách du lịch có được cảm giác tốt hơn khicác dịch vụ được nâng lên, mặt khác họ hiểu được rằng du lịch sinh thái không chỉ lànhững trải nghiệm mà còn giúp cho đời sống người dân ở đây, giúp ích cho hoạt độngbảo tồn, bảo vệ môi trường
b Các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình Du lịch Sinh thái ở các VQG trên thế giới.
Qua việc tìm hiểu hoạt động DLST ở các VQG trên thế giới, chúng ta có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm khi tiến hành hoạt động DLST ở VQG của Việt nam nóichung và VQG YOK ĐÔN nói riêng
+ Cần thay đổi quan niệm của mọi người về bảo tồn và phát triển Giáo dụctuyên truyền để nâng cao nhận thức của các đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụngtài nguyên đến các tầng lớp nhân dân
+ Cần có cơ chế quản lý phù hợp trong đó có sự tham gia của người dân địaphương theo phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" để có thể quản
lý tài nguyên và hoạt động du lịch hiệu quả Đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ quanquản lý Quản lý chặt chẽ việc cấp phép xây dựng và hoạt động của các cơ sở dịch vụDLST, tránh tình trạng xây dựng ồ ạt, lấn chiếm đất, phá vỡ cảnh quan tự nhiên và làmmất cân đối cung cầu trong vùng dự án
+ Cần có chính sách phù hợp nhằm phân phối rộng rãi hơn thu nhập du lịch.Thu nhập du lịch phải được sử dụng để duy trì hoạt động du lịch và phát triển cộng
Trang 30đồng địa phương, tránh tình trạng thu nhập chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ, còn đa số người dân địa phương không được hưởng lợi gì từ việc phát triển DLST.
+ Cần có phương án sử dụng các nguồn năng lượng sạch thay thế như: điện mặttrời, điện sản xuất bằng nguyên liệu khí bio-gas, sử dụng khí bio-gas sản xuất từ chấtthải chăn nuôi để đun nấu thay thế cho nhiên liệu gỗ, củi vừa giúp bảo vệ môi trường
+ Tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong các trường học, trongcộng đồng địa phương và khách du lịch Xây dựng mối quan hệ tương hỗ giữa khách
du lịch và cộng đồng địa phương và cơ quan quản lý các đơn vị rừng đặc dụng nhằmbảo vệ tài nguyên và phát triển du lịch bền vững
+ Khôi phục và phát triển các nghề truyền thống của địa phương phục vụ nhucầu của khách du lịch như: sản xuất đồ lưu niệm, chăn nuôi, trồng trọt Tạo ra và duytrì thu nhập cho người dân địa phương
c Thực trạng Du lịch sinh thái ở các VQG của Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay mặc dù là một đất nước có tiềm năng lớn về du lịch sinhthái song sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Mặc dù được đánh giá là cótiềm năng song DLST ở các Khu Bảo tồn và VQG ở Việt Nam nói chung và ở VườnQuốc gia YOK ĐÔN nói riêng vẫn chưa phát triển xứng với tiềm năng [13], [20]
Các hoạt động DLST thường bao gồm: Nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái;tham quan, tìm hiểu đời sống động thực vật hoang dã, và văn hóa bản địa Tuy nhiên,
du khách đến các VQG mới chỉ tiếp cận được các hệ sinh thái rừng, các loài thực vật,
và một số loài côn trùng Rất hiếm khi du khách bắt gặp thú trong rừng Chỉ ở VQGCát Tiên du khách có thể quan sát được một số loài thú lớn như hươu, nai, lợn rừng,cầy, chồn, nhím vào ban đêm Tại Cúc Phương đã xây dựng khu nuôi thú bán hoang
dã để bảo tồn và phục vụ khách tham quan Khu cứu hộ các loài linh trưởng, trạm cứu
hộ rùa và cầy vằn tại VQG Cúc Phương cũng là điểm dừng chân thú vị cho khách dulịch
Trang 31Các hệ sinh thái đất ngập nước với nhiều loài chim nước và các loài thuỷ sinhcũng đang thu hút nhiều khách du lịch VQG Xuân Thuỷ, với hệ sinh thái rừng ngậpmặn là nơi cư trú của hàng trăm loài chim, nổi tiếng nhất là loài Cò thìa KBTTN VânLong (Ninh Bình) bao gồm cả hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái rừng trên núi
đá vôi Tại đây du khách có thể ngắm nhìn từng bầy Voọc mông trắng và quan sátnhiều loài sinh vật thuỷ sinh và các loài chim nước như Sâm cầm VQG Tràm chim lànơi bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên Đồng Tháp Mười với loài đặc hữu là Sếu đầu đỏ đãthu hút hàng nghìn khách du lịch mỗi năm
Các khu DLST biển nổi tiếng như Cát Bà, Hòn Mun, Côn Đảo, Phú Quốc đã vàđang có kế hoạch sử dụng tài nguyên sinh vật biển để phát triển nhiều dịch vụ du lịchhấp dẫn như xem rùa đẻ, khám phá các rạn san hô, và cỏ biển…
Hầu như khách đi DLST đều muốn trải nghiệm thực tế bằng cách khám phá cácKBTTN, hệ sinh thái nông nghiệp, và trải nghiệm cuộc sống đời thường của người dânViệt Nam ở các vùng miền cùng với nhiều lễ hội truyền thống và nền văn hóa bản địađặc sắc
Tuy có nhiều tiềm năng phát triển DLST song lượng khách đến các KBTTNViệt Nam còn rất thấp Theo báo cáo điều tra đánh giá hiện trạng bảo tồn thiên nhiên,giáo dục môi trường, DLST ở hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam năm 2006 thìlượng khách du lịch đến các khu rừng đặc dụng trong một năm dưới 2.000 kháchchiếm 44,7%; từ 2.000 - 10.000 khách chiếm 32% và trên 10.000 khách chiếm 21,4%
Theo số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu DLST ở ViệtNam (2009) thì phần lớn là khách du lịch đến các VQG và KBTTN là khách nội địa(chiếm tới 80% tổng lượng khách) và cũng chưa thể thống kê được có bao nhiêu khách
là khách DLST đích thực Tuy nhiên có những điểm thu hút được đa số khách du lịchquốc tế, điển hình là KBTTN đất ngập nước Vân Long với trên 82,3% lượng khách đến
Trang 32tham quan du lịch là khách quốc tế Năm 2006, KBTTN Vân Long đã đón được trên40.000 lượt khách du lịch quốc tế.
Các công ty du lịch như Buffalow Tours, Exotissimo, Hanspand, Wild Lotus
đã và đang tổ chức thành công một số tour DLST đến các KBTTN và đã xây dựngđược các trang web riêng để quảng bá, xúc tiến DLST cho riêng mình [20]
Một số mô hình DLST cộng đồng đã hình thành, như ở Bản Khanh (VQG CúcPhương), Bản Pác Ngòi (VQG Ba Bể), thôn Chày Lập (VQG Phong Nha Kẻ Bàng),bản A Đon (VQG Bạch Mã),….Do khó khăn trong khâu tiếp thị nên chưa thu hút đượcnhiều khách du lịch, lợi ích mang lại cho người dân còn rất khiêm tốn
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ cho phát triển DLST đã được xây dựng nhưngchất lượng và số lượng còn rất hạn chế Nhiều khu DLST như VQG Cúc Phương, Bái
Tử Long, Bạch Mã, Cát Tiên đã xây dựng trung tâm du khách/Trung tâm thông tin vàcác đường mòn thiên nhiên có các biển diễn giải Qua các hiện vật trưng bày là các tiêubản động thực vật, các mô hình mô tả hệ sinh thái và nhiều thông tin, tài liệu trưng bàytrong Trung tâm làm cho du khách đã thấy được sự ĐDSH và ý nghĩa của việc thànhlập VQG Đây còn là nơi triển khai hoạt động giáo dục môi trường cho khách thamquan du lịch
Nhiều khóa tập huấn về DLST và giáo dục môi trường đã được các dự án, các tổchức quốc tế (JICA, WWF, IUCN…), Cục Kiểm lâm và Hiệp hội VQG và KBTTNViệt Nam triển khai cho các đối tượng liên quan
Công tác quy hoạch phát triển DLST đã được tiến hành ở một số nơi như: VQGCúc Phương, Ba Vì, Côn Đảo, Phong Nha Kẻ Bàng, Yokdon, Bạch Mã…
Một số chính sách có liên quan đến phát triển DLST đã được ban hành, nhưLuật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, nghị định 23 về hướng dẫn thực hiện luậtbảo vệ và phát triển rừng, quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủtướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Trang 33nông thôn về Quản lý các hoạt động DLST tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiênnhiên Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, song đã đáp ứng được phần nào nhucầu của các hoạt động DLST và bảo tồn thiên nhiên Tuy đã có một số chính sáchkhuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân có thể tham gia đầu tư và quản lý hoạtđộng DLST ở các VQG, nhưng cho đến nay hoạt động DLST ở các VQG chủ yếu vẫn
do các VQG tự tổ chức, vận hành Lợi ích từ hoạt động DLST vẫn chưa đến được vớinhững cộng đồng địa phương một cách đầy đủ
d Thực trạng du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Yok Đôn
Vườn quốc gia YOK ĐÔN với nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, địa hìnhchia cắt phức tạp đã tạo cho nơi đây rất phong phú và đa dạng về các loài động thực vật
và trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Việt Nam vàthê giới, thêm vào đó thiên nhiên đã ban tặng cho Vườn quốc gia YOK ĐÔN một tiểuvùng khí hậu mát mẻ, trong lành mà ít nơi nào có được Do vậy mà nơi đây rất giàutiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, song cho đến nay mặc dù Vườn quốc giaYOK ĐÔN đã thành lập một trung tâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môitrường nhằm mục đích thúc đẩy, phát triển du lịch sinh thái của Vườn nhưng du lịchsinh thái của Vườn quốc gia YOK ĐÔN vẫn chưa được phát triển xứng với tiềm năngvốn có Thực trạng chung ở các Vườn quốc gia và KBTTN ở Việt Nam hiện nay vẫnđang trú trọng vào công tác bảo vệ tài nguyên rừng là chủ yếu, còn du lịch sinh tháichưa được quan tâm đúng mức hay chưa được đầu tư thoả đáng cả về tài chính vànguồn nhân lực Về nguồn nhân lực để phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc giaYOK ĐÔN chủ yếu là lấy từ các ngành nghề khác chuyển sang như: Kiểm Lâm, KếToán, nghiên cứu khoa học,…những cán bộ này mặc dù rất am hiểu về tài nguyên thiênnhiên của Vườn, cũng như đường đi của các tuyến, nhưng những cán bộ này lại khôngđược đào tạo cơ bản về du lịch nói chung và
Trang 34du lịch sinh thái nói riêng, nên họ rất khó khăn trong việc phát triển du lịch sinh thái,các hoạt động chủ yếu là tự phát chưa có kế hoạch hoạt động hệ thống, bài bản, hơnnữa trình độ ngoại ngữ của các cán bộ của các Vườn quốc gia, KBTTN nói chung,VQG YOK ĐÔN nói riêng còn rất nhiều hạn chế do vậy rất khó khăn trong việc hướngdẫn, giới thiệu tài nguyên của Vườn cho các du khách nước ngoài, do vậy nhữnghướng dẫn viên ở trung tâm du lịch sinh thái mới chỉ là những người dẫn đường chứchưa phải là một hướng dẫn viên Ngoài ra về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho
du lịch sinh thái còn nghèo nàn, thiếu thốn chưa đáp ứng được các nhu cầu của dukhách khi đến đây, mặc dù một số tuyến du lịch đã được hình thành nhưng không được
tu bổ, bảo dưỡng định kỳ, trên tuyến không có các bảng chỉ dẫn, bảng thông tin nên tạo
ra sự khó khăn khi thực hiện trên tuyến Hơn nữa, cho đến nay thì Vườn quốc gia YOKĐÔN vẫn chưa có bản quy hoạch được khu vực để phát triển du lịch sinh thái, điều nàygây khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cho các doanh nghiệp thuê dịch vụ môitrường rừng để phát triển du lịch sinh thái ,…
Bảng 1.1 Số lượng khách đến tham quan VQG YOK ĐÔN 2010 – 2019
Trang 35Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu
Địa điểm triển khai nghiên cứu là VQG Yok Đôn , vùng đệm của Vườn quốc gia YOK ĐÔN trên địa bàn Tỉnh Đaklak
Để đạt được mục tiêu trên thì đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các dạng tàinguyên có thể được khai thác phục vụ cho phát triển du lịch gồm các tài nguyên thiênnhiên (Hệ động thực vật, cảnh quan, thác, suối, hồ…) và các dạng tài nguyên nhân văn
là các di tích văn hoá lịch sử, đền chùa, lễ hội phong tục tập quán,…Các giá trị có thểkhai thác phục vụ cho phát triển du lịch
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học ởVườn Quốc gia Yok Đôn , và các vùng phụ cận, cùng với các thể chế chính sách củaviệc phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019, các sốliệu cập nhật cố gắng thực hiện đến sát thời gian nghiên cứu, với mong muốn có những
số liệu gần nhất, mới nhất nhằm đưa ra được định hướng sát thực cho việc phát triểnDLST ở VQG Yok Đôn
2.2 Nội dung nghiên cứu
a Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái ở VQG và KBTTN
b Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Yok Đôn Tài nguyên đa dạng sinh học, điều kiện dân sinh kinh tế của dân cư các xã vùng
Trang 36đệm Mối quan hệ của phát triển kinh tế với việc bảo vệ rừng bảo vệ đa dạng sinh học của khu vực.
c Hiện trạng hoạt động du lịch gồm cơ cấu tổ chức của Vườn Quốc gia Yok Đôn , tìnhhình nhân sự, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái (Nhà ở, khách sạn,nhà ăn uống, khu vui chơi giải trí, đường nội bộ, các dịch vụ khác…), Nhu cầu pháttriển du lịch
d Định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn Quốc Gia YOK ĐÔN gồm các giảipháp kĩ thuật (quy hoạch cơ sở vật chất phục vụ du lịch, lôi kéo cộng đồng địa phươngtham gia hoạt động du lịch), giải pháp xã hội như giáo dục môi trường
2.3 Quan điểm nghiên cứu.
- Nghiên cứu đề xuất phát triển DLST hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững
- Coi con người là trung tâm của các vấn đề, mọi nỗ lực bảo tồn sẽ kém hiệu quảkhi chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và công tác bảo tồn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận / Cách tiếp cận
- Tiếp cận hệ sinh thái
- Bảo tồn dựa vào cộng đồng/ phát triển du lịch sinh thái – sinh kế của cộng đồng – giảm áp lực lên TNTN/ rừng của VQG
Tiếp cận tổng hợp: cả xã hội và tự nhiên, cả bảo tồn và phát triển/
Khái niệm tài nguyên du lịch:
Trang 37“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử di tích cách mạng,giá trị nhân văn công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằmthoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịchnhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” [5].
Như vậy tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch Và thực tếcho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc bao nhiêu thì s ức hấp dẫn và hiệuquả của du lịch mang lại càng cao bấy nhiêu
- Quan điểm về đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái: Đây là hoạt động đượctiến hành sau điều tra tài nguyên du lịch, nhằm nhận xét và giám định giá trị của tàinguyên du lịch theo một số tiêu chuẩn về tài nguyên đã chọn Do đó muốn đánh giá tàinguyên du lịch cần phải tuân theo những nguyên tắc sau:[ 11]
* Nguyên tắc thực tế khách quan: Tài nguyên du lịch tồn tại như những biểuhiện giá trị của chúng đối với con người thì phụ thuộc vào bản thân tài nguyên du lịch
và trình độ mở mang khai thác của con người Khi đánh giá phải xuất phát từ thực tếtài nguyên, trình độ mở mang khai thác của khu vực
* Nguyên tắc phù hợp với khoa học: Phải phù hợp với tiêu chuẩn khoa học.Cần đem lại cho du khách những tri thức chính xác, có tính giáo dục, cần vận dụng líluận và kiến thức nhiều mặt để giải thích và đánh giá một cách khoa học những nộidung cốt lõi của tài nguyên DLST
* Nguyên tắc hệ thống toàn diện: Tài nguyên du lịch muôn màu muôn vẻ vì thế
có rất nhiều phương diện, nhiều thứ hạng, nhiều hình thức và nhiều nội dung quyếtđịnh đến giá trị và công dụng của tài nguyên du lịch Khi đánh giá tài nguyên du lịchcần phải xem xét tổng hợp, tiến hành đánh giá hệ thống một cách toàn diện và hoànchỉnh
Trang 38* Nguyên tắc khái quát cao độ: Khi đánh giá tài nguyên du lịch bất luận là đánhgiá định tính hay định lượng thì những lời bình hay lời kết đều phải rõ ràng, cô đọng
và khái quát cao độ được giá trị và công dụng, nét đặc sắc của tài nguyên du lịch đểngười xem có thể hiểu được ngay
* Nguyên tắc cố gắng định lượng: Khi đánh giá cần cố gắng hết sức giảm thái
độ chủ quan, cố gắng đánh giá một cách thực tế hệ thống và toàn diện Do đó yêu cầu
cố gắng đánh giá định lượng hoặc bán định lượng, thông qua các
con số để đánh giá và so sánh
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu (tiến hành trước khi bước vào giai đoạn
thực địa): đó là các tài liệu, số liệu, các báo cáo liên quan đến khu vực nghiên cứu như
tài liệu về Du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học trong nước và nước ngoài, cáctài liệu liên quan đến khu nghiên cứu Các tài liệu này được thu thập trước khi tiếnhành nghiên cứu trên thực địa
Sau khi thu thập số liệu tiến hành thống kê, phân tích và xử lý các số liệu phục
vụ mục đích nghiên cứu để phục vụ cho các bước tiếp theo của đề tài
b Phương pháp nghiên cứu thực địa: là phương pháp nghiên cứu truyền thống có vai
trò quan trọng Quá trình thực hiện phương pháp nghiên cứu thực địa dựa chủ yếu là:
- Đánh giá nhanh tài nguyên Du lịch Sinh thái
- Đánh giá hiện trạng kinh tế – xã hội của khu vực
- Đi thực địa theo tuyến – khảo sát và đánh giá về hiện trạng tài nguyên du lịch: loài/ sinh cảnh/ cảnh quan
Trang 39c Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu: một số đối tượng quan trọng bao gồm các cán
bộ cấp xã, huyện và kết hợp với tham vấn cán bộ của VQG Yok Đôn , và những ngườidân địa phương sẽ là kênh thông tin hữu ích
d Phương pháp tham vấn chuyên gia Tham vấn những người có chuyên môn sâu và
hiểu biết rộng đã và đang làm trong lĩnh vực du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinhhọc
e Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất,
rừng và kết hợp kết quả thực địa: Sử dụng phần mềm Mapinfo, GPS
f Phân tích SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức).
Điểm mạnh và điểm yếu tập trung vào các yếu tố bên trong, trong khi các cơ hội vàcác mối đe dọa lại phản ánh những tác động của hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng tới tổchức, cộng đồng hoặc hoạt động Điều này bao gồm cả các khía cạnh về văn hóa-xãhội, chính trị, kinh tế, môi trường, kỷ thuật và các khía cạnh khác Phương pháp phântích SWOT có thể bổ sung cho các công cụ khác bao gồm cả phương pháp phân tíchnhững người liên quan và thể chế
- Điểm mạnh (S): Những điểm tích cực của nhóm, hoạt động hay của khu vực
- Điểm yếu (W): Những điểm tiêu cực của nhóm, hoạt động hay của khu vực
- Cơ hội (O): Các yếu tố thuận lợi trong môi trường
- Mối đe dọa (T): Các yếu tố không thuận lợi trong môi trường
Trang 40- Đánh giá khả năng của một tổ chức để thực hiện các hoạt động của tổ chức cộng đồng.
- Đánh giá các vùng dự án tiềm năng cho các hoạt động
- Đánh giá một chương trình hoặc hoạt động cụ thể liên quan đến các nhu cầu của cộng đồng
- Một công cụ được sử dụng như là một phần của các quy trình quy hoạch có tính chiến lược
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tiềm năng hiện trạng phục vụ DLST
3.1.1 Điều kiện tự nhiên VQG Yok Đôn
a Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích