1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở việt nam

19 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 42,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 2 4 1 1 Nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 2 5 1 2 Nhận thức về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam 6 6 1 3 Nhận thức về động lực của sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Nhận thức về thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ, bỏ qua......

Trang 1

TT Nội dung Trang

3 nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 1 Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về chủ 2

4 xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam1.1 Nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc 2

5 của Đảng Cộng sản Việt Nam 1.2 Nhận thức về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam 6

6 đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1.3 Nhận thức về động lực của sự phát triển con 7

7

1.4 Nhận thức về thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến

8 áp dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta 1.5 Nhận thức rõ hơn về mô hình và phương hướng 9

9 tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng 2 Quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội 10

10 chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 3 Một số yêu cầu về kiên định con đường đi lên 15

Trang 2

I MỞ ĐẦU

Trải qua 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là

“sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời

và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam

Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa” Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định:

“Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”,

và đã được khẳng định điều này tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Lịch sử dân tộc đã chứng tỏ con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn, nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân ta Từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu

lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn Nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đúng đắn hơn

về chủ nghĩa xã hội là vấn đề có tính quy luật về nhận thức hiện thực khách quan Đảng Cộng sản Việt Nam đã bước đầu hình thành được những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là cơ sở khoa học cho đường lối của Đảng, góp phần

bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

II NỘI DUNG

1 Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

1.1 Nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế

độ Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây

là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta nhưng

Trang 3

đây là sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và gian khổ Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, phải biết kế thừa những thành tựu của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kinh nghiệm của thời đại

Cương lĩnh chính trị đầu tiên được hội nghị thành lập Đảng (2-1930) thông qua đã nêu rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “để đi tới xã hội cộng sản”[1] Luận cương chính trị tháng 10-1930 nhấn mạnh con đường phát triển của cách mạng Việt Nam “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”[2] Sự lựa chọn con đường XHCN đã rõ ràng và dứt khoát ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Việt Nam đã trải qua chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm và từ cuối thế kỷ XIX là thuộc địa của đế quốc Pháp Khát vọng độc lập, tự do và dân chủ là lớn lao và bức thiết Mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ra trước hết là giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã xóa bỏ chế độ thuộc địa, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam, thời đại dân tộc độc lập, nhân dân được làm chủ xã hội và cuộc sống, xây dựng xã hội tốt đẹp vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn là vấn đề sống còn và vì vậy mục tiêu tiến lên CNXH vẫn chưa thể đặt ra trực tiếp, mà phải vừa kháng chiến vừa kiến quốc Trong nhiệm vụ kiến quốc, Đảng và Chính phủ chú trọng phát triển chế độ dân chủ nhân dân tạo những tiền đề, mầm mống tiến tới CNXH khi kháng chiến thắng lợi Năm 1946, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp, khi trả lời các

nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”[3].

Những điều kiện cần thiết chưa có đủ đòi hỏi trên con đường phát triển theo định hướng XHCN, Đảng và chính quyền cách mạng phải cùng với toàn dân chủ động tạo dựng những điều kiện: phát triển kỹ nghệ tức lực lượng sản xuất hiện đại để phát triển công nghiệp, nông nghiệp ở trình độ cao, đặc biệt là nhân tố con người, phải nâng cao dân trí, xây dựng con người phát triển toàn diện có trí tuệ và năng lực tự giác xây dựng một xã hội mới Quan điểm của Hồ Chí Minh thật sự là sự khởi đầu nhận thức về xây dựng CNXH xuất phát từ thực tiễn Việt Nam

Trang 4

Luận cương cách mạng Việt Nam được Đại hội II của Đảng (2-1951) thông qua đã xác định phương hướng rõ ràng là: hoàn thành giải phóng dân tộc,

phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH Luận cương nêu rõ: “nhiệm vụ trung tâm của Đảng là đẩy mạnh việc kỹ nghệ hóa, phát triển kỹ nghệ nặng, phát triển thật rộng bộ phận kinh tế Nhà nước, tập thể hóa nông nghiệp dần dần, thực hiện những kế hoạch dài hạn để gây thêm và củng cố cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, đặng tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội Những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định Song một điều chắc chắn là chừng nào ta chưa chuẩn bị cơ sở kinh tế đầy đủ và chưa làm cho số đông quần chúng nhân dân nhận rõ chủ nghĩa xã hội là cần thiết, thì chủ nghĩa đó chưa thể thực hiện được.

Ở nước ta, thời gian chuẩn bị đó, so với các nước dân chủ nhân dân khác, nhất định sẽ lâu hơn, vì ta phải kiến quốc trên cơ sở một nước nông nghiệp lâu năm

bị đế quốc thống trị, tàn phá”[4].

Những điều kiện để tiến lên CNXH mà Hồ Chí Minh và Đại hội II của Đảng nêu ra phản ánh sự nhận thức đúng đắn về CNXH từ thực tiễn Việt Nam

có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng khẳng định dù hoàn cảnh như thế nào, miền Bắc cũng phải tiến lên CNXH Đó là yêu cầu khách quan bảo đảm sự phát triển của miền Bắc, đồng thời còn là yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Miền Bắc trải qua 3 năm (1954 - 1957) khôi phục kinh tế và hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (cải cách ruộng đất) và cũng là chuẩn bị những điều kiện cần thiết và phát triển nhận thức để chính thức thực hiện cách mạng XHCN theo Nghị quyết Trung ương 14 (1958) và Nghị quyết Đại hội III (9-1960)

Năm 1956, 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những quan điểm về CNXH và phương châm, phương pháp đi tới CNXH có ý nghĩa định hướng

trong nhận thức của toàn Đảng Người quan niệm: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”[5] Đó là tư tưởng rất mới mẻ và sáng tạo về CNXH.

Về cách thức tiến hành phải tiến dần từng bước lên CNXH, cải tạo giai cấp tư

sản cũng cần có cách thức khác, “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”[6] Phải luôn chú ý đặc điểm,

hoàn cảnh riêng của Việt Nam Hồ Chí Minh cho rằng giai cấp tư sản Việt Nam

“họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước”, “nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”[7].

Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc (7-9-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng lý luận vào thực tiễn Việt Nam trong cách mạng XHCN Phải nắm vững điều kiện đặc

biệt của nước ta “là một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu”.

“Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp

gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay Muốn giải quyết tốt những vấn

Trang 5

đề đó, muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡ phạm sai lầm, thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi

cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”[8].

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng XHCN và công cuộc đổi mới

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp thực tế và quy luật khách quan; từng bước khắc phục một

số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan

hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản Đại hội VI đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, mở đầu quá trình đổi mới và sự hình thành nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội,

về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thông qua đổi mới, như một cuộc cải biến cách mạng lâu dài, toàn diện, sâu sắc và triệt để, có kế thừa và có phát triển

Đại hội VII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đầu của đổi mới đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong văn kiện quan trọng này, câu trả lời “chủ nghĩa xã hội là gì?” xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội như thế nào? Đã lần đầu tiên được đề cập tới một cách có hệ thống dưới hình thức luận đề, xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa và bảy phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Những đặc trưng đó vừa thể hiện tính phổ biến theo học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, vừa thể hiện tính đặc thù dân tộc, có tính đến đặc điểm của thời đại Nhận thức 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa trước hết là nhận thức được những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội Bản chất

ấy cũng đồng thời nói lên những mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội vươn tới Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như toàn bộ tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là từng bước đạt tới cái chất và mục tiêu ấy của chủ nghĩa xã hội

Từ sau Đại hội IX, Đảng ta đã hình thành nhận thức, coi phát triển kinh tế

là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt và coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng tới sự phát triển dân tộc, phát huy động lực quan trọng và mạnh mẽ nhất là

sự đoàn kết dân tộc, có chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ, tương

Trang 6

trợ lẫn nhau trong phát triển ở một quốc gia đa tộc như người Việt Nam Một trong những nét mới trong tư duy đổi mới là, Đảng khẳng định đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là một xã hội có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới Phát triển tư tưởng đó, từ sau Đại hội VII, Đảng ta nhất quán với chủ trương đoàn kết, hợp tác, hữu nghị và hòa bình để phát triển, Việt Nam mong muốn là bạn của tất cả các nước, sẵn sàng hợp tác song phương và đa phương… Từ đại hội VI đến Đại hội XI, vấn đề bản chất, mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được Đảng ta bổ sung, hoàn thiện đầy đủ hơn các tiêu chí: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

1.2 Nhận thức về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam

Khẳng định sức sống của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh khẳng định rằng, cần phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác -Lênin, bởi học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin Từ chỗ coi chủ nghĩa Mác -Lênin là cái cốt của Đảng, “cái gốc của Đảng”, Đại hội lần thứ II (năm 1951), Đảng ta xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng Tiếp theo, Đại hội lần thứ III (năm 1960), Đảng khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng Đặc biệt đến Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta chính thức khẳng định chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động

Việc chính thức bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh cho nền tảng tư tưởng của Đảng là đánh dấu một bước tiến mới, một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của nước ta, đồng thời là sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần

vô giá của Đảng và dân tộc ta Việc xác định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, đòi hỏi phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng lập trường (lập trường cách mạng triệt

Trang 7

để), quan điểm (hệ quan điểm khoa học) và phương pháp (phương pháp duy vật biện chứng) của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đề giải quyết đúng đắn những vấn đề của cách mạng Việt Nam và thời đại đặt ra

Trong văn kiện mở đầu thời kỳ đổi mới Đại hội VI, Đảng ta đã đặt vấn đề: Cần phải nghiên cứu để làm rõ những giá trị bền vững trong kho tàng di sản kinh điển Mác - Lênin Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn luôn luôn là điểm tựa thế giới quan và phương pháp luận cho chúng ta trong nhận thức và cải tạo thế giới Qua nghiên cứu, thảo luận một cách khoa học và dân chủ, Đảng ta nhận thức nhấn mạnh rằng những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ giá trị bao gồm các nguyên lý, các học thuyết lý luận nền tảng như: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết cách mạng xã hội, về Đảng kiểu mới và nhà nước kiểu mới, về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân và vấn đề thời đại Đó là những vấn đề chủ yếu nổi bật nhất Ngoài ra còn là những kiến giải đặc sắc nhất của Chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, về con người và tư tưởng giải phóng con người… Đảng ta nhấn mạnh, phải chú trọng nâng cao nhận thức khoa học đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi trong quá khứ, đã có lúc chúng ta đã rơi vào giản đơn, giáo điều trong nhận thức về chủ nghĩa Mác -Lênin và hậu quả rất nghiêm trọng Vì vậy, việc nhận thức lại và nhận thức đúng

về chủ nghĩa Mác và thẳng thắn chủ động sửa sai là hết sức quan trọng, bởi nhận thức đúng thì hành động đúng, nhận thức sai hành động sai

Việc sửa chữa khuyết điểm, sai lầm phải bắt đầu từ sự sửa sai trong nhận thức để đi tới sửa sai trong hoạt động thực tiễn Vấn đề cuối cùng lý luận, chủ nghĩa, học thuyết Mác - Lênin là một hệ thống mở chứ không phải đóng kín, động chứ không tĩnh Thực tiễn ngày nay đã phát triển biến đổi mạnh, nhiều vấn

đề, sự kiện, tư liệu khoa học đã không có ở thời đại các nhà kinh điển Vậy trên

cơ sở quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngày nay những người mác xít cần phải bổ sung, phát triển mới những gì và như thế nào? Giải quyết được những vấn đề đó, có thể nói, sẽ thực sự là sự trưởng thành tư duy lý luận của Đảng ta

Đảng ta kiên quyết bác bỏ các quan điểm sai trái, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc muốn hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin Đặc biệt, trong những năm đổi mới, Đảng ta đã có sự nhận thức sâu sắc hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt các vấn

đề như: Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xã hội… Nhờ vậy, tư duy lý luận của Đảng ngày càng hoàn thiện hơn, nhận thức đúng đắn hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mác xít, đồng thời có sự vận dụng, phát triển phù hợp hơn đối với thực tiễn Việt Nam Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi Đảng ta phải kiên trì và vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giải đáp được những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra, tiếp tục làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong điều kiện mới của thời đại

Trang 8

1.3 Nhận thức về động lực của sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hệ động lực, bao gồm các loại động lực vật chất và tinh thần, các động lực bên trong (nội lực và nội sinh) và các động lực bên ngoài (ngoại lực và ngoại sinh) Trong hệ thống động lực phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, trước hết là ba động lực quan trọng sau:

Thứ nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh

giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là động lực quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa quyết định đối với thành công của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai Đảng ta nhận thức rằng, đại đoàn kết dân tộc chỉ được củng cố và phát huy mạnh mẽ khi các nhân tố cấu thành cộng đồng dân tộc ý thức rõ lợi ích chung của đất nước, lấy đó làm quan điểm tương đồng, mọi người đều hướng nỗ lực của mình vào việc thực hiện lợi ích chung Ở nước ta hiện nay, điểm tương đồng chung là: Giữ vững độc lập, thống nhất của

Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Thứ hai, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động

lực của công cuộc đổi mới nhằm khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, tính tích cực, chủ động, năng động của nhân dân được tăng lên

Đảng ta cho rằng, trong điều kiện của một đảng cầm quyền, để phát huy được vai trò động lực mạnh mẽ của dân chủ, cần coi trọng sự phát triển hài hòa, đồng bộ giữa dân chủ ở cơ sở, trong đó, dân chủ ở cơ sở có tính chất nền tảng, dân chủ ở trung ương có tính chất quyết định Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình tự quản trong các cộng đồng dân

cư ở cơ sở; bám sát thực tiễn để góp phần khắc phục tập trung quan liêu; mở rộng sinh hoạt dân chủ và nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể từ hội nghị cấp

ủy cho tới đại hội Đảng các cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên - kể cả đối với những người lãnh đạo chủ chốt; có quy chế đảm bảo phát huy tự do tư tưởng, tôn trọng những

ý kiến khác nhau

Thứ ba, kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể, cá nhân, quan tâm lợi ích

thiết thân của con người Đảng ta nhận thức rằng, làm cho mỗi con người quan tâm tới lợi ích chính đáng của mình, lấy đó làm động lực trực tiếp, thúc đẩy mạnh mẽ nhất hoạt động của họ sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xây dựng xã hội mới Thực tiễn đổi mới đã minh chứng, sự cần thiết phải kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích chung, trong đó lợi ích thiết thân của con người là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất

Trang 9

1.4 Nhận thức về thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta có những đổi mới sâu sắc:

- Nhận thức rõ hơn về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định rõ mục tiêu tổng quát và mục tiêu chặng đường đầu của thời kỳ quá độ Đó là, trong thời kỳ quá độ sẽ tồn tại nhiều hình thức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ

- Nhận thức đầy đủ hơn về cách thức bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cái gì bỏ qua, cái gì cần tiếp thu… Nếu trước đây, thường nói, nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” thì từ Đại hội lần thứ XI trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước diễn đạt là: Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” Việc “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” được giải thích rõ về hai phương diện: Thứ nhất, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa” Tức là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa Thứ hai, trong khi bỏ qua những mặt đó, cần “tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học - công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại” Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc Đại hội XI khẳng định đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ

và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen" Cần phải phát huy tối đa những thuận lợi, đẩy lùi những nguy cơ, thách thức để phát triển nhanh và bền vững Một trong những nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó vấn đề mấu chốt là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Rút ra những bài học không thành công của công nghiệp hóa theo mô hình truyền thống của những năm 60, trong đó, đổi mới, Đảng ta đã xây dựng một quan niệm mới về công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa Đó là công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, tận dụng lợi thế so sánh, chú trọng công nghiệp nông nghiệp gắn liền với đô thị hóa nông thôn, có chiến lược phát triển toàn diện nông nghiệp - nông thôn và nông dân Đại hội VIII, IX,

X và Đại hội XI đã có những phát triển lý luận mới về vấn đề này

1.5 Nhận thức rõ hơn về mô hình và phương hướng áp dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Lần đầu tiên, tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII của Đảng thông qua (6 – 1991) đã đề cập những

Trang 10

nội dung cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gồm 6 đặc trưng Tổng kết 25 năm đổi mới và 20 năm thục hiện Cương lĩnh 1991, Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng Trong đó, một số nội dung của các đặc trưng đã được là sáng tỏ hơn so với Cương lĩnh

1991

Điều này thể hiện như sau: Thứ nhất, khẳng định đặc trưng hàng đầu là xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Thứ hai, nhấn mạnh vị trí của dân chủ Nội dung dân chủ đặt lên trước công bằng, văn minh Toàn thể nhân dân làm chủ chứ không chỉ là nhân dân lao động làm chủ Tôn trọng quyền làm chủ, quyền con người, coi con người là trung tâm của chiến lược phát triển là chủ thể phát triển Thứ ba, nhận thức mới đầy đủ hơn về quan hệ sản xuất gồm 3 yếu tố: Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, chế độ quản lý

và chế độ, phương thức phân phối sản phẩm Việc nhấn mạnh “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” với lực lượng sản xuất hiện đại là phản ánh đúng quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thứ tư, bổ sung đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo Đó là nội dung xây dựng chế độ chính trị trong mô hình chủ nghĩa xã hội, cũng là vấn đề cốt lõi trong chế độ xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng và nhân dân ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Tám phương hướng cơ bản trên đã thể hiện tập trung nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới ở Việt Nam

2 Quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được Đảng xác định, bổ sung và hoàn thiện qua các kỳ đại hội Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển, cụ thể hóa hơn các mục tiêu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại

Thứ nhất, về mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội

Ngày đăng: 28/04/2022, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Công an - Học viện chính trị Công an nhân dân (2014): Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo cấp phòng, quận, huyện trong Công an nhân dân, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tàiliệu bồi dưỡng cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo cấp phòng, quận,huyện trong Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an - Học viện chính trị Công an nhân dân
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2014
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳđổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[4]. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[5]. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[6]. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[7]. Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[8]. Mạch Quang Thắng (chủ biên) (2010): Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng và phát triểnsáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mạch Quang Thắng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Laođộng
Năm: 2010
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII, tập 1
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[10] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Các chuyên đề lớp Bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII của Đảng, q.1, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên đề lớp Bồidưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII củaĐảng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w