1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá một số điểm mới của luật doanh nghiệp năm 2020 so với luật doanh nghiệp năm 2014

14 211 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 312,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích và đánh giá một số điểm mới của luật doanh nghiệp năm 2020 so với luật doanh nghiệp năm 2014

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….……….……….2 NỘI DUNG……… ……… 2

1 Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014……… 2 1.1 Khái quát sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2020……….….2 1.2 Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014……… ………2

2 Đánh giá những điểm mới nào của Luật Doanh nghiệp năm 2020 góp phần

cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia……10 2.1 Khái niệm, mối tương quan giữa “môi trường kinh doanh” và “năng lực cạnh tranh quốc gia”……… ……….10 2.2 Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia………….10 KẾT LUẬN……….13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….14

Trang 2

MỞ ĐẦU

Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực đã đưa ra những quy định mới tiến

bộ điều chỉnh về một số vấn đề liên quan đến thành lập và đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở khắc phục những vấn đề hạn chế, bất cập còn tồn đọng trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 Tuy nhiên, để các quy định thật sự phát huy được vai trò, giá trị trong thực tế thì việc xác định, hiểu rõ được những quy định mới này

là điều rất cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em xin

chọn đề bài số 20: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 (tối thiểu là 05 điểm mới) Trên cơ sở đó, hãy đánh giá những điểm mới nào của Luật Doanh nghiệp năm 2020 góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia?” làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần của mình

NỘI DUNG

1 Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm

2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014

1.1 Khái quát sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2020

Kể từ khi được ban hành đến nay, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã có sự đóng góp đáng kể vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh, từng bước xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trải qua gần 7 năm đi vào thực tế, Luật Doanh nghiệp 2014 đang dần bộc lộ những hạn chế, chưa thực sự phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, phần nào gây khó khăn đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vậy việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp cho phù hợp với xu hướng hiện hành là cần thiết, cấp bách để tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp Ngày 17/06/2020, kỳ Quốc hội lần thứ 14 chính thức ban hành Luật Doanh nghiệp 2020

1.2 Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 3

So với Luật Doanh nghiệp năm 2014 (sau đây viết là LDN 2014), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sau đây viết là LDN 2020) được đánh giá có nhiều

điểm mới nổi bật, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Sau đây là một

số điểm mới của LDN 2020:

1.2.1 Bổ sung thêm đối tượng không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp

So với quy định của LDN 2014, tại khoản 2 Điều 17 LDN 2020 đã bổ sung thêm nhiều đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp:

Một là, đối với các đối tượng là người gặp khó khăn trong nhận thức, làm

chủ hành vi Họ bị khiếm khuyết một phần về thể chất hoặc tinh thần nên khả năng làm chủ và nhận thức hành vi không được như người bình thường Do đó, những chủ thể này khi tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không cao, tiềm

ẩn nhiều rủi ro

Hai là, đối với công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an

nhân dân Việt Nam Những đối tượng này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Việc cấm họ thành lập doanh nghiệp nhằm đảm bảo các chủ thể là cán bộ, công nhân viên tại các đơn vị quân đội, công an tập chung công tác, tránh sự xao lãng nhiệm vụ, phân tâm vào sự điều hành, quản lý doanh nghiệp

Ba là, đối với người bị tạm giam Người bị tạm giam bao gồm bị can bị cáo,

người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án, người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ Mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội để đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành

án được tiến hành đúng đắn Do đó, LDN 2020 liệt kê bổ sung người bị tạm giam thuộc vào đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp là hợp lý

Bốn là, đối với tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm

hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ Luật Hình sự

Trang 4

Việc LDN 2020 bổ sung thêm đối tượng này là cần thiết bởi điều này giúp đảm bảo pháp nhân có hành vi vi phạm gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người và xã hội phải chịu mức xử phạt thích đáng, tránh trường hợp tiếp tục tái phạm hoặc lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm

Có thể thấy LDN 2020 đã quy định chặt chẽ hơn các đối tượng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp đồng thời để tạo sự nhất quán giữa Luật Doanh nghiệp mới với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự…

1.2.2 Thay đổi khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

Khoản 8 Điều 4 LDN 2014 quy định khái niệm “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã được sửa đổi tại khoản 11 Điều 4 LDN 2020, bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 LDN 2020

Theo đó, một doanh nghiệp sẽ đủ điều kiện là doanh nghiệp Nhà nước nếu Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ Tỷ lệ 50% cũng là tỷ lệ vốn chi phối theo quy định của pháp luật LDN 2020 cũng chia các doanh nghiệp Nhà nước thành hai nhóm: Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ và Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Trong trường hợp thứ nhất, doanh nghiệp

sẽ được cơ cấu dưới hình thức Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong khi trong trường hợp thứ hai, công ty sẽ được cơ cấu dưới hình thức Công

ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần Điều này

sẽ dẫn đến sự khác biệt về cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp Như vậy, quy định này giúp thể hiện rõ ràng hơn khái niệm về doanh nghiệp Nhà nước đồng thời cũng làm đa dạng hóa loại hình Doanh nghiệp nhà nước so với quy định tại LDN 2014 LDN 2020 đã sửa đổi khái niệm Doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có quy định về tổ chức quản trị

Trang 5

phù hợp để nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

1.2.3 Bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng

và công nhận chữ ký số là dấu của doanh nghiệp

So với quy định về con dấu tại LDN 2014 thì LDN 2020 đã bỏ quy định

“Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp” Hiện nay, nhà nước trao quyền cho doanh nghiệp

quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp Việc quản lý và lưu giữ dấu cũng được thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh

nghiệp có dấu ban hành chứ nhà nước không can thiệp vào vấn đề này nữa

Những quy định mới về dấu của doanh nghiệp trong LDN 2020 nêu trên là

hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển hiện nay Quy định này của LDN 2020

là cần thiết bởi trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, có nhiều cách thức khác để xác tín cho các giao dịch của doanh nghiệp, điển hình là việc sử dụng chữ ký số với đầy đủ thông tin về tên doanh nghiệp, mã số thuế, phạm vi sử dụng… Khi nhiều quốc gia đã phát triển thành công hệ thống quản lý chữ ký

số trong các giao dịch thương mại hay thủ tục hành chính thì ở Việt Nam, đây vẫn còn là điều mới mẻ và ít doanh nghiệp sử dụng Do đó, để tận dụng những tính năng bảo mật và thông tin mà chữ ký số cung cấp, xã hội cần làm quen với công nghệ mới này, hạn chế tình trạng làm giả con dấu hay lợi dụng sử dụng con dấu không đúng thẩm quyền Quy định mới sẽ tự nâng cao tính pháp lý ràng buộc và trách nhiệm cho người đại diện theo pháp luật/theo uỷ quyền khi tham gia giao dịch Doanh nghiệp sẽ chú trọng hơn vào việc phân cấp quản lý

và phân chia nhiệm vụ, quyền hạn đối với người quản lý Cùng với đó, cá nhân,

Trang 6

tổ chức khác khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp sẽ nhận thức rõ hơn, yêu cầu chặt chẽ hơn về quyền hạn, thẩm quyền của các bên

Ngoài ra so với quy định về con dấu tại Điều 44 LDN 2014, LDN 2020 đã chính thức công nhận chữ ký số là dấu của doanh nghiệp Đây là nội dung hoàn toàn mới so với quy định của LDN 2014 Khái niệm chữ ký số đã được quy định cụ thể tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP Theo đó có thể hiểu đơn giản, chữ kí số là một dạng chữ ký điện tử được mã hóa các dữ liệu, thông tin của một doanh nghiệp dùng để ký thay cho chữ kí trên các loại văn bản và tài liệu số thực hiện trong các giao dịch điện tử qua mạng internet Việc đưa chữ ký điện tử làm dấu của doanh nghiệp góp phần giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn trong việc sử dụng dấu thay vì chỉ sử dụng con dấu khắc như hiện nay

1.2.4 Cụ thể hóa các phương thức đăng ký doanh nghiệp

Nếu như các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại Điều 27 LDN 2014, còn rất chung chung, chưa cụ thể, người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền thực hiện đăng ký doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc các phương thức đăng ký doanh nghiệp, thì sang đến LDN 2020 đã cụ thể hóa các phương thức đăng ký doanh nghiệp, bao gồm: Đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh; Đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ bưu chính; Đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử

Phương thức đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh

là phương thức truyền thống và được sử dụng phổ biến hiện nay

Đối với phương thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không phải là phương thức mới bởi LDN 2014 đã cho phép thực hiện và được cụ thể hóa tại chương V Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp Qua quá trình

áp dụng, phương thức này đã phát huy hiệu quả một cách tích cực, cắt giảm chi phí, thời gian đi lại Đứng trước những lợi ích mà phương thức đăng ký doanh nghiêp qua mạng điện tử, LDN 2020 đã luật hóa và quy định cụ thể tại Điều

26 Theo đó, người thành lập doanh nghiệp sẽ nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Trang 7

qua mạng thông tin điện tử tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Quy định này phù hợp với Chỉ thị số 10/CT-TTg năm 2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc

Riêng đối với phương thức đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ bưu chính mới được LDN 2020 ghi nhận nhằm mở rộng phương thức thực hiện đăng ký doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, hướng đến xóa bỏ các trình tự, thủ tục rườm rà không cần thiết

1.2.5 Sửa đổi quy định cung cấp thông tin về nội dung đăng ký doanh nghiệp

LDN 2014 quy định trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung đăng ký doanh nghiệp của Cơ quan đăng ký kinh doanh, cụ thể là Phòng đăng ký kinh doanh (Điều 34) Việc yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh là đơn vị tiếp nhận

hồ sơ và trực tiếp chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký, hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp thực hiện cung cấp thông tin nhằm kịp thời nắm bắt, cập nhật thông tin về nội dung đăng ký thành lập doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

Tuy nhiên, hiện nay cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự đột phá của Internet và trí tuệ nhân tạo là công cụ tối ưu hỗ trợ cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý hoạt động của các doanh nghiệp Thông tin đăng ký doanh nghiệp hiện nay đã được công bố công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, địa chỉ cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Do đó mọi tổ chức, cá nhân đều có thể dễ dàng truy cập vào hệ thống để tra cứu thông tin của doanh nghiệp Mặt khác, hệ thống đăng ký doanh nghiệp đã được nghiên cứu phát triển liên kết với hệ thống cơ sở dữ liệu của các cơ quan quản lý khác Chính vì vậy, LDN 2020 đã bãi bỏ trách nhiệm gửi thông đăng ký doanh nghiệp (Điều 33) Quy định này không chỉ phù hợp với thực tế xã hội mà còn

Trang 8

cắt giảm các chi phí, tốn kém về sức người sức của không cần thiết cho cơ quan đăng ký kinh doanh Cũng như phù hợp với xu thế tất yếu, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình quản lý nhà nước Cơ quan nhà nước cũng không rơi vào tình thế bị động chờ đợi thông tin từ phía cơ quan đăng ký doanh nghiệp mà có thể chủ động tiếp cận với thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng hơn

1.2.6 Sửa đổi bổ sung quy định về quyền của cổ đông phổ thông

Một số quy định của LDN 2014 về quản trị doanh nghiệp chưa thực sự tạo thuận lợi cho cổ đông, nhà đầu tư thực hiện quyền của mình, thậm chí tạo thêm rào cản, bị cổ đông lớn và công ty lạm dụng gây tổn hại đến lợi ích của cổ đông khác Luật quy định một số yêu cầu, điều kiện gây khó khăn cho cổ đông, nhóm

cổ đông nhỏ tham gia vào các quyết định quan trọng của công ty như đề cử người vào Hội đồng quản trị và thường gặp trở ngại trong tiếp cận thông tin cần thiết để khởi kiện người quản lý công ty trong trường hợp họ lạm dụng địa vị, quyền hạn gây thiệt hại cho công ty, cổ đông Để khắc phục điều này, LDN

2020 đã có các sửa đổi, bổ sung quan trọng như sau:

của các chủ thể này

Nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng của việc sửa đối Luật Doanh nghiệp lần này là mở rộng quyền cổ đông, tạo thuận lợi hơn cho cổ đông thực hiện các quyền của mình và bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm phạm, LDN 2020 đã

mở rộng phạm vi đối tượng cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ được hưởng một số quyền nhất định

Điều 115 LDN 2020 chia đối tượng được hưởng một số quyền nhất định thành 02 nhóm, bao gồm: cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công

ty (khoản 2) và cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty (khoản 5) Đối với cả hai nhóm đối tượng này quy định về điều kiện sở hữu cổ

Trang 9

phần "trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng" của LDN 2014 bị bãi bỏ Trong

đó, cố đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông của công ty đã có các quyền như “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng

số cổ phần phố thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng" theo quy định của LDN 2014, ngoại trừ quyền để cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát So với LDN 204 nhóm đối tượng này còn được mở rộng quyền xem xét, tra cứu, trích lục tài liệu của công ty đổi với cả “hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty" (điểm a khoản 2 Điều 115) Còn quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát vẫn chỉ dành cho nhóm đối tượng là “cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty" (khoản

5 Điều 115) Như vậy, việc mở rộng quyền của cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ bởi LDN 2020 đã phần nào hướng tới bảo vệ quyền lợi của nhóm các cổ đông nhỏ, hạn chế việc người quản lý hoặc cổ đông lớn lạm dụng địa vị, quyền hạn gây thiệt hại cho công ty và cổ đông nhỏ

1.2.6.2 Gỡ bỏ rào cản trong việc khởi kiện người quản lý công ty

LDN 2014 lần đầu tiên thiết lập quyền khởi kiện thành viên Hội đồng Quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc cho “cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng" Tuy nhiên việc thực hiện quyền khởi kiện này gặp khó khăn trong thực tế, do những thông tin cần thiết chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nắm trong tay chính những người quản lý công ty, trong khi cổ đông không có cơ sở pháp lý để yêu cầu họ cung cấp

Khắc phục sự cản trở này, LDN 2020 đã trao thêm cho cổ đông, nhóm cổ đông có quyền khởi kiện “quyền xem xét, tra cứu, trích lục thông tin cần thiết theo quyết định của Tòa án, Trọng tài trước hoặc trong quá trình khởi kiện" (khoản 4 Điều 166) Sự bổ sung này được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quyền khởi kiện của cổ đông đối với người quản lý công ty LDN 2020

Trang 10

cũng đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng có quyền khởi kiện bằng việc bãi

bỏ điều kiện về thời hạn sở hữu cổ phần “liên tục trong thời hạn 06 tháng"

2 Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

2.1 Khái niệm, mối tương quan giữa “môi trường kinh doanh” và “năng lực cạnh tranh quốc gia”

Môi trường kinh doanh là tập hợp tất cả các yếu tố bên ngoài và bên trong tác động qua lại lẫn nhau Những yếu tố này ảnh hưởng đến chức năng và cách thức hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Còn năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ hiệu quả và tính năng suất của một quốc gia Một nền kinh tế có năng suất, hiệu quả là nền kinh tế có năng lực sử dụng, khai thác tốt các nguồn lực

có hạn

Năng lực cạnh tranh quốc gia có mối tương quan mật thiết với môi trường kinh doanh Hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực thi các quy định pháp luật cũng như các cơ chế, chính sách tạo thuận lợi hoạt động kinh doanh không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, mà còn thúc đẩy phân bổ nguồn lực một cách minh bạch và do vậy, trực tiếp và gián tiếp nâng cao năng suất của nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

2.2 Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Từ những phân tích, đánh giá một số điểm mới của LDN 2020 so với LDN

2014 cũng như hiểu được bản chất, mối tương quan giữa môi trường kinh doanh

và năng lực cạnh tranh quốc gia, có thể thấy được những điểm mới của LDN

2020 có tác động tích cực góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như sau:

2.2.1 Bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng và công nhận chữ ký số là dấu của doanh nghiệp

Ngày đăng: 28/04/2022, 12:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w