Qua thực tế giảng dạy vật lí cho thấy học sinh còn nhiều hạn chế trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập định lượng.. Mục đích nghiên cứu: Nhằm xác định thực trạng của việc
Trang 1CÁCH GIẢI BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THCS
-A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lý luận:
Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS Nó có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với các môn học khác, là cầu nối quan trọng giữa kiến thức vật lí sơ đẳng ở tiểu học, đồng thời là kiến thức cơ sở cho chương trình Vật lí ở THPT, THCN, nghề, việc giảng dạy vật lí có những khả năng to lớn, góp phần hình thành và rèn luyện ở học sinh cách thức tư duy và làm việc khoa học, cũng như góp phần giáo dục học sinh ý thức, thái độ, trách nhiệm đối với cuộc sống, gia đình, xã hội và môi trường
Nội dung chương trình SGK mới đã làm thay đổi tích cực phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh Hiệu quả dạy học đã có chuyển biến rõ rệt
Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, và thực hiện giáo viên - người trực tiếp đứng lớp cũng gặp không ít khó khăn Phương pháp dạy học tích cự chỉ có hiệu quả cao với những học sinh có học lực khá, giỏi, còn những học sinh có học lực ở mức trung bình trở xuống thì việc thực hiện phương pháp này còn rất hạn chế
Mặt khác, nội dung chương trình được phân bố chưa thực sự hợp lí, các nội dung lí thuyết rất dài, rất nhiều nhưng các tiết bài tập, nhất là bài tập định lượng lại rất ít
2 Cơ sở thực tiễn:
Môn vật lí là một trong những môn học đòi hỏi kỹ năng thực hành rất cao, sức sáng tạo của học sinh rất lớn Qua thực tế giảng dạy vật lí cho thấy học sinh còn nhiều hạn chế trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập định lượng Học sinh giải bài tập, đặc biệt là bài tập dạng định lượng còn rập khuôn, máy móc, chưa chủ động sáng tạo
Thời gian tiếp thu bài trên lớp còn ít so với lượng kiến thức cần chiếm lĩnh Khả năng tư duy của học sinh còn chậm Chương trình giảng dạy vật lí mới hiện nay có rất ít tiết bài tập, nên thời gian rèn kỹ năng vận dụng kiến thức giải bài tập cho học sinh tại lớp không được nhiều Dẫn đến việc nhận dạng, phân loại bài tập
để xác định yêu cầu lời giải, tìm ra cách giải là khó khăn đối với học sinh Đặc biệt
là dạng bài tập phải vận dụng kiến thức một cách tổng quát, lôgic
Trong quá trình giải bài tập, học sinh còn lúng túng khi phân tích giả thiết dữ liệu; vận dụng kiến thức chưa linh hoạt dẫn đến nhầm lẫn hoặc không thể thực hiện giải được bài tập Giáo viên bộ môn vật lí cần đưa ra một phương pháp tổng quan nhằm giúp học sinh giải được tốt hơn các bài tập định lượng Đồng thời phát huy tính tự lập, tích cực và sáng tạo của học sinh trong quá trình giải bài tập vật lý, gây được hứng thú cho học sinh trong quá trình học vật lí
Trang 2tập vật lí của học sinh còn rất yếu, nhất là các bài tập định lượng Nếu không có hướng dẫn mà để học sinh tự mầy mò, học tập theo phương pháp mới thì hiệu quả rất thấp
Đứng trước thực trạng đó, tôi thấy rằng việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh giải bài tập là hết sức cần thiết Nó giúp học sinh củng cố kiến thức, mở rộng và đào sâu kiến thức, đồng thời rèn lyện cho các em được tính tự lập vượt khó, cẩn thận, kiên trì, trong học tập
Xuất phát từ những vấn đề lí luận và thực tiễn nói trên, tôi đã nghiên cứu và trình
bày đề tài “Cách giải bài tập định lượng môn vật lí ở trường trung học cơ sở”
II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Mục đích nghiên cứu:
Nhằm xác định thực trạng của việc giải các bài tập định lượng môn Vật lí của học sinh trường THCS Liêm Phong, nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần này
Vì việc dạy học vật lí không những hình thành cho học sinh những tri thức
về các hiện tượng vật lí, kĩ năng và kĩ xảo nhất định mà còn phải đảm bảo tốt sự phát triển trí tuệ, làm cho hoạt động tư duy của học sinh phát triển tích cực, độc lập, sáng tạo Việc giúp học sinh nắm được cách giải các bài tập định lượng môn vật lí
có vai trò rất quan trọng trong dạy học môn vật lí Thông qua hoạt động này giúp rèn luyện kỹ năng tính toán, rèn luyện sự phát triển độc lập, sáng tạo của học sinh, đồng thời kích thích được hứng thú học tập cho các em
2 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá
- Nghiên cứu thực tiễn: Dự giờ, thăm lớp, trọng tâm là nghiên cứu thực nghiệm
Để hoàn thiện đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: Qua điều tra thực trạng việc giải bài tập của học sinh Dùng phương pháp phân tích, so sánh các số liệu, dữ liệu thực tế Qua đúc kết kinh nghiệm dạy học của bản thân và đồng nghiệp Cùng với phương pháp thực nghiệm, vấn đáp, trò chuyện với học sinh, nghiên cứu tài liệu tham khảo
III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi các lớp khối 8 và 9 của Trường THCS Liêm Phong, Thanh Liêm, Hà Nam
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1 Mục đích của việc giải các bài tập định lượng trong vật lí:
Muốn làm được bài tập vật lí, học sinh phải biết vận dụng các thao tác tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để xác định được bản chất vật lí, trên cơ sở đó chọn ra các công thức thích hợp cho từng bài tập cụ thể Như vậy, bài tập vật lí là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống của học sinh Khi làm bài tập, học sinh bắt buộc phải nhớ lại kiến thức đã học và vận dụng, đào sâu kiến thức, do vậy đây là phương tiện tự kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh Trong việc giải bài tập, nếu học sinh tự giác, say mê tìm tòi thì nó còn có tác dụng rèn luyện cho các em những đức tính tốt như tinh thần tự lập, vượt khó, tính cẩn thận, tính kiên trì, và đặc biệt tạo niềm vui trí tuệ học tập
- Bài tập vật lí giúp học sinh ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức
- Bài tập vật lí có thể là điểm khởi đầu để dẫn đến kiến thức mới
- Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự học cao của học sinh
- Giải bài tập góp phần phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
- Giải bài tập vật lí là một phương tiện để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh
Bài tập vật lí là cơ hội để giáo viên đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lí thuyết chưa có điều kiện để đề cập, qua đó nhằm bổ sung kiến thức cho học sinh Bài tập vật lí là hình thức củng cố, ôn tập mở rộng hoặc đi sâu vào các trường hợp riêng lẻ của định luật, hiện tượng vật lí mà nhiều khi nếu nhắc lại nhiều lần ở phần lí thuyết có thể làm cho học sinh nhàm chán
2 Phân loại bài tập vật lí:
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí, hiện tại chưa có sự phân định rõ ràng
Có thể phân loại theo nội dung vật lí là bài tập cơ, nhiệt, điện, quang Có nhiều bài tập lại có cả cơ, nhiệt, điện thì ta thường gọi là bài tập tổng hợp, Có bài tập có nội dung thực nghiệm, thực tế …
Tuy nhiên, có thể căn cứ vào dấu hiệu chủ yếu của từng loại, ý nghĩa
và vai trò từng loại để xếp theo 2 khía cạnh sau:
- Phân loại theo nội dung vật lí: Như bài tập cơ, quang, điện, nhiệt,
- Phân loại theo dấu hiệu chủ yếu, ý nghĩa, vai trò: bài tập định tính, bài tập
định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập có nội dung thực tế, bài tập vật lí vui, bài tập trắc nghiệm, bài tập tổng hợp,
Trang 4* Bài tập định lượng: là loại bài tập có số liệu cụ thể, muốn giải được phải
thực hiện một loạt các phép tính Loại bài tập này giúp học sinh hiểu được đầy đủ
và sâu sắc hơn ý nghĩa vật lí, rèn luyện kĩ năng tính toán, vẽ hình, tiến tới giải các bài tập tổng hợp có nhiều nội dung phức tạp hơn
Ví dụ: Cho hai điện trở R1 = 10; R2 = 15 mắc song song với nhau, cường
độ dòng điện trong mạch chính là 2A Tính cường độ dòng điện qua mỗi đoạn mạch rẽ
II: CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Trong dạy học vật lý thì việc dạy lý thuyết có vẻ dễ dàng hơn, còn việc hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý sao cho thuần thục và nhanh nhạy thì phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn.Vì khi giải bài tập đòi hỏi phải vận dụng lý thuyết đã học và kèm theo các công thức toán học
Bài tập định lượng giữ một vai trò quan trọng giúp học sinh củng cố, đào sâu
và nắm vững kiến thức, nó là một hình thức tổng hợp kiến thức của một bài, một chương Nó là thước đo mức độ sâu sắc và vững vàng kiến thức mà học sinh thu nhận được
Phần nhiều bài tập về nhà không có sự chỉ đạo của giáo viên Hiện nay số bài tập ở trên lớp là rất ít, thậm chí là không có Thực tế cho thấy rất nhiều học sinh gặp khó khăn, lúng túng không biết giải bài tập về nhà thế nào Tình trạng phổ biến hiện nay là học sịnh học tập thụ động, máy móc, còn giáo viên chỉ chú trọng đến các bài toán khó nên học sinh thường chỉ thuộc mấy công thức vật lý rồi áp dụng để tính toán một cách máy móc mặc dù không hiểu rõ hiện tượng vật lý, ý nghĩa của các công thức đó
Nhiều khi học sinh thuộc những định nghĩa, định lý, quy tắc nhưng vẫn không giải bài tập nguyên nhân là không biết lập luận để vận dụng chúng Khi ta yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức vật lý để giải bài tập có nghĩa là yêu cầu các em thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức mà các em đã học vào một trường hợp cụ thể Hiện tượng cụ thể trong thực tế rất đa dạng và nhiều hiện tượng trải qua nhiều giai đoạnbị chi phối bởi nhiều nguyên nhân, nhiều quy luật Cần phải phân tích được sự phức tạp đó và thực hiện lập luận một cách đúng quy tắc thì kết quả thu được mới chắc chắn Bởi vậy việc rèn luyện cho học sinh biết phân tích, suy luận là rất quan trọng, cần thiết, phải làm một cách kiên trì, có kế hoạch tạo thói quen, thành nếp suy nghĩ của học sinh, không để cho học sinh hoàn toàn mò mầm một cách tự phát
Trang 5III: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG VẬT LÝ THCS:
Với chương trình sách giáo khoa hiện nay, kiến thức rất tinh giản, sâu và rộng, chủ yếu viết dưới dạng mở Do đó đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức vững, có phương pháp dạy học tích cực sáng tạo, tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất, học sinh cũng phải có phương pháp học tập tích cực, chủ động mới nắm vững nội dung bài học
Cùng với sự thay đổi nội dung chương trình thì việc đổi mới phương pháp dạy học đã có nhiều chuyển biến tích cực Giáo viên chủ yếu từ phương pháp dạy học truyền đạt thông tin sang phương pháp dạy học tích cực Tổ chức học sinh chủ động học tập tự lĩnh hội kiến thức Học sinh từ học tập thụ động đã chuyển sang chủ động lĩnh hội kiến thức dưới sự điều khiển của giáo viên
Tuy nhiên trong việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm còn rất nhiều hạn chế Đặc biệt là việc dạy học các tiết bài tập định lượng
* Nguyên nhân:
Khả năng tiếp thu bài chậm, không nắm chắc các kiến thức, thiếu kĩ năng cơ bản, không thuộc định lí, công thức cho nên khó giải được một bài toán vật lí
- Đa số các em chưa nắm chắc phương pháp giải một bài tập về mạch điện, khả năng biến đổi công thức còn yếu, không hiểu rõ hiện tượng vật lí, ý nghĩa của các công thức, giải bài tập còn thụ động, máy móc
- Chưa vận dụng hoặc thiếu kĩ năng toán học cần thiết để giải bài tập vật lí
- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập và tìm ra từ câu hỏi điều kiện của bài toán, không xem xét kĩ các hiện tượng vật lí nêu trong đề bài tập để từ
đó nắm vững bản chất vật lí, không xác định rõ mối liên hệ giữa dữ liệu cho và điều phải tìm
- Hiện nay trong chương trình, số tiết bài tập ở trên lớp là rất ít Học sinh phải làm bài tập ở nhà không có sự chỉ đạo của giáo viên
* Nhược điểm của học sinh khi giải các bài toán định lượng:
- Còn nhiều học sinh không nắm vững kiến thức, kể cả kiến thức đã học ở lớp dưới, kiến thức toán học còn yếu trong khi chữa bài tập thì thờ ơ, không chú ý,
do đó các bước cơ bản để giải một bài tập vật lí cũng không thực hiện được như: cách viết tóm tắt bài toán, cách đổi đơn vị, tìm các công thức để áp dụng,
- Đọc đề hấp tấp, qua loa, khả năng phân tích đề, tổng hợp đề còn yếu
- Vẽ sơ đồ mạch điện còn lúng túng Một số vẽ sai hoặc không vẽ được do đó không thể giải được bài toán (Với phần Điện – Vật lý 9)
- Một số chưa thuộc công thức và kí hiệu các đại lượng trong công thức Một
số khác không biết biến đổi công thức, còn nhầm lẫn giữa các công thức
- Chưa có thói quen định hướng cách giải một cách khoa học trước những bài toán định lượng
Trang 6IV: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1 Trước hết muốn hướng dẫn học sinh giải tốt các bài tập vật lí người giáo viên phải xây dựng cho mình một số nhiệm vụ sau:
- Phải nghiên cứu lí luận dạy học về bài tập và giải bài tập, lựa chọn hệ thống bài tập từ cơ bản đến phức tạp, các kiến thức toán lí phải phù hợp với trình độ học sinh, số lượng bài tập phải phù hợp với thời gian
- Phải phân tích thật kĩ kiến thức trong SGK và các kiến thức có liên quan đến phần bài tập mà bài tập đó yêu cầu
- Phải tìm hiểu kĩ, vận dụng linh hoạt vào việc lĩnh hội kiến thức của học sinh trong địa bàn mình công tác Giáo viên phải biết những điểm yếu nhất của học sinh khi giải bài tập là gì?
2 Giáo viên cần phải nắm chắc phương pháp giải bài tập vật lí - bài tập định lượng:
- Trước hết phải tìm hểu đề bài
- Xem xét hiện tượng vật lí được đề cập vào dựa vào kiến thức nào, toán học nào để tìm mối quan hệ có thể có của cái đã cho và cái cần phải tìm, sao cho có thể tìm thấy mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với đơn vị đã cho
- Giáo viên hướng dẫn học sinh các hoạt động chính của việc giải bài tập vật lí:
+ Tìm hiểu đề bài
+ Phân tích hiện tượng
+ Xây dựng lập luận
+ Biện luận
* Xây dựng lập luận trong giải bài tập: Là một bước hết sức quan trọng, đòi hỏi học sinh phải vận dụng những định luật vật lí, những quy tắc, những công thức
để thiết lập mối quan hệ giữa đại lượng cần tìm
3 Xây dựng các bước giải.
Để có thể giải được tốt một bài toán định lượng thì phải hướng dẫn các em theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề.
a Đọc kỹ đề bài toán
b Tìm hiểu ý nghĩa vật lý của các từ ngữ trong đề bài và diễn đạt bằng ngôn ngữ vật lý
c Biểu diễn các đại lượng vật lý bằng các ký hiệu, chữ cái quen dùng trong quy ước sách giáo khoa
d Vẽ hình nếu cần
e Xác định điều “cho biết” hay đã cho và điều “phải tìm” hay ẩn số của bài tập Tóm tắt đầu bài
Trang 7Bước 2: Phân tích hiện tượng vật lý mà đề bài đề cập.
a Căn cứ vào những điều đã cho biết, xác định xem hiện tượng đã nêu trong bài thuộc phần nào của kiến thức vật lý, có liên quan đến những khái niệm nào, định luật nao, quy tắc nào?
b Đối với những hiện tượng vật lý phức tạp thì phải phân tích ra thành những hiện tượng đơn giản, chỉ bị chi phối bởi một nguyên nhân, một quy tắc hay một định luật vật lý xác định
c Tìm hiểu xem hiện tượng vật lý diễn biến qua những giai đoạn nào, mỗi giai đoạn tuân theo những định luật nào?
Bước 3: Xây dựng lập luận cho việc giải bài tập.
a Trình bày có hệ thống, chặt chẽ lập luận lô-gíc để tìm ra mối liên hệ giữa những điều cho biết và điều phải tìm
b Nếu cần phải tính toán định lượng, thì lập các công thức có liên quan đến các đại lượng cho biết, đại lượng cần tìm Thực hiện các phép biến đổi toán học
để cuối cùng tìm ra được một công thức toán học, trong đó ẩn số là đại lượng vật lý phải tìm, liên hệ với các đại lượng khác đã cho trong đề bài
c Đổi các đơn vị đo trong đầu bài thành đơn vị của cùng một hệ đơn vị và thực hiện các phép tính toán
Phương pháp phân tích
Có thể trình bày lập luận theo hai phương pháp:
Phương pháp tổng hợp
Theo phương pháp phân tích: thì ta bắt đầu từ điều phải tìm (ẩn số) xác định mối liên hệ giữa những điều cho biết và điều phải tìm và cả những điều trung gian chưa biết Tiếp đó lại tìm mối liên hệ giữa những điều trung gian đã biết khác Cuối cùng tìm ra được mối liên hệ trực tiếp giữa điều phải tìm và những điều đã cho biết
Theo phương pháp tổng hợp: ta đi từ những điều đã cho biết, xác định mối liên hệ giữa những điều đã cho biết với một số điều trung gian không biết, tiếp theo tìm mối liên hệ giữa những điều trung gian và điều phải tìm, cuối cùng xác định được mối liên hệ trực tiếp giữa điều đã cho và điều phải tìm
Đối với học sinh THCS thì dùng phương pháp phân tích thì học sinh
dễ hiểu hơn, có thể định hướng sự tìm tòi của học sinh dễ dàng, có hiệu quả hơn ở học sinh
Trang 8Bước 4: Bắt tay vào giải bài toán:
Dựa vào bước phân tích trên ta đã tìm được mối liên hệ giữa điều đã biết và điều phải tìm (tức là HS đã tìm ra được công thức cho việc giải bài toán đó thông qua các công thức đã học.)
Bây giờ chỉ còn sắp xếp lại các công thức đó và thay số Tìm đại lượng nào trước, dù là đại lượng trung gian hay trực tiếp thì đều phải ghi lời giải
Để ghi được lời giải thì ta phải dựa vào câu hỏi của bài toán hoặc tìm đại lượng trung gian nào
Đại lượng nào bài toán cho chưa rõ ràng thì phải lập luận để sử dụng chúng Sau đó áp dụng công thức rồi thay số và giải Khi giải song, đầu bài bắt tìm đại lượng nào thì ta phả ghi đáp số đại lượng đó
Bước 5: Thử lại và biện luận về kết quả thu được.
Thử lại để chắc chắn là kết quả thu được đã chính xác Giáo viên cần hướng dẫn HS dùng các phép tính để kiểm tra kết quả
Những kết quả thu được bằng suy luận hay bằng biến đổi toán học, khi giải một bài tập vật lý không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế có khi chỉ là một hiện tượng đặc biệt (là một trường hợp riêng) Vậy có khi phải biện luận để chọn những kết quả phù hợp hơn với thực tế hoặc để mở rộng phạm vi lời giải đến những trường hợp tổng quát hơn
Từ cách phân tích 5 bước để giải bài tập định lượng vật lí, ta có thể tóm tắt các bước giải bài tập vật lí theo sơ đồ sau:
Chọn công thức
Cách giải thức
BÀI TẬP VẬT LÍ
Phân tích nội dung, hiện tượng, bản chất vật lí
Kế hoạch giải
Kiểm tra- đánh giá biện luận Tóm tắt dữ kiện
Trang 9V MỘT SỐ VÍ DỤ ĐƯA RA MINH HỌA ĐỀ TÀI GIẢI BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG MÔN VẬT LÝ.
Ví dụ 1:
Cho hai điện trở R1 = 10; R2 = 14 hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch
là 12V Tính cường độ dòng điện chạy trong mạch
B 1: Giáo viên yêu cầu HS đọc kỹ đề bài.
Vẽ hình ra giấy nháp nếu cần R1 R2
Tóm tắt đề dựa vào đầu bài toán
R1 = 10
R2 = 14
U = 12V
I = ?
B 2 ; B 3 : Phân tích tìm hướng giải.
Căn cứ vào phần tóm tắt để phân tích: Ta dựa vào phương pháp phân tích Bắt đầu từ đại lượng cần tìm (I), xem có công thức nào liên quan đến I thì liệt kê ra giấy nháp, sau đó lựa ra một công thức phù hợp Qua các công thức thì ta thấy có công thức I U
R
, nhưng qua công thức ta thấy đề bài chỉ cho U, còn R đề bài chưa
cho (ta phải tìm R) để tìm R thì ta phải áp dụng CT nào? (đây là câu hỏi diễn ra trong óc HS) HS phải tìm R theo các bước như trên, qua đây ta thấy CT: R =
R1+R2 Vậy công việc đầu tiên là phải đi tính R Khi tính được R ta sẽ tính được I
B 4 : Bắt tay vào giải: Khi giải ta tính đến đại lượng nào thì ghi lời giải của
đại lượng đó Công thức R = R1+R2 là CT tính điện trở tương đương nên lời giải sẽ là: - Điện trở tương đương của đoạn mạch là
R = R1+ R2 = 10 + 14 = 24
- Cường độ dòng điện chạy trong mạch là
U I R
=12
24 = 0,5 A
Đáp số: 0,5 A
B 5 : Giải song thì ta tiến hành thử lại và biện luận nếu thấy kết quả chưa phù hợp.
- Thử lại: bằng cách tính toán ta sẽ thử lại được kết quả của bài toán
- Biện luận nếu thấy kết quả không phù hợp
Trang 10Một bếp điện có ghi 220V – 1000W, được dùng ở hiệu điện thế 220V Biết bếp sử dụng 30 phút mỗi ngày Tính điện trở của bếp và nhiệt lượng mà bếp toả ra, mỗi ngày sử dụng với thời gian trên Tính điện năng mà bếp tiêu thụ trong một tháng(30 ngày)
B 1 : Giáo viên yêu cầu HS đọc kỹ đề bài.
Vẽ hình ra giấy nháp nếu cần Tóm tắt đề dựa vào đầu bài toán
220V – 1000W
U = 220V
t1 = 30phút = 11800 s
t2 = 0,5 x 30ph = 15 h R= ?
Q= ? A= ?
B 2 ; B 3 : Phân tích tìm hướng giải.
Căn cứ vào phần tóm tắt để phân tích: Ta dựa vào phương pháp phân tích Bắt đầu từ đại lượng cần tìm (R) Muốn tính đươc R thì phải sử dụng công thức nào? R=U2
P đề bài đã cho U phải lập luận để lấy P
Muốn tìm Q ta phải dựa vào công thức nào? ( HS phải liệt kê tất cả các công thức tính Q, và qua biến đổi toán học ta được công thức Q = U2
P t Tính A bằng công thức nào? Học sinh sẽ tìm được công thức A = Pt
Vậy qua việc phân tích ta đã tìm được hướng giải bài toán
B4: Bắt tay vào tìm lời giải và giải:
Ta phải lập luận để sử dụng P
- Vì bếp sử dụng ở hiệu điện thế 220V nên công suất của bếp là 1000W
Có U; P ta tính được R
- Điện trở của bếp là: R=U2
P = 2202
1000= 48,4
Tiếp tục ta đi tính Q
- Nhiệt lượng mà bếp toả ra trong 30 phút là:
Q =
U 220
t 1800
R 48, 4 =1.800.000 J.