Thực trạng PL lao động việt nam về thời giờ làm việc và đề xuất kiến nghị
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ BÀI Đề số: “Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt
Nam về thời giờ làm việc và đề xuất kiến nghị.”
0
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
1.Khái quát chung quy định về thời giờ làm việc 2
1.1 Khái niệm thời giờ làm việc 2
1.2 Ý nghĩa của việc quy định thời giờ làm việc 2
2.Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc 3
2.1 Một số quy định của pháp luật hiện hành về thời giờ làm việc 3
2.2 Một số ưu điểm của pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc 5
2.3 Những hạn chế, tồn tại của pháp luật lao động Việt Nam về thời
giờ làm việc 8
3.Kiến nghị một số giải pháp nâng cao và hoàn thiện pháp luật lao động về
thời giờ làm việc 9
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi xã hội càng phát triển, nhu cầu tạo ra của cải, vật chất bằng sức lao động của con người ngày càng tăng cao thì việc quy định thời giờ làm việc hợp lý sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng lao động Để làm rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài số
02: “Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc
và đề xuất kiến nghị.” làm đề cho bài thi kết thúc học phần của mình.
NỘI DUNG
1 Khái quát chung quy định về thời giờ làm việc.
1.1 Khái niệm thời giờ làm việc.
Trong khoa học kinh tế lao động, thời giờ làm việc chính là khoảng thời gian cần và đủ để NLĐ hoàn thành định mức lao động hoặc khối lượng công việc đã được giao
Trong khoa học lao động, thời giờ làm việc được hiểu là khoảng thời gian do pháp luật quy định, theo đó, NLĐ có mặt tại địa điểm làm việc và thực hiện những nhiệm vụ được giao phù hợp với nội quy lao động của đơn
vị, điều lệ doanh nghiệp và hợp đồng lao động
1.2 Ý nghĩa của việc quy định thời giờ làm việc.
Việc quy định thời giờ làm việc không chỉ có ý nghĩa đối với NLĐ mà còn có ý nghĩa đối với NSDLĐ và Nhà nước
Đối với NLĐ, quy định về thời giờ làm việc sẽ đảm bảo cho NLĐ thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động, làm căn cứ cho việc thụ hưởng tiền lương, thưởng…, bảo hộ NLĐ và nhằm tránh sự lạm dụng sức lao động
Đối với NSDLĐ, quy định về thời giờ làm việc giúp họ xây dựng được
kế hoạch sản xuất, xây dựng định mức lao động, xác định được chi phí phân công và bố trí sử dụng lao động hợp lý
Trang 4Đối với Nhà nước, việc quy định thời giờ làm việc không chỉ thể hiện
chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức, điều hành hoạt động lao động xã hội mà còn thể hiện rõ thái độ của Nhà nước đối với lực lượng lao động
2 Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc.
Trên cơ sở kế thừa các quy định hợp lý cũng như khắc phục những bất cập trong một số quy định của Bộ luật lao động cũ năm 2012 về thời giờ làm
việc, Bộ luật lao động năm 2019 (sau đây viết là BLLĐ) đã hoàn thiện hơn
các quy định này tại Mục 1 chương VII và Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (sau đây viết là Nghị định 145/2020/NĐ-CP).
2.1 Một số quy định của pháp luật hiện hành về thời giờ làm việc.
Thứ nhất, về thời giờ làm việc bình thường Thời giờ làm việc bình
thường được quy định dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hóa thời giờ làm việc biểu hiện bằng việc quy định số giờ làm việc trong một ngày đêm (24 giờ), một tuần lễ (7 ngày) hoặc số ngày làm việc một tháng, một năm Thời giờ làm việc bình thường được quy định tại Điều 105 BLLĐ Đối với một số lao động đặc thù như phụ nữ có thai, NLĐ dưới 15 tuổi … hoặc công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm…thì thời giờ làm việc được rút ngắn mà NLĐ vẫn hưởng nguyên lương Chẳng hạn như công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai thì được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 1 giờ làm việc trong một ngày (khoản 2 Điều 137 BLLĐ); người lao động chưa đủ mười lăm tuổi, thời giờ làm việc không quá 4 giờ trong một ngày (khoản 1 Điều 146 BLLĐ)
Hai là, về thời giờ làm thêm Theo khoản 1 Điều 107 BLLĐ thời giờ
làm thêm là thời giờ làm việc của NLĐ ngoài phạm vi thời giờ làm việc bình thường
Trang 5theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động
Về hình thức dễ nhận thấy việc quy định làm thêm giờ mâu thuẫn với ý nghĩa
và nguyên tắc bảo vệ NLĐ, vì vậy pháp luật Việt Nam quy định thêm những điều kiện khắt khe nhằm tránh sự lạm dụng từ NSDLĐ Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 107 BLLĐ và Điều 59, 60, 61, 62 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết về điều kiện thời giờ làm thêm Trong một số trường hợp đặc biệt, NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không giới hạn số giờ làm thêm và NLĐ không được từ chối trong những trường hợp được quy định tại Điều 108 BLLĐ
Ba là, về giờ làm việc ban đêm Thời giờ làm việc ban đêm là khoảng
thời gian làm việc được ấn định tùy theo vùng khí hậu, yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến độ dài thời gian của đêm Theo Điều 106 BLLĐ, giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau Để bảo vệ sức khỏe cho người lao động làm việc ca đêm, điều luật quy định người lao động được nghỉ giữa giờ làm việc dài hơn ít nhất 45 phút và được hưởng thêm tiền lương làm việc vào ban đêm (khoản 1 Điều 109, khoản 2 Điều 98 BLLĐ) Mặt khác với những ảnh hưởng nhất định của làm đêm đối với sức khỏe của NLĐ nên pháp luật Việt Nam quy định hạn chế làm đêm với một số đối tượng được quy định tại các Điều 137, 144, 160 BLLĐ
Bốn là, về thời giờ làm việc linh hoạt Thời giờ làm việc linh hoạt là
khái niệm tương đối mới tại Việt Nam Theo đó, thời giờ làm việc linh hoạt chính là việc quy định các hình thức tổ chức lao động mà trong đó có sự khác nhau về độ dài và thời điểm làm việc của NLĐ so với thời gian làm việc thông thường đã được quy định theo ngày, tuần, tháng, năm làm việc1 Các bên trong quan hệ trong quan hệ lao động, thậm chí, những NLĐ có thể thỏa thuận để điều chỉnh độ dài cũng như thời điểm làm việc và tự phân phối thời gian làm việc sao cho phù hợp với nguyện vọng cá nhân và yêu cầu chung của đơn vị Ở Việt Nam,
Trang 6Nguyễn Tiệp, Mô hình thời giờ làm việc linh hoạt, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2003, tr 9-12.
Trang 7thời giờ làm việc linh hoạt được quy định đối với một số trường hợp tạo điều kiện vận dụng thời giờ làm việc linh hoạt như đối với những NLĐ làm việc theo hợp đồng không trọn thời gian (Điều 167 BLLĐ), khuyến khích NSDLĐ
áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt với lao động nữ (Điều 135 BLLĐ)…
Năm là, làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt Quy định về làm thêm
giờ trong trường hợp đặc biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế, yêu cầu công việc liên quan đến lợi ích chung của nhà nước và xã hội, tăng cường trách nhiệm xã hội của không chỉ người sử dụng lao động mà cả của người lao động, bảo đảm phù hợp và thống nhất với pháp luật khác Theo đó, thời giờ làm việc của người làm việc có tính chất đặc biệt được quy định tại Điều 116 BLLĐ
2.2 Một số ưu điểm của pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc.
Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và đang chuẩn bị ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) Cam kết về lao động trong các Hiệp định này yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ thực hiện các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của người lao động theo Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) Nghiên cứu rà soát BLLĐ năm 2012, còn một số quy định chưa thực sự tương thích (trong đó có thời giờ làm việc của NLĐ) nên cần được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm sự tương thích với tiêu chuẩn lao động quốc tế Ngày 20/11/2019, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8, đã thông qua Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 Sau gần 1 năm thực hiện, pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ làm việc bước đầu đạt được những ưu điểm sau:
Một là, đối với quy định về thời giờ làm việc bình thường BLLĐ quy
định về số giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong một ngày nhưng không quá 48 giờ trong một tuần nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động
Trang 8và đáp ứng được nhu cầu của một số công việc, một số khâu sản xuất có chu kỳ
Trang 9dài bù lại người lao động được nghỉ nhiều ngày hơn trong tuần, vẫn được bảo đảm sức khỏe cũng như các quyền lợi khác Ngoài ra, để phù hợp với Công ước số 47 của ILO năm 1935 về tuần làm việc 40 giờ, Bộ luật lao động năm
2019 khuyến khích người sử dụng lao động giảm giờ làm việc cho người lao động, thực hiện tuần làm việc 40 giờ Nghĩa là, thời giờ làm việc bình thường trong tuần được quy định linh hoạt, hoàn toàn do NSDLĐ quyết định, chứ không mang tính bắt buộc như thời giờ làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp Bên cạnh đó, việc quy định rút ngắn thời giờ làm việc đối với NLĐ làm những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm… hoặc một số đối tượng như phụ nữ có thai, NLĐ chưa thành niên, cao tuổi… là một quy định tiến khá bộ nhằm mục đích bảo vệ NLĐ khỏi tính chất công việc và đặc thù về giới tính, sức khỏe, độ tuổi
Hai là, về vấn đề làm thêm giờ Thời giờ làm thêm là vấn đề hết sức
nhạy cảm và có nhiều quan điểm trái chiều trong thời gian xây dựng dự thảo
bộ luật lao động sửa đổi So với quy định của Bộ luật cũ về thời giờ làm thêm, Điều 107 BLLĐ có một số điểm mới là: tăng thời giờ làm thêm trong tháng từ
30 giờ lên 40 giờ để phù hợp với yêu cầu của các doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp được huy động người lao động tăng ca liên tục trong vài tháng thời vụ đến hết quý thời giờ làm thêm trong năm; bổ sung một số trường hợp được làm thêm tới 300 giờ trên năm quy định tại khoản 3 Điều 107; để đảm bảo sức khỏe người lao động, tăng sự quản lý của cơ quan nhà nước, trong trường hợp làm thêm 300 giờ trên năm, BLLĐ đã bổ sung quy định về trách nhiệm của NSDLĐ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh Như vậy, những quy định mới của BLLĐ vừa giúp tăng năng suất của quá trình sản xuất, kinh doanh, doanh thu của NSDLĐ và thu nhập của NLĐ, nhất là trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid ở Việt Nam hiện nay, vừa đảm bảo được thể chất, sức khỏe, tinh thần cho NLĐ, đặc biệt đối với lao động đặc thù
Trang 10Ba là, về thời giờ làm việc ban đêm Làm việc ban đêm có những ảnh
hưởng nhất định đến tâm sinh lý, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể con người Vì vậy, đề bảo vệ và bù đắp hao phí sức lao động của NLĐ, pháp luật lao động đã quy định NLĐ làm việc vào ban đêm được trả thêm tiền lương so với công việc đang làm vào ban ngày (Điều 98 BLLĐ) Tuy nhiên, không phải người lao động nào cũng có thể làm việc ban đêm Một số lao động do đặc điểm thực hiện thiên chức sinh đẻ và nuôi con (lao động nữ) hoặc chưa phát triển đầy đủ về thể lực và trí lực (lao động chưa thành niên), hoặc do có một hoặc một số bộ phận, chức năng của cơ thể bị mất hoặc suy giảm (lao động khuyết tật), nên trong một số trường hợp họ không đủ sức khỏe để làm việc trong khoảng thời gian này Bởi vậy, bộ luật quy định người sử dụng lao động không được huy động những đối tượng đó làm việc ban đêm Có thể thấy, những quy định của BLLĐ đã bảo vệ tối ưu cho NLĐ trong đó có vấn đề
về thu nhập và đời sống NLĐ Pháp luật quy định đảm bảo mức thu nhập của người lao động phù hợp với công sức họ bỏ ra và những đóng góp cho NSDLĐ
Bốn là, đối với cơ chế thời giờ làm việc linh hoạt Làm việc theo chế độ
thời giờ làm việc linh hoạt đang được áp dụng ở các nước phát triển như Hà Lan, Đức, Na Uy, Anh…Ở Việt Nam, mục đích của việc quy định này nhằm tạo điều kiện cho những người lao động có hoàn cảnh đặc biệt hoặc làm công việc đặc biệt như lao động nữ, NLĐ chưa thành niên, người cao tuổi … có cơ hội tìm việc làm phù hợp với điều kiện bản thân
Thứ năm, bên cạnh những quy định về thời giờ làm việc thì pháp luật
cũng đã quy định chế tài khi NSDLĐ vi phạm các quy định về thời giờ làm việc, điển hình là Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/02/2020 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm
xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Chính các quy định chế tài này đã giúp hạn chế tình trạng bóc lột sức lao động
và tạo ra tính răn đe lớn đối với các doanh nghiệp
Trang 112.3 Những hạn chế, tồn tại của pháp luật lao động Việt Nam về thời giờ
làm việc.
Bên cạnh một số ưu điểm đạt được, pháp luật Lao động Việt Nam về thời giờ làm việc vẫn còn xuất hiện những tồn tại, hạn chế sau:
Thứ nhất, đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc một số đối tượng là phụ nữ, NLĐ chưa thành niên, người cao tuổi thì việc rút ngắn thời gian, giảm giờ làm việc nhưng hưởng nguyên lương sẽ dẫn đến tình trạng NSDLĐ có xu hướng hạn chế, “không tha thiết” đối với việc sử dụng những lao động này, hay nói cách khác tạo những “rào cản” về cơ hội việc làm cho họ
Thứ hai, việc tăng số giờ làm thêm là không quá 40 giờ trong 01 tháng
(tại điểm b Khoản 2 Điều 107 BLLĐ) mà không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực thì nhiều doanh nghiệp sẽ áp ngay cho NLĐ, buộc họ phải tăng theo vì điều kiện sống thiếu thốn hiện tại Như vậy NLĐ có thể sẽ bị ảnh hưởng về sức khỏe, những công nhân trẻ không có thời gian chăm sóc gia đình, con cái Bên cạnh đó, việc được tăng thêm giờ làm, doanh nghiệp sẽ hạn chế tuyển dụng lao động mới, điều này cũng sẽ gây áp lực rất lớn cho xã hội về cơ hội việc làm
Thứ ba, việc quy định thời giờ làm việc linh hoạt cho phép NLĐ có thể
lựa chọn số giờ làm việc trong một ngày, một tuần… sẽ khiến cho các cơ quan chức năng khó kiểm soát chính xác thời giờ làm việc của họ đặc biệt là đối với lao động nữ, lao động chưa thành niên… từ đó, hiện tượng NLĐ làm việc vượt quá số thời gian quy định sẽ xảy ra phổ biến Bên cạnh đó, một số công
ty còn hạn chế về công nghệ, quản lý bằng Internet thì sẽ khó xác định hay quản lý địa điểm thực hiện nhiệm vụ hàng ngày của nhân viên khi làm việc theo thời giờ làm việc linh hoạt
Trang 12Thứ tư, mặc dù pháp luật quy định là vậy, tuy nhiên, hiện nay vẫn còn
tình trạng nhiều doanh nghiệp chèn ép, bóc lột NLĐ về thời giờ làm việc Điển
Trang 13hình là vụ việc công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Gia Yên Bái tại huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái bị tố ép NLĐ làm từ 10 đến 12 giờ trong ngày và tăng
ca 3 buổi trong tuần Khi tan làm tự dọn lại chỗ của mình, quét dọn sạch sẽ phân xưởng, không cho thời gian nghỉ ngơi Nếu không làm sẽ bị phạt trừ vào lương Có thể thấy hành vi của công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Gia Yên Bái là vi phạm nghiêm trọng quy định của BLLĐ về thời giờ làm việc Ngày 05/5/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái ban hành Văn bản số 1247/UBND-TNMT xử lý các hành vi vi phạm đối với tổ chức, cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Gia Yên Bái
Thứ năm, quy định về thời giờ làm việc bình thường với quy định về
giao kết hợp đồng lao động chưa thực sự hợp lý Theo khoản 1 Điều 19 BLLĐ, NLĐ có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều NSDLĐ Vậy, nếu NLĐ ký kết nhiều hợp đồng lao động, thời gian làm việc của mỗi hợp đồng lao động là không quá 8 giờ trong 01 ngày thì sẽ như thế nào? Quy định như trên là chưa chặt chẽ, mâu thuẫn bởi quy định như vậy thì NLĐ sẽ bị vắt kiệt sức lao động
Thứ sáu, đối với thời gian nghỉ hàng năm của lao động nữ Theo quy
định tại khoản 1 Điều 113 BLLĐ, thì người lao động được nghỉ hằng năm tiêu chuẩn là 12, 14, 16 ngày tùy thuộc điều kiện lao động Chế độ này đang áp dụng chung cho cả đối tượng nam và nữ Tuy nhiên, quy định này chưa thực
sự phù hợp, bởi lao động nữ có những hạn chế hơn lao động nam về thể chất
và hoàn cảnh nên cần có thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn để tái sản xuất sức lao động một cách hiệu quả nhất
3 Kiến nghị một số giải pháp nâng cao và hoàn thiện pháp luật lao động
về thời giờ làm việc.
Từ những hạn chế, tồn tại nêu trên, em xin kiến nghị một số giải pháp nâng cao và hoàn thiện pháp luật Lao động về thời giờ làm việc như sau: