2.1 Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đạiđoàn kết toàn dân tộc và đoàn kểt tôn giáo...14 2.2 Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo phải đặt trong
Trang 1- -Tiểu Luận Môn: Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ NÀY
Sinh viên thực hiện: Vũ Ánh Ngọc
Lớp: Truyền thông đa phương tiện K41
Mã SV: 2151040034
Năm học: 2021 – 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
1 Lý do nghiên cứu đề tài 4
1.1 Sự cần thiết và tính thời sự của đề tài 4
1.2 Lý do chọn nghiên cứu đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
2.1 Mục đích nghiên cứu 5
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: DÂN TỘC – CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO – CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO 6
1 Dân tộc 6
1.1Khái niệm dân tộc 6
1.2 Các nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin .7
1.2.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng 7
1.2.2 Các dân tộc được quyền tự quyết 8
1.2.3 Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc 9
2 Tôn giáo 9
2.1 Khái niệm tôn giáo 9
2.2 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 11
CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13
1 Tổng quan mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam 13
2 Định hướng giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam 13
Trang 3
2.1 Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kểt tôn giáo 14
2.2 Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia 14
2.3Phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân nhất là các dân tộc thiểu số Cùng lúc kiên quyết loại bỏ ý nghĩ lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc vào mục đích chính trị 14
CHƯƠNG III: Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 16
1 Ý nghĩa với cá nhân người thực hiện 16
2 Liên hệ thực tiễn 16
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài.
1.1 Sự cần thiết và tính thời sự của đề tài.
Trên con đường hướng tới chủ nghĩa xã hội, vấn đề dân tộc phải gắn với vấn đề tôn giáo, nhất là ở một quốc gia đa tôn giáo như Việt Nam Quay ngược thời gian
về thế kỉ 16, giai đoạn Thiên chúa giáo bắt đầu du nhập về Việt Nam, tôn giáo này
đã vấp phải sự phản kháng quyết liệt trong nhiều mối quan hệ giữa giáo dân với lương dân, giữa “việc đạo” với “việc đời”, giữa giáo hội với chính quyền và bao trùm hơn cả là mâu thuẫn giữa Thiên chúa giáo với dân tộc Việt Nam ngay trên quê hương của “tam giáo đồng nguyên” Mâu thuẫn đã có giai đoạn leo thang và dẫn đến những xung đột, những cuộc chém giết đẫm máu giữa giáo dân và lương dân làm ảnh hưởng không nhỏ đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc Điều này hoàn toàn
có thể tham chiếu đến giai đoạn hiện nay nếu chúng ta không xử lí tốt hai vấn đề này Giải quyết ổn thỏa hai vấn đề này, tiềm lực của đất nước sẽ được phát triển tối
đa
Theo thống kê của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, “có
16 tôn giáo được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Tổng số có 13,2 triệu người theo tôn giáo, chiếm 13,7% tổng dân số cả nước Trong đó, số người theo Công giáo là đông nhất với 5,9 triệu người, chiếm 44,6% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 6,1% tổng dân số cả nước Tiếp đến là số người theo Phật giáo với 4,6 triệu người, chiếm 35% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 4,8% dân số cả nước” [1] Các số liệu này cho thấy tôn giáo đã trở thành một phần không thể thiếu đối với một bộ phận lớn nhân dân Và do đó, với một quốc gia tồn tại trên tôn chỉ
“của dân, do dân và vì dân” như Việt Nam thì tôn giáo phải được nhìn nhận như một “vấn đề còn tồn tại lâu dài”
Chưa kể, tôn giáo có thể trở thành một công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chia rẽ, can thiệp vào công việc nội bộ nước ta Với những lí do trên, mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo đã trở nên một vấn đề thời sự và cấp thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng đã chủ trương nêu rõ trong Nghị quyết số
Trang 5
25-NQ/TW ngày 23/03/2003: “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.”
1.2 Lý do chọn nghiên cứu đề tài.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và tôn giáo là vô cùng thực tế và chắc chắn sẽ là một vấn đề dài hạn và mang tính phức tạp đối với con đường đi lên xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, sự liên kết giữa tôn giáo và dân tộc là một mối tương liên thú vị Bởi, cả hai định nghĩa này đều mang tính chất “hư cấu” ở thời điểm khởi nguyên của xã hội loài người, là những định nghĩa góp phần hình thành nên các nhóm người cùng chung những đặc trưng như đức tin, ngôn ngữ, tiếng nói, trong xã hội, nhưng sau hàng ngàn năm phát triển, hai thực thể “hư cấu” này phát triển dần lên, trở thành một đề tài nghiên cứu vĩ mô, ảnh hưởng lên nhau, một dân tộc không thể bài trừ tôn giáo ra khỏi nó
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu.
Để làm rõ mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và tôn giáo cũng như đề ra những giải pháp thực tiễn trong việc giải quyết mối quan hệ này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nêu trên, tiểu luận này sẽ làm rõ những nội dung sau đây:
- Dân tộc và nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề dân tộc
- Tôn giáo và nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề tôn giáo
- Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và tôn giáo
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
- Các đề xuất giải pháp cho vấn đề quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: đề tài là dân tộc, tôn giáo và mối quan hệ của chúng Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam, giai đoạn hiện nay
Trang 6
NỘI DUNG CHƯƠNG I: DÂN TỘC – CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO – CÁC NGUYÊN TẮC
CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
1 Dân tộc.
1.1 Khái niệm dân tộc
Dân tộc là một khái niệm rộng và mang tính ví mô Do vậy, ở mỗi nền văn hóa khác nhau, dân tộc lại được gán cho một sự hình thành khác nhau Nếu ở phương Tây, sự thay thế từ phương thức sản xuất phong kiến sang tư bản chủ nghĩa đã góp phần vào việc hình thành của thực thể “dân tộc” thì ở Đông phương, “dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hóa, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán” [2, tr.196]
Ngày nay, dân tộc thường được hiểu với hai nghĩa phổ biến:
Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hệ chặt chẽ, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; bộ tộc, có sự kế thừa và phát triển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng người đó và thể hiện ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Hay nói tóm gọn, ở định nghĩa này, dân tộc được hiểu là một
bộ phậm của một quốc gia, ví dụ như Việt Nam có 54 dân tộc anh em: Dân tộc Kinh, Tày, Dao, Thái,
Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong quá trình dựng nước và giữ nước
Tóm lại, dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội mà đứng đầu là nhà nước, hình thành và phát triển trên một lãnh thổ nhất định, có tên
Trang 7
gọi, ngôn ngữ hành chính và biểu tượng văn hóa nhất quán hình thành nên bản sắc riêng của dân tộc đó Tuy nhiên, cần lưu ý rằng yếu tố lịch sử có ảnh hưởng đến tính ổn định của sự phát triển mỗi quốc gia dân tộc Do đó, cấu trúc cộng đồng dân tộc rất phong phú, điều này được xác định dựa trên sự đa dạng lịch sử, văn hóa, xã hội, Ngày nay, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, không gian xã hội được
mở rộng ra phạm vi toàn cầu nên xu hướng dân tộc đa tộc người trở nên phổ biến
1.2 Các nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin.
Giải quyết vấn đề dân tộc về cơ bản là xác lập quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Với nền móng là tư tưởng G Mác, Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc và giai cấp, cùng với sự phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã nêu ra
“Cương lĩnh dân tộc” với ba nội dung cơ bản: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Đây được coi
là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là một bộ phận không thể tách rời trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân; là tuyên ngôn về vấn đề dân tộc của đảng cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc Cương lĩnh đã trở thành cơ sở
lý luận cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ văn hóa cao hay thấp, được
bình đẳng là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của các dân tộc V.I.Lênin nhấn mạnh việc bảo đảm bình đẳng về quyền lợi cho các dân tộc, đặc biệt là những dân tộc ít người: “Chúng ta đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối về mặt quyền lợi cho tất cả các dân tộc trong quốc gia và sự bảo vệ vô điều kiện các quyền lợi của mọi dân tộc ít người” [3, tr.266] Như vậy, bình đẳng dân tộc gắn với việc bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong một quốc gia Để bảo đảm sự bình đẳng về
Trang 8
quyền lợi cho các dân tộc, đặc biệt là dân tộc ít người, V.I.Lênin phản đối gay gắt việc ưu tiên đặc quyền cho bất cứ dân tộc nào: “Không có một đặc quyền nào cho bất cứ dân tộc nào, mà là quyền bình đẳng hoàn toàn của các dân tộc”[4, tr.84] “Tất
cả các dân tộc trong nước đều tuyệt đối bình đẳng và mọi đặc quyền của bất cứ dân tộc nào hoặc ngôn ngữ nào đều bị coi là không thể dung thứ và trái với hiến pháp” [5, tr.157-158].Và sự bình đẳng đó, theo Lenin, là phải được quán triệt trên tất cả mọi mặt xã hội: “Một Nhà nước dân chủ không thể dung thứ một tình trạng áp bức, kiềm chế của một dân tộc này đối với bất cứ dân tộc nào khác trong bất cứ lĩnh vực nào, trong bất cứ ngành hoạt động xã hội nào” [6, tr.86] Bình đẳng trong kinh tế là bảo đảm quyền lợi, lợi ích kinh tế, quyền được phân phối công bằng tư liệu sản xuất cũng như thành quả của sự phát triển cho tất cả các dân tộc Bình đẳng trong chính trị
là bảo đảm quyền của các dân tộc trong tham gia vào đời sống chính trị, hệ thống chính trị của đất nước Bình đẳng trong văn hóa, xã hội là bảo đảm quyền hưởng các thành quả phát triển văn hóa, xã hội của đất nước, quyền được bảo vệ bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc
Để bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc được đề ra trong cương lĩnh, việ cban hành và hoàn thiện luật pháp của quốc gia đó phải được ưu tiên hàng đầu, trong đó phải ghi nhận đầy đủ sự bình đẳng trước hết là về quyền lợi giữa các dân tộc: “Vấn đề bảo vệ quyền của một dân tộc thiểu số chỉ có thể được giải quyết bằng cách ban bố một đạo luật chung của Nhà nước, trong một nước dân chủ triệt để, không xa rời nguyên tắc bình quyền” [7, tr.182] Pháp luật chính là cơ sở chắc chắn và có hiệu quả nhất để bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, thừa nhận sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực là yêu cầu đầu tiên để bảo đảm bình đẳng dân tộc
Quyền bình đẳng là cơ sở để các dân tộc thực hiện quyền tự quyết và xây dựng các mối quan hệ hợp tác giữa các dân tộc với nhau
1.2.2 Các dân tộc được quyền tự quyết.
V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng, quyền dân tộc tự quyết của các dân
tộc chính là quyền tự quyết về chính trị: “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là
quyền phân lập về mặt Nhà nước của các dân tộc đó ra khỏi tập thể dân tộc khác,
có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập” [8,tr.303] Để làm rõ cho định đề trên, Người cho rằng: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là
Trang 9
các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ” [9, tr.327] Như vậy, quyền dân tộc tự quyết là quyền của một dân tộc có thể tách ra trở thành một quốc gia dân tộc độc lập với việc tự quyết
định thể chế chính trị của mình khỏi một dân tộc khác đang áp bức họ.Từ đó, có thể hiểu quyền tự quyết của các dân tộc tức là quyền được tự quyết định vận mệnh dân tộc mình, tự do trong lựa chọn thể chế chính trị và con đường phát triển
Trong đó, quyền tự quyết bao gồm: quyền được tách ra thành một quốc gia độc lập, quyền liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng
Tuy nhiên, cần phân biệt quyền được tách ra thành một quốc gia độc lập với quyền của các tộc người thiểu số thuộc một quốc gia đa dân tộc Giá trị của tư tưởng V.I.Lênin về quyền dân tộc tự quyết chính là luôn đứng trên lập trường của giai cấp
vô sản để giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết Không phải Ông ủng hộ bất cứ một dân tộc nào trong một quốc gia thống nhất đòi tách ra thành lập quốc gia riêng biệt mà V.I.Lênin chỉ ủng hộ việc tách ra thành một quốc gia riêng biệt khi dân tộc
đó bị áp bức, bóc lột bằng các biện pháp bạo lực Cần nhấn mạnh điểm này để các thế lực thù địch không nhân cơ hội lợi dụng chiêu bài “tự quyết”, đánh tráo khái niệm để gây chia rẽ nội bộ các nước hoặc kích động đòi ly khai dân tộc
1.2.3 Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.
Đây là tư tưởng cơ bản và quan trọng trong cương lĩnh dân tộc của Lênin, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp, nó đảm bảo cho dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc vì độc lập dân tộc Có thể suy ra, đây là nội dung chủ yếu, là giải pháp tối
ưu để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thể
2 Tôn giáo
2.1 Khái niệm tôn giáo.
Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề vừa mới vừa cũ Bởi vì, xuất phát từ những góc nhìn, không gian văn hóa cũng như những luồng tư tưởng khác nhau mà nảy
Trang 10
sinh những quan niệm tôn giáo khác nhau Mặt khác, khi đi sâu vào tínnh cá thể, ta nhận ra một điều rằng mỗi cá nhân có thể tham gia hành vi và cảm nhận tôn giáo theo những cách thức riêng, điều này xuất phát từ tính phức tạp và muôn màu của đời sống xã hội Do đó, ta có nhiều cách tiếp cận tôn giáo khác nhau
Nếu tiếp cận từ quan điểm của chủ nghĩa Mác thì tôn giáo là một hình thái ý thức
xã hội phản ánh hư ảo hiện thực khách quan Ăng ghen cho rằng, “tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [10, tr.437] Song, chính những gì được cái nhà mácxít cho là “hư ảo” lại phần nào bù đắp cho cuộc sống cơ cực nơi trần thế Có một thứ để tin nào về mặt nào đó còn hơn là sống giữa một cuộc đời dài rộng nhưng không biết tin vào điều gì, khi đó, “tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [13, tr.570]
Ta cũng có thể tiếp cận định nghĩa tôn giáo theo quan điểm của các học giả như Luckmann, Schmidt, Y.Lambert, Các học giả này bước đầu đã nahajn thức được rằng khi nói tới tôn giáo là nói tới những yếu tố thiêng, và quan hệ giữa thiêng và tục là bước đầu xây dựng nên những thuộc tính của tôn giáo; đồng thời thấy được tôn giáo đã tạo ra những hệ quả quan trọng ảnh hưởng lên sự vận hành của xã hội [11, tr,197 – 208; 12, tr.164 -188] Tuy nhiên, về bản chất, những quan điểm trên thường gán đặc tính của tôn giáo như một hình thái linh thiêng, siêu nhiên, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại những thứ được coi là tôn giáo nhưng không quy chiếu vào cái linh thiêng, siêu nhiên như: Phật giáo, Khổng giáo, Chưa kể, các quan điểm trên đều có xu hướng nghiên cứu tôn giáo trên phương diện xã hội học
Nguồn gốc của tôn giáo cũng đa dạng và được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Trong xã hội công xã nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, con người cảm thấy yếu đuối và nhỏ bé trước sự hùng vĩ của thiên nhiên một cách không giải thích được Vậy là theo một lẽ dĩ ngẫu, con người gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực siêu nhiên, huyền bí “Khi xã hội xuất hiệnc ác giai cấp