1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn

73 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá kết quả giảm nghèo đối với đồng bào dân Dao tại Xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; - Đánh giá về thu nhập hộ gia đình dân tộc Dao đang sinh sống tạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

THÁI NGUYÊN – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập tại trường và sau hơn 4 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và PTNT; Các phòng ban cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang

bị cho em những kiến thức cơ bản, giúp em có những kiến thức mới trong quá trình thực tập tại cơ sở cũng như ngoài xã hội

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Trần Thị Ngọc đã

trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và

hoàn thành bài khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn tới cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, người dân

xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ để em có điều kiện được thực tập và nâng cao sự hiểu biết

Trong thời gian thực tập khóa luận, bản thân em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện khóa luận Tuy nhiên, với thời gian ngắn và hạn chế về kiến thức nên chuyên đề của em khó tránh khỏi những thiếu sót Vậy kính mong các thầy cô và giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2021

Sinh viên

Hoàng Xuân Hành

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Acre : Đơn vị diện tích của Bangladesh

BAAC : Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác tín dụng

TTLĐTBXH : Thông tư Bộ Lao động thương binh xã hội

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1.1 Khái niệm thuật ngữ 5

1.1.2 Quan niệm đói nghèo và nội dung của giảm nghèo bền vững 13

1.1.3 Chương trình giảm nghèo ở Việt Nam 15

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương liên quan đến giảm nghèo bền vững 18

1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 21

Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đặc điểm địa bàn xã An Thắng 23

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã An Thắng 23

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Xã An Thắng 23

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 28

Trang 6

2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 28

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn 31

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với chương trình giảm nghèo bền vững ở địa phương 31

2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu về kết quả đã đạt được của chương trình giảm nghèo qua các năm 2018, 2019 và 2020 32

2.4.3 Nhóm thông tin liên quan đến hộ gia đình và thu nhập của hộ gia đình 32

2.4.4 Nhóm thông tin liên quan hạn chế, yếu kém và giải pháp 32

Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Kết quả giảm nghèo của đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng 33

3.2 Thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng 38

3.3 Hạn chế, yếu kém về chương trình giảm nghèo đối với đồng bào

dân tộc Dao tại xã An Thắng 41

3.3.1 Một số hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện chương trình

giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Dao 41

3.3.2 Nguyên nhân nghèo đối với đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng 44

3.3.3 Kết quả đánh giá của hộ đồng bào dân tộc Dao về chương trình

giảm nghèo ở xã An Thắng 46

3.4 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo

bền vững đối với đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng 50

3.4.1 Nhóm giải pháp về đẩy mạnh công tác tuyên truyền và truyền thông 50

3.4.2 Nhóm giải pháp về cơ chế huy động vốn và tín dụng cho hộ nghèo

dân tộc Dao 51

3.4.3 Nhóm giải pháp về thực hiện lồng ghép các nguồn lực 51

3.4.4 Nhóm giải pháp về cơ chế thực hiện chương trình giảm nghèo 52

3.4.5 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực thực hiện chương trình 53

3.4.6 Nhóm giải pháp về điều hành, quản lý chương trình nhằm đảm bảo

chương trình giảm nghèo được bền vững 54

Trang 7

3.4.7 Nhóm giải pháp về chính sách y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình

đồng bào dân tộc Dao 54

3.4.8 Nhóm giải pháp về giáo dục, nâng cao năng lực và dạy nghề

cho người nghèo dân tộc Dao 56

3.4.9 Nhóm giải pháp về hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý

cho người nghèo dân tộc Dao 58

3.4.10 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực và giám sát đánh giá thực hiện

các chương trình giảm nghèo 60

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61

1 Kết luận 61

2 Khuyến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính

của xã An Thắng 24

Bảng 2.2 Tình hình chăn nuôi của xã từ năm 2018-2020 24

Bảng 2.3 Tổng số hộ nghèo tại các bản của xã An Thắng năm 2021 26

Bảng 2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã An thắng 27

Bảng 2.5 Số lượng mẫu điều tra phỏng vấn (đơn vị tính: hộ) 29

Bảng 3.1 Tiêu chí phân loại hộ năm 2020 34

Bảng 3.2 Hộ cận nghèo, hộ nghèo năm 2021 phân theo dân tộc 35

Bảng 3.3 Hộ nghèo, cận nghèo năm 2020 phân theo dân tộc 36

Bảng 3.4 Số hộ và số nhân khẩu hộ nghèo, cận nghèo năm 2019 37

Bảng 3.5 So sánh hộ cận nghèo, nghèo các năm 2018, 2019 và 2020 phân theo dân tộc 37

Bảng 3.6 Học vấn, nhân khẩu và lao động hộ cận nghèo và nghèo 39

Bảng 3.7 Thu nhập bình quân các năm 2018-2020 của hộ dân tộc Dao

so với các dân tộc khác trong xã( Mông, Nùng) 40

Bảng 3.8 Thu nhập bình quân ba năm 2018-2020 của hộ dân tộc Dao

so với các dân tộc khác trong xã An Thắng 40

Bảng 3.8 Đánh giá của người dân về thay đổi chất lượng cuộc sống 47

Bảng 3.9 Đánh giá của người dân về nguyên nhân chính làm cho cuộc sống

được cải thiện 48

Bảng 3.10 Đánh giá của hộ dân tộc thiểu số về tác động của chương trình

giảm nghèo 49

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới hơn 30 năm và là một trong những quốc gia thành công nhất trên thế giới trong công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh

tế trong vòng hai thập kỷ qua Sự nghiệp đổi mới đem lại nhiều thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước Trong sự thay đổi toàn diện đó, đáng chú ý nhất là

tỷ lệ đói nghèo gnayf càng giảm, giảm nghèo bền vững đang được nhà nước đầu tư lớn, chỉ đạo quyết liệt và các địa phương thực hiện có hiệu quả

Tỷ lệ đói nghèo đã giảm qua các năm bình quân mỗi năm giảm từ 2,3% đến 2,5% dù đã đạt nhiều thành quả như các chương trình giảm nghèo thời gian qua vẫn còn nặng tính bao cấp, thiếu kết nối Trong bối cảnh mới, tốc độ giảm nghèo đang chứng lại, nhiều hộ cận nghèo có nguy cơ tái nghèo cao Cùng với những tác động đa chiều của khủng hoảng kinh tế, xóa đói giảm nghèo đứng trước thách thức đặt biệt là các dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới phía Bắc Để góp phần vào thành quả giảm tỷ lệ đói nghèo, 7/1998, chính phủ chính thức phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo (Chương trình 133 ), giai đoạn năm 1998-

2000, phê duyệt chương trình 135 hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội cho các xã nghèo đặt biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu vùng xa Năm 2011 ban hành Nghị Quyết 80-Chính Phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kì từ năm 2011 đến năm 2020 Đây là những chương trình lớn tác động mạnh mẽ đến công cuộc xóa đói giảm nghèo Kết quả thực hiện chương trình 135 và chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững đã tạo ra những kết quả tích cực Cả nước đã thực hiện định canh, định cư, khai hoang mở rộng diện tích trồng lúa nước, trồng rừng mới, cây công nghiệp và cây ăn quả Về tín dụng, đã có hàng chục nghàn lượt hộ được vay vốn để phát triển sản xuất Bên cạnh đó, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng nông thôn đặt biệt

ở các xã vùng sâu vùng xa phục vụ sản xuất và đời sống được xây dựng, nhiều chương trình khuyến nông-lâm-ngư, giúp đỡ người nghèo biết cách làm ăn kinh tế được thực hiện

Trang 10

An thắng là một xã miền núi, vùng cao, là nơi sinh sống của nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào dân tộc: Dao, Mông, trong đó dân tộc Dao chiến khoảng 80% dân số tại địa bàn xã An thắng được đánh giá là Xã còn nhiều khó khăn nhất của huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn Công tác giảm nghèo ở địa phương này tuy đã đạt được mục tiêu đề ra ngay trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã An Thắng, nhiệm kỳ 2015-2020 Tuy nhiên, kết quả XĐGN chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo tuy

có giảm nhưng chưa bền vững, có nguy cơ tái nghèo, ý thức vươn lên làm giàu, chủ động XĐGN của người dân chưa cao; tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Trong vòng 3 năm 2018, 2019 và 2020 qua, tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo toàn

xã đã giảm từ 58,74% năm 2018, là năm đầu tiên bắt đầu triển khai chương trình giảm nghèo tại địa phương, xuống chỉ còn 55,83% năm 2019 và năm 2020 chỉ còn 52,65% Năm 2021 tổng số hộ dân tộc thiểu số cận nghèo và nghèo của xã An Thắng

là 192 hộ trên tổng số 275 hộ cư dân toàn xã; Tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo đạt bình quân 18,8%, giảm 5,19% so với năm 2020, giảm 6,09% so với năm 2018 Nhóm dân tộc Mông có tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo đạt cao nhất với 87,38%, (Dao (67,72%), Nùng (35,58%) Thu nhập bình quân 3 năm nghiên cứu của các hộ điều tra đạt trung bình 6,006 triệu đồng/khẩu/năm, tính trung bình mỗi khẩu một tháng có thu nhập 0,5 triệu đồng Trong đó nhóm dân tộc Dao có thu nhập cao nhất với giá trị thu nhập đạt 6,23 triệu đồng/khẩu/năm, tính cho mỗi tháng mỗi khẩu có thu nhập 0,450triệu đồng Dân tộc Nùng và Mông có thu nhập thấp nhất trong số các dân tộc tại Xã An Thắng Tiêu chí thu nhập của hộ dân tộc thiểu số tại Xã An Thắng còn thấp hơn rất nhiều so với chuẩn nghèo đang được áp dụng ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Bắc Kạn

Tình trạng thiếu việc làm, nhất là trong thanh niên, đời sống nhân dân trên địa bàn nhìn chung còn nhiều khó khăn Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm đó là Xã thuộc miền núi vùng cao, KT - XH còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, qui mô nền kinh tế nhỏ Hơn nữa do tập quán canh tác của đồng bào còn lạc hậu, chưa quen với sản xuất hàng hóa, đời sống văn hóa, xã hội vẫn còn những tập tục nặng nề, trình độ dân trí còn thấp, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, nên chưa tạo được đột phá trong phát triển kinh tế Khí hậu, thời tiết không thuận lợi; thiên tai, dịch bệnh thường xảy ra ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, sản xuất và đời sống của nhân dân Các nguồn vốn đầu tư của tỉnh, của

Trang 11

Trung ương về xây dựng kết cấu hạ tầng tuy được quan tâm, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển KT - XH, nhất là hạ tầng về giao thông, thủy lợi,

nước sạch Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo, công tác lãnh đạo,

chỉ đạo của các cấp, các ngành có lúc, có nơi chưa sâu sát; Năng lực cụ thể hóa và

tổ chức thực hiện các chủ trương, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo còn hạn chế; một số chỉ tiêu do khảo sát, kế hoạch, thiết kế và đánh giá chưa sát với thực tiễn dẫn đến một số chỉ tiêu không đạt theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Pác Nặm lần III nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra; Công tác quy hoạch,

kế hoạch, xây dựng các đề án, các kế hoạch, chương trình còn chưa sát, còn biểu hiện lúng túng, bị động, thiếu chủ động trong triển khai thực hiện Vì vậy việc thực

hiện đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các

hộ dân tộc Dao tại xã An Thắng , Huyện Pác nặm, tỉnh Bắc Kạn” là rất cần thiết,

góp phần thực hiện tốt chương trình giảm nghèo bền vững tại địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá kết quả giảm nghèo đối với đồng bào dân Dao tại Xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn;

- Đánh giá về thu nhập hộ gia đình dân tộc Dao đang sinh sống tại địa phương;

- Phân tích hạn chế, yếu kém về chương trình giảm nghèo đang thực hiện tại địa phương;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc Dao trên địa bàn nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến giảm nghèo và giảm nghèo bền vững của đồng bào dân tộc Dao Đối tượng điều tra khảo sát là hộ gia đình đồng bào dân tộc Dao trong diện cận nghèo và nghèo trên địa bàn toàn xã An thắng để nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu:

Đề tài tập trung đánh giá kết quả giảm nghèo qua các năm 2018, 2019, 2020

và thu nhập của hộ nghèo, cận nghèo dân tộc Dao đang sinh sống trên địa bàn

Trang 12

nghiên cứu, vì rằng đa số hộ dân Dao đều nghèo theo tiêu chí thu nhập Công tác quản lý Nhà nước đối với giảm nghèo bền vững ở cấp Xã, các hạn chế yếu kém trong quá trình triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo ở địa phương, ý kiến của hộ hưởng lợi từ chương trình giảm nghèo cũng được nghiên cứu, khảo sát, đánh giá để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp phần giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc Dao trên địa bàn Xã An Thắng, huyện núi Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

liệu sơ cấp thu thập trong năm 2020

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Cập nhật và hệ thống được các dẫn liệu khoa học về lý luận và thực tiễn liên quan đến giảm nghèo như: quản lý nhà nước về giảm nghèo, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương miền núi và gắn chặt với đó là thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình hiện nay; kết quả giảm nghèo; thu nhập của người dân; các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp phần giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc Dao và phát triển kinh tế xã hội ở xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Sinh viên hy vọng rằng những giải pháp mà đề tài đề xuất sẽ được chính quyền địa phương xã An Thắng có thể tham khảo, vận dụng, áp dụng vào thực tiễn chỉ đạo để phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội cho đồng bào dân tộc Dao ở địa phương trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 13

- Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ

- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu

- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác

Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (tức định lượng) được bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện

xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau Vấn đề quan trọng nhất

mà khái niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu không được thỏa mãn thì họ chính là những người nghèo đói Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã đưa ra hai khái niệm khác nhau, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

- Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói

Trang 14

- Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân

Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái niệm nghèo tương đối Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm nghèo tuyệt đối Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước Khái niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do

đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu

1.1.1.2 Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Vậy giảm nghèo là gì? Giảm nghèo là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật

lực của Nhà nước, của xã hội để triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm tác động tới các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ

về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người

Giảm nghèo bền vững là gì? Cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững Ngược lại, phát triển kinh tế bền vững lại là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững: Là kiên quyết không để tái nghèo, là phải duy trì các

nguồn lực, các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thực hiện triển khai liên tục

có hướng đích, có mục tiêu để không cho đói nghèo quay trở lại chính nơi chúng ta đang tích cực thực hiện xóa đói, nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảm nghèo

Tái nghèo: Một hộ được gọi là tái nghèo khi hộ đó đã thoát nghèo nhưng vì

nguyên nhân nào đó đã không còn khả năng ứng phó với những bất lợi trong cuộc sống dẫn đến đói nghèo, tức là có mức thu nhập thấp hơn mức chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến khi có tác động của thiên tai, rủi ro, bệnh tật hoặc do chuẩn nghèo thay đổi ở mức cao hơn

Trang 15

Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trước hết cần đảm bảo cả 2 mặt:

số lượng và chất lượng Số lượng giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm), cần phân biệt giữa

số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này sẽ chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo, Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo

Thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm (thể hiện về mặt lượng), tuy nhiên nếu xét về mặt chất lượng thì nhìn chung đại bộ phận nhân dân ở nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao đều có thu nhập thấp, chỉ đạt trên chuẩn nghèo khoảng 5-10%; trong điều kiện giá cả 18 vật tư cho sản xuất, hàng hóa cho tiêu dùng thiết yếu đều tăng nhanh; dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt xảy ra với quy mô, tần suất lớn, tập trung ở những vùng nghèo, thiệt hại về sản xuất, tài sản và nhà ở rất lớn, đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo hết sức khó khăn; khả năng tự phục hồi sau hậu quả dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt của hộ nghèo rất hạn chế, trong khi đó chúng ta lại chưa có cơ chế, phương thức hỗ trợ tại chỗ của cộng đồng (như quỹ hỗ trợ cộng đồng, ) Mặt khác, tốc độ giảm nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn giữa các vùng trên cả nước (Chu Tiến Quang, 2006)

Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên gia

về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo và làm giàu bằng chính khả năng của mình dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội sẵn có

Trang 16

Nhiều người thường nói: “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà,

tặng phương tiện sống”, Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức

thời, không bền vững Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà

tự họ không thể tiếp cận và duy trì Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro Đặc biệt,

sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận Tác giả luận văn cũng đồng ý với quan niệm trên về giảm nghèo bền vững Đây chính là

việc tặng “cần câu” thay vì tặng “xâu cá”, bên cạnh đó còn tạo cho họ khả năng tự

biết tìm cách nuôi cá thay vì chỉ đi câu,… tạo ra sự chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng Bên cạnh đó cần có biện pháp giúp họ phòng ngừa rủi ro, để tự họ có thể khắc phục rủi ro như họ có thể tự chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, xây dựng lại nhà cửa sau thiên tai, Muốn vậy, người nghèo cần được tiếp cận và duy trì với các loại dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, pháp lý,… Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm xác định nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực hạn chế như của chúng ta hiện nay Do vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt được các xu hướng

và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những bài toán, bất cập nêu trên

1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo

Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như:

- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập, nếu gặp rủi ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo

Trang 17

- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương

- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình

trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh,… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo

- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khỏe để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống

- Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được công tác giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở đó có những biện pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo (Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội, 2015)

1.1.1.4 Chuẩn nghèo

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai

thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo (đường nghèo) Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này

là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo, thoát nghèo Chuẩn nghèo là công cụ để

đo lường và giám sát nghèo đói Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo Cần phân biệt hai loại chuẩn nghèo tuyệt đối

và chuẩn nghèo tương đối

Chuẩn nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại Phương pháp chung để xác định chuẩn nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu cho con người Do vậy chuẩn nghèo này gọi là

Trang 18

chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm và thường là thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác

Chuẩn nghèo tương đối (chuẩn nghèo chung): Được xác định theo phân phối

thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ chuẩn nghèo tương đối

có thể là 50% mức thu nhập trung bình của cả nước)

Trên bình diện quốc tế, Ngân hàng Thế giới (WB) đã tính toán chuẩn nghèo tuyệt đối quốc tế cho các nước có thu nhập thấp là 1USD/ngày và cho các nước có thu nhập trung bình là 2 USD/ngày (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015)

Trong những năm trước đây, nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức

đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế sau đây:

Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như

tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội,…) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công,…)

Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào

việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân)

Vì những hạn chế trên nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu

Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo

Trang 19

đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn,

tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 03 hộ thoát nghèo thì lại có 01 hộ trong số đó lại tái nghèo

Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà

lá đơn sơ, bốn bề gió lùa,… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo

Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau,

có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội

Hiện nay ở nước ta, theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, cụ thể:

Các tiêu chí về thu nhập

- Chuẩn nghèo:700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

Trang 20

- Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội, 2015)

Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và

vệ sinh; thông tin;

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 ở nước ta như sau:

a) Đối với hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến

1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000

đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

b) Đối với hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 21

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

c) Đối với hộ có mức sống trung bình

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

và phân loại hộ gia đình hàng năm, do đó trong đề tài luận văn này, tác giả cũng sẽ khảo sát thu nhập của nhóm hộ gia đình thuộc diện cận nghèo và hộ nghèo để tìm hiểu các mối quan hệ giữa thu nhập với một số yếu tố nguồn lực của hộ nhằm tìm kiếm cách tiếp cận và giải pháp để có thể làm tốt công cuộc giảm nghèo cho hộ gia đình nông thôn

1.1.2 Quan niệm đói nghèo và nội dung của giảm nghèo bền vững

1.1.2.1 Quan niệm về đói nghèo

Ở nước ta, về lịch sử, quan niệm về đói, nghèo thường trực diện và đơn giản hơn như: đói nghèo là không đủ ăn, nhà cửa dột nát, thường xuyên ốm đau, nhưng không có tiền chữa bệnh, con cái không được đến trường, Dựa trên các khái niệm của các tổ chức thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể về đói, nghèo và được nghiên cứu ở các cấp độ: cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng

Trang 22

Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống

Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng

- Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt) Đói kinh niên là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét

- Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ,

- Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ

ấm, không có khả năng phát triển sản xuất

- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở

hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, trình độ dân trí thấp,

- Huyện nghèo: là huyện có tỉ lệ hộ nghèo trên 50% (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015)

1.1.2.2 Nội dung của giảm nghèo bền vững

Trên góc độ lý thuyết như đã trình bày ở các nội dung trên cho thấy vấn đề

giảm nghèo bền vững phải được xây dựng trên nền tảng mối quan hệ biện chứng

giữa phát triển bền vững và giảm nghèo Về vấn đề phát triển bền vững, đây là mục tiêu bao trùm, xuyên suốt và là mục tiêu trọng tâm của sự phát triển nền kinh

tế xã hội nói chung và của việc giảm nghèo bền vững nói riêng, trong đó sự phát triển bền vững phải đảm bảo 3 yếu tố là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội

và bền vững về môi trường; Về vấn đề giảm nghèo, đây là mục tiêu cụ thể, là nội dung quan trọng có tính then chốt của giảm nghèo bền vững

Bản chất của giảm nghèo bền vững là sự thoát nghèo được dựa trên nền tảng của sự người nghèo được trang bị và có đầy đủ nội lực tự vươn lên thoát nghèo, đủ sức để đề phòng và chống chịu với các tác động bất lợi đến các mặt của đời sống

Trang 23

1.1.3 Chương trình giảm nghèo ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 100/2015/QH13 về phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 Theo đó, từ 16 chương trình, thì giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia rút lại còn 2 chương trình, gồm Chương trình xây dựng Nông thôn mới và Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), tháng 9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 Mục tiêu cụ thể là phấn đấu giảm tỷ lệ

hộ nghèo cả nước bình quân 1% - 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% - 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần); Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo,… Đến năm 2020, có 50% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; 30%

số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 20 - 30% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn (Quyết định 1722/QĐ-TTg, 2016)

Cần nhấn mạnh một số điểm mới trong Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 là: Tập trung vào địa bàn khó khăn nhất, vùng sâu, vùng xa, dân tộc,

Trang 24

miền núi; Tích hợp các chương trình, dự án trước đây như: CT30a, 135, xuất khẩu lao động, thông tin truyền thông; Thực hiện giảm nghèo theo tiêu chí đa chiều, lấy chỉ tiêu thu nhập là chính, bên cạnh đó cũng xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; gắn kết với thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM và 21 Chương trình có mục tiêu; Thực hiện phân

bổ vốn trung hạn, bảo đảm công khai, minh bạch, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương,

cơ sở; Chương trình lấy đối tượng người nghèo làm trung tâm để thực hiện hỗ trợ, mở rộng thêm đối tượng hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, tạo điều kiện để người lao động là người sau cai nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ bị buôn bán trở về

Chương trình cũng chuyển mạnh từ việc cấp phát, cho không sang hỗ trợ có điều kiện để nâng cao ý thức, trách nhiệm của người nghèo Nhà nước chỉ hỗ trợ những gì người dân không làm được, nhà nước không làm thay mà chỉ ban hành cơ chế hướng dẫn thực hiện Tăng cường trao quyền cho người dân, cộng đồng để phát huy sáng kiến, cách làm hay phù hợp đặc điểm địa bàn, đặc điểm nhóm dân cư, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đi đôi với trách nhiệm giải trình Nguồn lực thực hiện Chương trình chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, đồng thời huy động

sự đóng góp của doanh nghiệp, cá nhân, cộng đồng, điều này được thể hiện rõ trong cách thức triển khai thực hiện các dự án, tiểu dự án của Chương trình Về cơ chế, tổ chức bộ máy chỉ đạo điều hành thực hiện được thống nhất từ Trung ương đến cơ sở

Theo khung Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn

2016 - 2020 có tổng mức vốn thực hiện từ ngân sách nhà nước tối thiểu là gần 46.000 tỷ đồng Ngoài ra, huy động nguồn viện trợ nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác khoảng 2.000 tỷ đồng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững gồm 5 dự án thành phần như sau:

- Dự án 1: Chương trình 30a, gồm 4 tiểu dự án: (1) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, (2) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, (3) Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, (4) Hỗ trợ cho các hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu

số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Trang 25

- Dự án 2: Chương trình 135, gồm 3 tiểu dự án (1) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt khó khăn, (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt khó khăn, (3) Nâng cao năng lực cho cộng đồng, cán bộ cơ sở xã đặc biệt khó khăn,

xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt khó khăn

- Dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng

mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài chương trình 135 và chương trình 30a

- Dự án 4: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin

- Dự án 5: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình (Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015)

Trong đó các dự án của Chương trình giảm nghèo tại xã An Thắng thì có:

Nội dung thực hiện: hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã

+ Thực hiện 2 Dự án chăn nuôi trâu, bò sinh sản số hộ hưởng lợi 27 hộ kinh phí thực hiện: 350.663.700 đồng

+ Thực hiện Dự án trồng cây mận sớm ( chăn sóc năm thứ 2): 37.410.000 đồng với 20 hộ hưởng lợi

+ Thực hiện Dự án chăn nuôi sinh trâu, bò sinh sản ( năm thứ 2): 1.880.000 đồng

Trang 26

Nội dung thực hiện: Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn xã

+ Thực hiện 2 Dự án chăn nuôi trâu, bò sinh sản số lượng hưởng lợi là 14 hộ kinh phí thực hiện là: 175.719.960 đồng; thực hiện tại thôn: Nà Mu, Tân Hợi

+ Thực hiện trồng cây mận sớm ( chăm sóc năm thứ 2): 34.540.500 đồng với

20 hộ hưởng lợi

+ Thực hiện Dự án chăn nuôi trâu, bò sinh sản ( năm thứ 2): 1.739.000 đồng

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương liên quan đến giảm nghèo bền vững

Nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo đã từng bước được thể chế hóa thông qua việc xây dựng pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu và chính sách

cụ thể với phương châm mang tính nguyên tắc đó là “kết hợp hài hòa giữa tăng

trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội”,“thu hẹp dần khoảng cách

về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư” Với quyết tâm và nỗ lực của cả hệ thống chính trị và người dân, Việt

Nam đã hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói vào năm 2002 (sớm hơn 13 năm so với mục tiêu và sớm hơn 8 năm so với kết quả chung của toàn cầu) Kết quả to lớn này đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo quốc gia

Theo báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22% năm 2005 xuống 9,45% năm 2010 (chuẩn cũ) và từ 14,2% năm 2010 xuống 9,6% năm 2012 (chuẩn giai đoạn 2011-2015) Ở các xã và thôn, bản đặc biệt khó khăn, tỷ

lệ hộ nghèo đã giảm từ 47% năm 2006 xuống 28,8% năm 2010 Đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo theo các nghị quyết của Quốc hội hàng năm, 5 năm cho thấy, giai đoạn 2005 - 2012 tỉ lệ giảm nghèo cả nước đều đạt và vượt chỉ tiêu, bình quân giai đoạn này, mỗi năm giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 2,3 - 2,5% Về quy mô, kết quả giảm nghèo diễn ra ở tất cả các vùng, miền, thành thị và nông thôn trong các nhóm đối tượng Năm 2005, có 6 vùng tỉ lệ nghèo ở mức trên 20%, năm 2010 có 4 vùng tỉ

lệ nghèo trên 20%, đến năm 2011 chỉ còn 2 vùng có tỉ lệ nghèo trên 20% (miền núi Đông Bắc và miền núi Tây Bắc) Năm 2012 chỉ còn miền núi Tây Bắc có tỉ lệ hộ nghèo 28,55% và 62 huyện 30a, 30 huyện được áp dụng cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng

Trang 27

theo Nghị quyết 30a chủ yếu tập trung ở các khu vực này (Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội, 2015)

Kết quả giảm nghèo bền vững dưới sự tác động của vai trò quản lý nhà nước

đã được thể hiện rõ ở các địa phương cơ sở thời gian qua Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu:

a) Huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi)

Kinh nghiệm của huyện miền núi Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi là: "Phải có một

đánh giá tổng quát" Chương trình khuyến khích người dân tạo ra sản phẩm đối với

huyện miền núi Sơn Tây không ngoài sản phẩm gì khác là keo, mì và lúa nước Việc đánh giá phương thức đầu tư, hỗ trợ là cần thiết, bởi Sơn Tây cũng chưa biết “tìm lối đi” như thế nào cho phù hợp Quan điểm của Sơn Tây về trồng cây gì khác biệt là rất khó khăn, bởi chưa có cơ quan nào đánh giá Sơn Tây thích hợp trồng loại cây gì Đơn

cử như cá tầm, mắc ca, huyện cũng chỉ mò mẫm để làm Để phát triển bền vững, huyện mời Viện Khoa học Tây Nguyên về khảo sát, đánh giá địa hình để xây dựng mạng lưới cây trồng một cách khoa học Trước đây, Sơn Tây có làm, nhưng tốn nhiều tiền mà không hiệu quả Hầu như các quy hoạch chỉ là sao chép, không đáp ứng được nhu cầu phát triển riêng biệt của địa phương Muốn thoát nghèo bền vững và phát triển phải có một đánh giá tổng quát trên phương diện của từng địa phương cụ thể Rõ ràng là vai trò của các tổ chức khoa học, các nhà khoa học đã được thể hiện rõ đối với công cuộc giảm nghèo ở địa phương miền núi này

b) Xã Đồng Sơn (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ)

Đồng Sơn là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện 30a Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm tỉnh lỵ gần 80km Từ một xã có tỷ lệ hộ nghèo cao lên tới 60,63% vào năm 2008, đến nay với việc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ đầu tư cơ sở hạ tầng đến hỗ trợ phát triển sản xuất, giúp nhau vay vốn để chăn nuôi, trồng trọt, nhiều

hộ trong xã đã thoát khỏi đói nghèo Theo cách tiếp cận đa chiều trong giai đoạn mới, Đồng Sơn đang nỗ lực giúp đồng bào dân tộc thoát khỏi cái nghèo về thu nhập và những thiếu hụt về các dịch vụ xã hội cơ bản

Bài học kinh nghiệm rút ra từ địa phương này là: Trao quyền, hỗ trợ có điều

kiện, tạo trách nhiệm và động lực vươn lên thoát nghèo

Trang 28

Tóm lại, thực tiễn ở nước ta đã có nhiều địa phương có những cách làm,

những kinh nghiệm khác nhau để giảm nghèo và các liên quan đến giảm nghèo Xuất phát từ việc thực hiện ở một số địa phương trong nước đã nêu ở trên, có thể rút ra những kinh nghiệm cho các hộ dân tộc Dao tại xã an Thắng, huyện Pác nặm, tỉnh Bắc Kạn về quản lý Nhà nước đối với giảm nghèo bền vững áp dụng cho thời gian tới như sau:

- Cần đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, vai trò quản lý của Nhà nước là nhân tố quyết định đối với mục tiêu giảm nghèo bền vững

- Nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là người nghèo dân tộc Dao, cùng với sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư nhằm tạo thêm động lực hỗ trợ cho người nghèo nâng cao trách nhiệm, nỗ lực để cải thiện cuộc sống của mình

- Đổi mới công tác quản lý nhà nước trong việc điều hành và phân công trách nhiệm cụ thể đối với các Bộ, ngành trung ương để đảm bảo lồng ghép chính sách và nguồn lực, đồng thời phân cấp trách nhiệm nhiều hơn cho các địa phương, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở và đội ngũ cán bộ trực tiếp trong quá trình tổ chức thực hiện, hướng dẫn, hỗ trợ người nghèo tìm kiếm giải pháp thoát nghèo phù hợp với điều kiện của mình

- Phát huy nỗ lực vươn lên, khuyến khích sự chủ động tham gia của người nghèo, cộng đồng dân cư cùng với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo là điều kiện để nâng cao khả năng thoát nghèo

- Lấy người nghèo dân tộc thiểu số làm trung tâm để hoạch định chính sách, để tác động và đầu tư, phải tập trung đẩy lùi lạc hậu, nâng cao trình độ dân

trí và mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần nhân dân, coi đó là “chìa

khóa” để XĐGN bền vững, lưu ý luôn luôn đặt yêu cầu chống tái nghèo làm

trung tâm của hoạch định chính sách cho chương trình giảm nghèo bền vững

- Nội dung quản lý Nhà nước đối với giảm nghèo bền vững là từ chính sách chung được ban hành phải biết rõ mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán khác nhau để triển khai thực hiện phù hợp, như vậy mới có thể phát huy tối

Trang 29

đa hiệu quả Cần có thêm các chính sách đặc thù phù hợp với thực tế của từng địa phương

Các bài học quý trên đây ở các địa phương, rất đáng được tham khảo, vận dụng đối với triển khai chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo tại xã An Thắng, huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn

1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là vấn đề chính sách mà còn là một vấn

đề xã hội nổi bật, là chủ đề của rất nhiều các nghiên cứu, đánh giá được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước Các nghiên cứu về giảm nghèo đã được thực hiện từ rất sớm, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, gắn liền với việc thực hiện các chính sách giảm nghèo

Hiện nay chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững đang được đặt ra cấp thiết, các cấp các ngành và toàn xã hội đang vào cuộc để thực hiện thành công nhiệm vụ trọng đại này Tuy nhiên, quá trình thực hiện vừa qua bộc lộ một số vấn

đề cần quan tâm về hiệu quả quản lý Nhà nước trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình, xác định bước đi, huy động nguồn lực đến tổ chức chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo bền vững Những bất cập này cần được phân tích đánh giá, tìm ra nguyên nhân và có những giải pháp khắc phục kịp thời

Để giải quyết đói nghèo hiện nay, không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia mà nó

đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ đói nghèo không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, mà nó còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn sâu sắc Các tổ chức, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn thuộc các cơ quan, đơn vị ở nhiều cấp, ngành và địa phương khác nhau đã có nhiều nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở các góc độ khác nhau

Theo tác giả Trần Lệ Thị Bích Hồng (2018), trong công trình nghiên cứu của mình về ảnh hưởng của chính sách xóa đói giảm nghèo tới sinh kế của hộ nghèo dân tộc thiểu số ở huyện Võ Nhai, một huyện nghèo trong diện 30a của tỉnh Thái Nguyên, tác giả cho biết: Trong những năm gần đây, xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số luôn được các cấp, các ngành ở huyện Võ Nhai quan tâm, số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Võ Nhai không ngừng giảm đi Các vấn đề này có những vấn đề mới nổi, cũng có những vấn đề đã tồn tại từ lâu và nay trở thành

Trang 30

vấn đề đáng chú ý, vấn đề then chốt trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo và ảnh hưởng của các chính sách đó đến sinh kế người dân đặc biệt là người dân tộc Dao

Để nâng cao hiệu quả của một chính sách hay chương trình, việc đánh giá ảnh hưởng của các chính sách cần phải được thực hiện để hiểu được các khoản đầu tư, các chính sách hỗ trợ có thực sự đem lại hiệu quả hay không Nếu nhìn nhận một cách chủ quan, những kết quả đạt được tưởng như do chính sách đem lại nhưng thực tế lại là một kết luận chưa chính xác Do vậy, việc ảnh hưởng của chính sách phải chỉ rõ được những bằng chứng chứng minh sự thay đổi nào gắn với những ảnh hưởng trực tiếp từ các chính sách cụ thể

Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng,

hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo và làm giàu bằng chính khả năng của mình dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội sẵn có

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến giảm nghèo Các nghiên cứu thảo luận các vấn đề trên nhiều cấp độ và các khía cạnh khác nhau là khá toàn diện, bao gồm cả về thực trạng nghèo đói, phạm vi đối tượng hưởng lợi,

sử dụng các phương pháp truyền thống cũng như hiện đại để phân tích sự ảnh hưởng của chính sách đến giảm nghèo, quan điểm giảm nghèo đa chiều từ đó chỉ

ra được những hạn chế, bất cập trong thực hiện chương trình giảm nghèo ở các địa phương, nhất là địa phương miền núi, các nghiên cứu đã làm rõ những hạn chế, bất cập, chồng chéo của công tác giảm nghèo hiện nay, để từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm giảm nghèo có tính thực tiễn cao Tuy nhiên, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, nhấn mạnh đến vấn đề quản lý Nhà nước đối với công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Trang 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn xã An Thắng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã An Thắng

An Thắng là một xã của huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam

Xã An Thắng có tổng diện tích theo km2, 32,57km2, dân số khoảng 1092 người( 2021), mật độ dân số tương ứng 33,5 người/km2 Sông Năng tạo thành ranh giới phía đông xã với tỉnh Cao Bằng

Ví trí địa lý:

- Phía Bắc giáp xã Mai Long của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Phía đông giáp xã Phan Thanh ( huyện Nguyên bình, Tỉnh Cao Bằng)

- Phía Nam giáp xã Bạch Trạch của huyện Ba Bể, xã Ngiêm Loan

- Phía Tây giáp với xã Xuân La

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã; số hộ: 3.320,4 (ha), địa hình đồi núi phức tạp, bị chia cắt mạnh, dốc đứng, núi cao, khe sâu; số hộ: 271 hộ, dân số: 1.450 người, với các dân tộc Mông, Dao sinh sống là chủ yếu; số thôn: 7 thôn ( trong đó

số thôn đặt biệt khó khăn 6 thôn ) Tỷ lệ hộ nghèo hộ, cận nghèo còn cao, theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo cuối năm 2020:134 hộ chiếm 49,45%, hộ cận nghèo là

65 hộ chiếm 23,99%

Cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu là nông lâm nghiệp nhân dân trong xã chủ yếu canh tác trên đất dốc đất đai dễ bị bạc màu hơn nữa diện tích cách tác lại rất manh mún nên hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp cuộc sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, địa hình đồi núi phức tạp, giao hông đi lại còn khó khăn

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Xã An Thắng

Xã An Thắng có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp:

- Về trồng trọt: cây trồng chủ yếu là cây lương thực như: Lúa, ngô

Trang 32

Bảng 2.1 Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính

(Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế, xã hội của UBND xã An Thắng)

Qua bảng 2.1 ta thấy tình hình phát triển cây Lúa qua các Năm tăng lên: năm

2018 diện tích lúa/ha là 52ha, năm 2019 là 54ha và Năm 2020 là 58ha Năng suất của lúa cũng tăng theo các năm Sản lượng của cây Lúa cũng tăng theo diện tích Lúa/ha tăng lên thì sản lượng Lúa cũng tăng theo qua các năng Như vậy nghành trồng trọt của xã An Thắng sẽ đáp ứng đủ lương thực cho toàn xã cũng như phát triển kinh tế của xã và trao đổi hàng hóa với các xã khác trong khu vực

- Về chăn nuôi: phát triển chăn nuôi ở xã An Thắng có chăn nuôi gia súc như: Trâu, bò và chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt

Bảng 2.2 Tình hình chăn nuôi của xã từ năm 2018-2020

Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020

Trang 33

Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy tình hình chăn nuôi của xã an Thắng tăng lên theo các năm:

- Chăn nuôi Trâu Năm 2018 là 610 con toàn xã đến Năm 2019 thì đã tăng lên

625 con và đến Năm 2020 thì đạt 650 con, như vậy ta nhận thấy chăn nuôi trâu qua các năm đều tăng lên

- Chăn nuôi bò năm 2018 là 240 toàn xã đến năm 2019 đã tăng lên 252 con và đến năm 2020 thì tăng lên 270 con

- Chăn nuôi Lợn năm 2018 đạt 1050 toàn xã, đến năm 2019 đã tăng lên 1950 con và đến năm 2020 đã tăng lên 2150 con

- Chăn nuôi Dê toàn xã đạt 115 con, đến năm 2019 tăng lên 122 con và đến năm 2020 đã tăng lên 135 con

- Chăn nuôi gia cầm cũng tăng lên theo các năm từ năm 2018 là 10200 con đến năm 2020 đã tăng lên 12750 con

Như vậy ta nhận thấy nghàng chăn nuôi của xã ngày một phát triển, đáp ứng được nhu vào của địa phương cũng như cung ứng ra thị trường bên ngoài

- Về lâm nghiệp: sản xuất hiện nay ở xã chủ yếu trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ, vì rừng trồng hiện nay trên địa bàn xã chưa đến kì khai thác nên chưa có thu nhập kinh tế về rừng

- Các ngành kinh tế khác: hiện nay ngành kinh tế của xã vẫn tập trung vào sản xuất nông lâm là chủ yếu, các ngành nghề dịch vụ đã có nhưng còn ở quy mô nhỏ

Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ Xã An Thắng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phát huy nội lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và mạnh dạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng các mô hình kinh tế, triển khai có hiệu quả các chính sách đảm bảo an sinh xã hội

Xã An Thắng có 3 Dân tộc chính: Dao, Mông và Nùng Trong đó, dân tộc Dao chiến khoảng 80%, dân tộc Mông chiến khoảng 18% còn lại là dân tộc Nùng chiến 3% Như vậy, toàn Xã An Thắng có tới 100% là dân tộc thiểu số

Trang 34

Tổng số hộ trên toàn Xã 271 hộ, trong đó hộ nông nghiệp chiếm 91,5%, tương ứng là 262 hộ; lao động chủ yếu của nguời dân xã An Thắng là lao động nông nghiệp với tổng số là 1405 người, chiếm 90,22% Qua 3 năm số hộ tham gia vào hoạt động dịch vụ, thương mại và công nghiệp, xây dựng tăng không đáng kể (bình quân chỉ tăng 0,5%), điều này chứng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu giữa các năm theo xu hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ còn chậm, chưa phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của đất nước

Tỷ lệ hộ nghèo ở mức rất cao so với bình quân chung của cả xã An Thắng Năm 2021 tỷ lệ hộ nghèo 51,64%, năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo 49,45%, năm 2019 tỷ

lệ hộ nghèo là 53,33%, năm 2018 tỉ lệ hộ nghèo là 55,51% Do đó, việc phát triển nông nghiệp theo mũi nhọn là hết sức cần thiết, đặc biệt là phát triển chăn nuôi và nghiên cứu đầu ra cho bò thịt và lợn giúp hộ chăn nuôi đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn

Bảng 2.3 Tổng số hộ nghèo tại các bản của xã An Thắng năm 2021

Trang 35

và vận dụng vào thực tiễn Người dân vẫn ỷ lại hỗ trợ từ nhà nước, các chính sách của nhà nước đối với hộ nghèo, cận nghèo, một số hộ gia đình còn tái nghèo cho nên việc phát triển kinh tế cũng như thoát nghèo đối với các hộ gia đình còn chưa có nhận thức tốt Người nông dân chưa biết áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất

Hệ thống đường giao thông: xã An Thắng nằm cách trung tâm huyện Pác nặm 25km về hướng tây, hệ thống đường giao thông nỗi liềm các thôn tính đến năm 2021 tất cả các thôn trong xã An Thắng đều có đường bê tông đến tất cả các thôn (7 thôn)

Hệ thống thủy lợi của xã đa phần đều là các công trình nhỏ, quy mô tưới ít Đến năm 2020, toàn xã có 7 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, đáp ứng nhu cầu nước tưới cho trên 70% tổng diện tích lúa của xã

Hệ thống điện lưới: 100% số hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia( năm 2021)

Về giáo dục: Toàn xã có 8 trường học, trong đó; 7 trường Tiểu học( mỗi thôn bản có một điểm trường tiểu học); 1 trường Trung học cơ sở; Về cơ sở vật chất các trường nhìn chung chưa được đầu tư đồng bộ, hầu hết chưa có phòng thư viện, phòng thí nghiệm

Về văn hóa: 1 bưu điện văn hoá và 1 nhà văn hóa xã Hàng năm có trên 80% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa

Về y tế: Toàn xã có 01 Trạm y tế xã, trình độ tay nghề y, bác sỹ cơ bản đáp ứng được công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân

Bảng 2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã An thắng

I Điện sinh hoạt

III Hệ thống thủy lợi

Trang 36

(Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế, xã hội của UBND xã AN Thắng)

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau đây:

- Kết quả giảm nghèo của đồng bào dân tộc Dao tại xã An Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

- Thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Dao Tại Xã An Thắng

- Hạn chế, yếu kém đối với chương trình giảm nghèo đang thực hiện tại địa phương

- Đề xuất số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, trên địa xã an Thắng

2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng các tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận vĩ mô: Sử dụng tiếp cận vĩ mô để thu thập các thông tin số liệu ở tầm tổng thể, bao quát trên phạm vi vĩ mô toàn Xã An thắng, đồng thời thu thập thông tin qua khảo sát ở cấp ban, ngành liên quan đến hoạt động giảm nghèo Sử dụng tiếp cận này để thảo luận nhóm với những người có liên quan đến giảm nghèo của địa phương Đối tượng tham gia thảo luận là cán bộ giảm nghèo cấp xã, nhằm xác định những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện chương trình giảm nghèo, đồng thời đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chương trình giảm

Ngày đăng: 28/04/2022, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015). Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện các chính sách và Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững năm (2011-2015), Phương hướng nhiệm vụ giảm nghèo 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện các chính sách và Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững năm (2011-2015)
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2015
3. Trần Lệ Thị Bích Hồng (2018), Ảnh hưởng của chính sách xóa đói giảm nghèo tới sinh kế của hộ nghèo dân tộc thiểu số ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, Luận án Tiến sĩ ngành Kinh tế nông nghiệp. Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chính sách xóa đói giảm nghèo tới sinh kế của hộ nghèo dân tộc thiểu số ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Trần Lệ Thị Bích Hồng
Năm: 2018
4. Dương Văn Sơn và Bùi Đình Hòa (2012). Giáo trình phương pháp nghiên cứu kinh tế xã hội. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiên cứu kinh tế xã hội
Tác giả: Dương Văn Sơn và Bùi Đình Hòa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), Đề án tổng thể Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều, áp dụng trong giai đoạn 2016 - 2020 Khác
5. Huyện ủy Pác Nặm (2020), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Pác Nặm lần III nhiệm kỳ 2021-2025 Khác
6. Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Khác
7. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định 1722/QĐ-TTg ngày 2/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 Khác
8. Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 5/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ việc ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 Khác
9. UBND tỉnh Bắc Kạn (2016). Quyết định số 823/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2016 - 2020 Khác
10. UBND tỉnh Bắc Kạn (2019). Quyết định số 225/QĐ-UBND ngày 13/2/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 Khác
11. UBND huyện Pác Nặm (2018). Quyết định số 2177/QĐ-UBND ngày 26/9/2018 về việc thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện Pác Nặm giai đoạn 2017-2020 và phân công thành viên phụ trách đơn vị xã Khác
12. UBND huyện Pác Nặm (2019). Báo cáo Đánh giá kết quả thực hiện công tác giảm nghèo năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2020.12 Khác
13. UBND huyện Pác Nặm (2020). Báo cáo Đánh giá kết quả thực hiện công tác giảm nghèo năm 2020, phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2021 Khác
14. UBND xã An Thắng (2018). Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2018, Phương hướng nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội năm 2019 Khác
15. UBND xã An Thắng (2019). Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2019, Phương hướng nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội năm 2020 Khác
16. UBND xã An Thắng (2020). Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2020, Phương hướng nhiệm vụ phát triển Kinh tế - xã hội năm 2021 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính  của xã An Thắng - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 2.1. Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính của xã An Thắng (Trang 32)
Bảng 2.3. Tổng số hộ nghèo tại các bản của xã An Thắng năm 2021 STT  Tên bản Tổng số hộ Số hộ nghèo  Tỷ lệ (%) - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 2.3. Tổng số hộ nghèo tại các bản của xã An Thắng năm 2021 STT Tên bản Tổng số hộ Số hộ nghèo Tỷ lệ (%) (Trang 34)
Bảng 2.4. Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã An thắng - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 2.4. Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã An thắng (Trang 35)
Bảng 2.5. Số lượng mẫu điều tra phỏng vấn (đơn vị tính: hộ) - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 2.5. Số lượng mẫu điều tra phỏng vấn (đơn vị tính: hộ) (Trang 37)
Bảng 3.1. Tiêu chí phân loại hộ năm 2020 - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.1. Tiêu chí phân loại hộ năm 2020 (Trang 42)
Bảng 3.2. Hộ cận nghèo, hộ nghèo năm 2021 phân theo dân tộc - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.2. Hộ cận nghèo, hộ nghèo năm 2021 phân theo dân tộc (Trang 43)
Bảng 3.3. Hộ nghèo, cận nghèo năm 2020 phân theo dân tộc - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.3. Hộ nghèo, cận nghèo năm 2020 phân theo dân tộc (Trang 44)
Bảng 3.4. Số hộ và số nhân khẩu hộ nghèo, cận nghèo năm 2019 - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.4. Số hộ và số nhân khẩu hộ nghèo, cận nghèo năm 2019 (Trang 45)
Theo bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo của dân tộc Dao chiến tỉ trọng cao nhất với (53%,)  sau đó đến dân tộc mông chiến tỉ lệ là (45%), cuối cùng  là dân tộc Nùng chiến tỉ lệ là (2%) - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
heo bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo của dân tộc Dao chiến tỉ trọng cao nhất với (53%,) sau đó đến dân tộc mông chiến tỉ lệ là (45%), cuối cùng là dân tộc Nùng chiến tỉ lệ là (2%) (Trang 45)
Bảng 3.6. Học vấn, nhân khẩu và lao động hộ cận nghèo và nghèo. Dân tộc Học vấn Nhân khẩu  Lao động chính - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.6. Học vấn, nhân khẩu và lao động hộ cận nghèo và nghèo. Dân tộc Học vấn Nhân khẩu Lao động chính (Trang 47)
Bảng 3.7. Thu nhập bình quân các năm 2018-2020 - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.7. Thu nhập bình quân các năm 2018-2020 (Trang 48)
Bảng 3.8. Thu nhập bình quân ba năm 2018-2020 - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.8. Thu nhập bình quân ba năm 2018-2020 (Trang 48)
Bảng 3.8. Đánh giá của người dân về thay đổi chất lượng cuộc sống Ý kiến về thay đổi chất lượng cuộc sống Số ý kiến  Tỷ lệ (%) - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.8. Đánh giá của người dân về thay đổi chất lượng cuộc sống Ý kiến về thay đổi chất lượng cuộc sống Số ý kiến Tỷ lệ (%) (Trang 55)
Bảng 3.9. Đánh giá của người dân về nguyên nhân chính làm cho cuộc sống được cải thiện - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ dân tộc dao tại xã an thắng , huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.9. Đánh giá của người dân về nguyên nhân chính làm cho cuộc sống được cải thiện (Trang 56)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w