1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư

29 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 123,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA TIỂU LUẬN Phân tích và quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư NHÓM Tên học viên Mã học viên Hà nội, năm 2022 MỤC LỤC 2 Phần mở đầu Cùng với quá trình hội nhập[.]

Trang 1

Tên học viên Mã học viên

Hà nội, năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

Phần mở đầu

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, hoạt động đầu tư tại Việt Nam cũngphát triển một cách nhanh chóng cả về số lượng, quy mô vốn và chất lượng dự

án Hoạt động đầu tư trong những năm qua đã góp phần tạo việc làm, thu nhậpcho người lao động; nâng cao trình độ, năng lực sản xuất; tăng thu ngân sách nhànước, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới môhình tăng trưởng; nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế

Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phân tích các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư Liên hệ thực tiễn việc vận dụng các công cụ trên trong quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam hiện nay” để làm báo

cáo của nhóm

Trang 4

Chương 1 Cơ sở lý thuyết 1.1 Đầu tư

để đạt được các kết quả đó

1.1.2 Phân loại đầu tư

Xét trong phạm vi một quốc gia, các hoạt động đầu tư có thể được phânchia thành nhiều loại khác nhau theo các tiêu thức phân loại khác nhau Về cơbản chúng ta có thể phân biệt các loại hình đầu tư theo bản chất và phạm vi lợiích do đầu tư mang lại Cụ thể chúng ta có các loại hình đầu tư sau:

+ Đầu tư tài chính: Là hoạt động đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền racho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi xuất định trước (gửi tiếtkiệm mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi xuất tùy thuộc vào kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của đơn vị phát hành

Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (không xét đếnquan hệ quốc tế trong lĩnh vực này), mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của

tổ chức, cá nhân đầu tư Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ

ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng(rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác) Điều nàykhuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư để thu lợi nhuận Tuy nhiên trong quá

Trang 5

trình thực hiện đầu tư họ có thể sẽ gặp phải rủi ro Để hạn chế rủi ro trong loạihình đầu tư này chủ đầu tư có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền

+ Đầu tư thương mại

Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau

đó đem bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch giá giữa mua vàbán

Loại hình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếukhông xét quan hệ ngoại thương) mà chỉ làm tăng tài sản, tài chính của chủ đầu

tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa ngườimua và người bán với người đầu tư và giữa người đầu tư với khách hàng của họ

Hai hình thức đầu tư trên là hai hình thức không tham gia trực tiếp vào quátrình sản xuất vật chất, nhưng thông qua đó nguồn vốn được tập trung để đầu tưvào sản xuất và thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phân phối của cải vật chất do hoạtđộng sản xuất vật chất tạo ra, từ đó thúc đẩy sự phát triển của hoạt động sản xuấtvật chất, tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội

+ Đầu tư phát triển

Là hoạt động đầu tư trong đó người có tiều bỏ tiền ra để tiến hành các hoạtđộng nhằm tạo ra tài sản cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh

và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của người lao động.Đó chính là việc bỏ tiền ra để xâydựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặtchúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phíthường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lựchoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội

Trang 6

1.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế

Tất cả các lý thuyết kinh tế từ trước đến nay, từ cổ điển đến hiện đại đềucoi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá cho

sự tăng trưởng Vốn đầu tư luôn là một biến số quan trọng trong hàm sản xuấttrong mọi mô hình kinh tế Vai trò của đầu tư phát triển được xem xét trên haigóc độ nền kinh tế

+ Đầu tư phát triển vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầucủa nền kinh tế Trong tổng cầu của nền kinh tế quốc dân, đầu tư là một yếu tốchiếm tỷ trọng lớn, theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếmkhoảng từ 24% - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới vàtác động của đầu tư đến tổng cầu là ngắn hạn Điều này có nghĩa là trong thờigian thực hiện đầu tư và khi tổng cung chưa tăng (các kết quả đầu tư chưa pháthuy tác dụng) sự tăng lên của tổng cầu làm cho sản lượng cân bằng tăng theo vàgiá cả các đầu vào tăng

Khi các kết quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vàohoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo theo sảnlượng tiềm năng tăng lên từ QE lên QE, giá sản phẩm giảm xuống từ PE - PE,sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng đến lượtmình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa sản xuất phát triển là nguồn gốc cơbản để tăng tích luỹ phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động,nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

+ Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu

và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù làtăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tốphá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia

Trang 7

- Đầu tư luôn tác động hai mặt tích cực và tiêu cực.

Thứ nhất: Tăng đầu tư sẽ có tác động

Tích cực: Tăng đầu tư sẽ tạo việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao đờisống, giảm tệ nạn xã hội

Tiêu cực: Tăng đầu tư sẽ phải chi một lượng tiền lớn, nếu tăng qúa mức sẽdẫn đến tình trạng tiền đang lưu hành bị mất giá (lạm phát) dẫn đến tăng giá cảnhững sản phẩm có liên quan làm cho sản xuất bị đình trệ

Thứ hai: Giảm đầu tư sẽ có tác động

Tích cực: Giảm đầu tư thì lượng tiền chi ra ít nên sẽ giảm lạm phát, giá cảđời sống ổn định, tệ nạn xã hội giảm đi

Tiêu cực: Giảm đầu tư sẽ giảm việc làm, tăng thất nghiệp ảnh hưởng đếnđời sống xã hội Như vậy: Trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt độngchính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạnchế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định củatoàn bộ nền kinh tế

+ Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, nếu một quốc giamuốn giữ tốc độ tăng trưởng GDP ở mức trung bình 8% - 10% thì tỷ lệ đầu tưphải đạt từ 15% - 20% tuỳ thuộc và hệ số ICOR của quốc giá đó Hệ số ICORphản ánh suất đầu tư tính cho một đơn vị GDP tăng thêm - ICOR là tên viết tắtcủa từ tiếng anh “tỷ suất vốn GDP” Icremental Capital Output Ration - Hệ sốICOR được tính theo công thức sau:

ICOR = mức vốn đầu tư/mức tăng GDP

Từ đó suy ra: mức tăng GDP = vốn đầu tư/ICOR

Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư

Trang 8

Hệ số ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theotrình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.

+ Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy để có thể tăng trưởngnhanh với tốc độ mong muốn từ 9% - 10% là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sựphát triển nhanh ở hai khu vực công nghiệp và dịch vụ vì hai khi vực này sửdụng các tiềm năng về trí tuệ con người sẽ không khó khăn lắm để đạt tốc độtăng trưởng 15% - 20% còn khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản do giới hạn vềđất đai, khí hậu Nên để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5%-6% là rất khó khăn

Tuy nhiên, để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung đầu tưphát triển cho các ngành có tốc độ tăng trưởng cao thì rõ ràng là phải có vốn đầu

tư, không có vốn đầu tư thì không thể nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khôngthể nói đến sự phát triển của ngành này hay ngành khác

Như vậy, Chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ở các quốc gia nhằm đạt đựơc tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nên kinhtế

Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tìnhtrạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bànđạp thúc đẩy những vùng khác phát triển theo

* Đầu tư tác động đến khả năng công nghệ và khoa học của đất nướcchúng ta đều biết rằng công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoácòn đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng côngnghệ của đất nước

1.2 Quản lý hoạt động đầu tư

Trang 9

1.2.2 Mục tiêu của quản lý hoạt động đầu tư

* Trên giác độ quản lý vĩ mô

Trên giác độ này mục tiêu chung của quản lý đầu tư cần phải đạt là:

- Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia, cụ thể hơn là chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằmthực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tếnâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

- Huy động tối đa và sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tưtrong và ngoài nước, tận dụng và khai thác các tài nguyên, các tiềm năng về tàinguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trườngsinh thái, chống mọi hành vi tham ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khaithác các kết quả của đầu tư

- Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo quy hoạchkiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan áp

Trang 10

dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời gian xây dựngvới chi phí hợp lý.

* Trên giác độ từng cơ sở doanh nghiệp có vốn đầu tư:

Trên giác độ quản lý vi mô, mục tiêu của quản lý đầu tư suy cho cùng lànhằm đạt được hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất với chi phí vốn đầu tư thấpnhất trong mọi thời gian của từng dự án đầu tư

Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, mục tiêu chủ yếu của quản lý là đảmbảo chất lượng và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu, dự đoán tínhtoán

Đới với giai đoạn thực hiện đầu tư, mục tiêu chủ yếu của quản lý là đảmbảo tiến độ, chất lượng với chi phí thấp nhất

Đới với giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư là nhanh chóng thu hồi đủvốn đã bỏ ra và có lãi đối với các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc đạtđược hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất với chi phí thấp nhất đối với các hoạtđộng đầu tư khác

1.3 Quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư

1.3.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với đầu tư

Đầu tư là hoạt động có tính liên ngành, do đó quản lý đầu tư là yêu cầukhách quan nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư

Nhằm khắc phục những hạn chế vốn có của kinh tế thị trường đảm bảomục tiêu đầu tư đã đề ra

Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh của mình, Nhà nước có thể vàcần phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên và

cơ bản trong đầu tư

Trang 11

Do tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước nên Nhànước phải tham gia vào việc quản lý đầu tư để bảo vệ lợi ích của dân tộc, củanhân dân.

1.3.2 Nhiệm vụ quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư

Đầu tư là hoạt động mang tính liên ngành, có quan hệ quyết định đến quátrình hình thành và hoạt động của mỗi ngành, mỗi địa phươg và mỗi cơ sở sảnxuất kinh doanh dịch vụ, có liên quan trực tiếp đến việc khai thác và sử dụng cácnguồn tài nguyên khoáng sản, đất đại, rừng, biển, sử dụng một nguồn vốn lớncủa Nhà nước và xã hội Vì vậy, sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực đầu tưthường mạnh hơn so với các lĩnh vực khác

Nhiệm vụ quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư bao gồm cácvấn đề sau:

Thứ nhất: Xây dựng các chiến lược phát triển, các kế hoạch định hướng,cung cấp thông tin, dự báo để hướng dẫn đầu tư, xây dựng kế hoạch định hướngcho các địa phương và vùng lãnh thổ làm cơ sở hướng dẫn đầu tư cho các nhàđầu tư

Thứ hai: Xây dựng luật pháp, quy chế và các chính sách quản lý đầu tưnhư luật xây dựng, luật thuế, luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường, luật đất đai, luậtđấu thuầu

Thứ ba: Tạo môi trường kinh tế thuận lợi và quy định khuôn khổ pháp lýcho hoạt động đầu tư thông qua các kế hoạch định hướng, dự báo thông tin, luậtpháp và chính sách đầu tư

Thứ tư: Điều hoà thu nhập giữa chủ đầu tư, chủ thầu xây dựng, người laođộng và các lực lượng dịch vụ, tư vấn, thiết kế phục vụ đầu tư, có chính sáchđại ngộ thoả đáng với người lao động trong lĩnh vực thực hiện đầu tư

Trang 12

Thứ năm: Quản lý việc sử dụng đất đai, tài nguyên một cách hợp lý bảo vệmôi trường, quản lý việc xây dựng các kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện,nước) và kết cấu hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, văn hoá ) để đảm bảo các điềukiện cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của mọi người dân

Thứ sáu: Tổ chức các doanh nghiệp Nhà nước để tham gia điều tiết thịtrường và thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực chỉ có nhà nước mới được đảmnhiệm

Thứ bẩy: Xây dựng chính sách cán bộ lĩnh vực đầu tư, quy định chức danh

và tiêu chuẩn cán bộ: quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ và xử lý vấn đề cán

bộ thuộc thầm quyền Nhà nước

Thứ tám: Thực hiện sự kiểm soạt của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt độngđầu tư, chống các hiện tượng tiêu cực trong đầu tư

Thứ chín: Đảm bảo đáp ứng đòi hỏi phát triển của đất nước theo đường lối

mà các đại hội Đảng đã vạch ra, chuyển biến nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN một cách hợp lý

Thứ mười: Vận dụng kinh nghiệm của các nước vào hoàn cảnh Việt Nam

để xây dựng luật lệ, thể chế và phương thức quản lý nền kinh tế nói chung và mởrộng quản hệ với các nước khác trong lĩnh vực đầu tư

Thứ mười một: Đề ra các giải pháp quản lý sử dụng vốn cấp phát cho đầu

tư từ ngân sách, từ khâu xác định chủ trương đầu tư, phân phối vốn, quy hoạch,thiết kế và thi công xây lắp công trình, quản lý việc sử dụng các nguồn vốn khác

để có các biện pháp thích hợp nhằm đảm bảo sự cân đối tổng thể của toàn bộ nềnkinh tế

Thứ mười hai: Đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng các côngtrình xây dựng, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và an toàn xã hội

Trang 13

Thứ mười ba: Quản lý đồng bộ hoạt động đầu tư từ khi bỏ vốn cho đến khithanh lý các tài sản do đầu tư tạo ra

Thứ mười bốn: Có chủ trương đúng đắn trong hợp tác đầu tư với nướcngoài, chuẩn bị nguồn lực về tài chính, vật chất, lao động cho hợp tác đầu tư vớinườc ngoài

1.4 Các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư

Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ và mục tiêu của quản lý hoạt động đầu

tư, quản lý nhà nước sử dụng các công cụ quản lý hoạt động đầu tư sau:

Công cụ 1: Các quy hoạch tổng thể và chi tiết

Các quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết của ngành và địa phương vềđầu tư và xây dựng là những công cụ quan trọng được sử dụng để quản lý hoạtđộng đầu tư

Công cụ 2: Kế hoạch

Kế hoạch hóa đầu tư đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạtđộng đầu tư Các dự án đầu tư thường đòi hỏi tổng mức đầu tư rất lớn và do đóviệc bố trí nguồn vốn từ ngân sách cần phải được lập kế hoạch chặt chẽ và có dựtoán Thực hiện tốt công tác này sẽ là cơ sở quan trọng để cách ngành, địaphương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối nguồn lực, tránh đượchiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, dàn trải, lãng phí nguồn lực củanhà nước

Công tác quy hoạch có ảnh hưởng đặc biệt đến hiệu quả của hoạt động đầu

tư các dự án Nếu quy hoạch sai sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư Quyhoạch dàn trải sẽ làm cho việc đầu tư trở nên manh mún, nhỏ lẻ, ít hiệu quả Quyhoạch cần phải công khai để người dân và các cấp chính quyền đều biết Trên cơ

sở quy hoạch, nhà nước cần phải đưa vào kế hoạch đầu tư, khuyến khích các khuvực vốn khác tham gia đầu tư để tránh tình trạng quy hoạch treo

Trang 14

Công cụ 3: Hệ thống luật pháp

Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư cần nhiều loại quy định mangtính pháp lý Hệ thống cơ chế chính sách và các văn bản pháp lí của Nhà nướcliên quan đến lĩnh vực đầu tư bao gồm các Luật, Nghị định, Quyết định của Thủtướng Chính phủ, các Thông tư của các bộ như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tàichính, Bộ Xây dựng…, các quyết định của Bộ chủ quản nhằm đưa ra các quyđịnh và hướng dẫn cụ thể về việc quản lý nguồn vốn NSNN, quản lý các dự ánđầu tư, quản lý điều kiện hoạt động xây dựng

Công cụ 4: Các định mức và tiêu chuẩn

Các định mức và tiêu chuẩn quan trọng có liên quan đến quản lý đầu tư vàlợi ích của toàn xã hội

Công cụ 5: Danh mục các dự án đầu tư

Các danh mục dự án đầu tư là một trong những công cụ quan trọng điềutiết và phân bố các hoạt động đầu tư

Công cụ 6: Các hợp đồng kinh tế

Các hợp đồng ký kết với các cá nhân và đơn vị thực hiện các công việccủa quá trình thực hiện dự án

Công cụ 7: Các chính sách và đòn bẩy kinh tế

Những chính sách và đòn bẩy kinh tế quan trọng gồm: chính sách giá cả,tiền lương xuất nhập khẩu, thuế, tài chính tín dụng, tỷ giá hồi đoái, thưởng phạtkinh tế, chính sách khuyến khích đầu tư, những quy định về chế độ, hạch toán kếtoán, phân phối xã hội…

Những chính sách này là công cụ quan trọng để quản lý nhà nước tronghoạt động đầu tư

Công cụ 8: Những thông tin cần thiết

Ngày đăng: 28/04/2022, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w