1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt

4 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 515,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này đề xuất phương pháp xử lý hình ảnh sau khi thu nhận và áp dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính PCA (Principle Component Analysis) để nhận dạng cử chỉ dựa trên các hình ảnh sau khi xử lý đó. Các kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống đề xuất đã đạt được tỉ lệ nhận dạng cao. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay

ngôn ngữ tiếng Việt

Nguyễn Thị Hương Thảo, Vũ Hữu Tiến, Nguyễn Ngọc Minh, Vũ Văn San

Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông Email: {thaonth, tienvh, minhnn, sanvv}@ptit.edu.vn

Tóm tắt—Hiện nay, cử chỉ tay là một trong các mối quan

tâm chính đối với người khiếm thính vì họ sử dụng ngôn

ngữ cử chỉ để giao tiếp với nhau và giao tiếp với người

bình thường Đối với người bình thường nếu không biết

hoặc gặp khó khăn với ngôn ngữ cử chỉ của người khiếm

thính thì cần phải có thông dịch viên hỗ trợ quá trình

giao tiếp Do đó, một hệ thống nhận dạng ngôn ngữ cử

chỉ bàn tay tự động là rất cần thiết để giúp đỡ những

người khiếm thính hòa nhập vào cuộc sống bình thường.

Về mặt kỹ thuật, nhận dạng ngôn ngữ cử chỉ là một bài

toán toàn diện vì phải có sự kết hợp của các giai đoạn

thu nhận ảnh, xử lý ảnh, phân tích và nhận dạng ảnh Bài

báo này đề xuất phương pháp xử lý hình ảnh sau khi thu

nhận và áp dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính

PCA (Principle Component Analysis) để nhận dạng cử chỉ

dựa trên các hình ảnh sau khi xử lý đó Các kết quả thực

nghiệm cho thấy hệ thống đề xuất đã đạt được tỉ lệ nhận

dạng cao.

Từ khóa—PCA, nhận dạng cử chỉ, VSL

I GIỚI THIỆU Ngôn ngữ cử chỉ là loại ngôn ngữ sử dụng cử chỉ bàn

tay, biểu cảm của khuôn mặt và chuyển động của cơ thể

để truyền đạt ý nghĩa giữa những người khiếm thính với

nhau và với người bình thường Ngôn ngữ cử chỉ tay

cũng được sử dụng trong nhiều các ứng dụng khác như

tương tác người – máy, hiện thực ảo, trò chơi tương tác

Vì vậy hiện nay nhận dạng ngôn ngữ cử chỉ là một lĩnh

vực thu hút nhiều các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu

Điều này giúp cho những người khiếm thính có cơ hội

giao tiếp với người bình thường một cách dễ dàng hơn

Nhiều nghiên cứu trước đây đã thực hiện với các ngôn

ngữ khác nhau như ngôn ngữ cử chỉ Mỹ Latin, ngôn ngữ

cử chỉ Ấn Độ, ngôn ngữ cử chỉ Anh Tuy nhiên chưa có

nhiều bài báo đề cập đến ngôn ngữ cử chỉ Tiếng Việt

VSL (Vietnamese Sign Language) Bài báo này đề xuất

một hệ thống nhận dạng cử chỉ tay mà người sử dụng

không cần phải sử dụng thiết bị chuyên dụng nào như

găng tay mà chỉ thực hiện cử chỉ bằng tay trần trước

camera cố định sẵn Hệ thống thực hiện nhận dạng các

chữ cái Tiếng Việt qua cử chỉ bàn tay tĩnh bằng cách sử

dụng kỹ thuật PCA

Hệ thống nhận dạng cử chỉ tay có bốn giai đoạn: thu nhận dữ liệu, mô hình hóa cử chỉ, trích chọn đặc trưng

và nhận dạng Thu nhận dữ liệu có thể thực hiện bằng cách sử dụng găng tay Găng tay dữ liệu sử dụng cảm biến (cơ hoặc quang) được gắn vào găng tay để chuyển đổi cử chỉ ngón tay thành tín hiệu điện Từ đó có thể xác định được vị trí tương ứng của các ngón tay Cử chỉ tay cũng có thể được thu nhận bằng camera/webcam/Kinect 3D Cách này có giá thành thấp và người sử dụng có thể tạo ra các cử chỉ một cách dễ dàng Trong một số các công trình nghiên cứu trước đây sử dụng ảnh tĩnh

để phân tích và nhận dạng, họ thường sử dụng camera

để bắt giữ hình ảnh Tuy nhiên, phương pháp này không thích hợp trong thực tế Đối với các ứng dụng thời gian thực thường sử dụng webcam để bắt giữ một chuỗi video

cử động của bàn tay Trong phương pháp này, các khung hình được phân tích để tách ra ảnh cử chỉ bàn tay Vấn

đề chính trong phương pháp này là tìm ra khung hình nào chứa cử chỉ cuối cùng

Sau giai đoạn thu nhận dữ liệu là mô hình hóa cử chỉ Bàn tay cần được mô hình hoá để xử lý một cách chính xác Các mô hình khác nhau được lựa chọn tùy theo từng ứng dụng cụ thể Giai đoạn này thực hiện phân vùng bàn tay và tiền xử lý Phân vùng bàn tay thực hiện tách bàn tay khỏi bức ảnh và tiền xử lý là quá trình cải thiện chất lượng bức ảnh và cắt ra đúng vùng liên quan

để xử lý tiếp theo Quá trình phân vùng chính xác sẽ giúp trích chọn đặc trưng hoàn hảo Phương pháp trích chọn đặc trưng được xem xét kỹ lưỡng tùy vào các ứng dụng khác nhau

Giai đoạn cuối cùng của hệ thống nhận dạng cử chỉ tay

là phân loại cử chỉ Có rất nhiều phương pháp phân loại như Mô hình Markov ẩn HMM, phân tích thành phần chính PCA, phân loại theo khoảng cách, mạng neural Nhận dạng cử chỉ tay gồm nhiều kỹ thuật khác nhau [1] Các nhà nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật khác nhau

và đạt được độ chính xác khá cao Phương pháp trong tài liệu [2] đề xuất hệ thống nhận dạng ngôn ngữ cử chỉ

Trang 2

Hình 1 Sơ đồ hệ thống nhận dạng được đề xuất

Ấn Độ trong video trực tiếp sử dụng trị riêng và vector

riêng để trích chọn đặc trưng Jayashree R.Pansare và

đồng nghiệp [3] đề xuất hệ thống nhận dạng cử chỉ tay

tĩnh thời gian thực đối với ngôn ngữ cử chỉ Mỹ Latinh

trên nền phức tạp Hệ thống thực hiện tiền xử lý ảnh với

bộ lọc trung vị và các toán tử hình thái, trích chọn đặc

trưng sử dụng centroid và phân loại sử dụng khoảng

cách Euclidean S.Nagarajan và T.S.Subashini [4] giới

thiệu hệ thống nhận dạng cử chỉ bàn tay tĩnh mô tả các

chữ cái ngôn ngữ ký hiệu Mỹ Đóng góp chính của bài

báo là sử dụng lược đồ xám hướng biên để trích chọn

đặc trưng và nhận dạng bằng SVM nhiều lớp tuy nhiên

hệ thống chỉ thực hiện với nền đồng nhất [5] đề xuất hệ

thống nhận dạng ngôn ngữ Đài Loan với cả hai loại cử

chỉ tay tĩnh và động sử dụng SVM và HMM, tuy nhiên

hệ thống yêu cầu người sử dụng phải đeo găng tay màu

trong quá trình thu nhận ảnh

Bài báo này đề xuất hệ thống nhận dạng cử chỉ bàn

tay dựa trên kỹ thuật PCA đối với ngôn ngữ tiếng Việt

và đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp khi sử

dụng khoảng cách Euclidean để phân loại Trong quá

trình mô hình hóa cử chỉ, bài báo đề xuất phương pháp

tách bàn tay khỏi nền, giúp cho quá trình nhận dạng

được chính xác hơn

Bài báo được cấu trúc như sau Phần II đề xuất hệ

thống nhận dạng cử chỉ tay Các kết quả thực nghiệm

được mô tả và phân tích được mô tả phần III Cuối cùng

là kết luận được đưa ra trong phần IV

II MÔ HÌNH HỆ THỐNG

Sơ đồ hệ thống đề xuất được mô tả trong hình 1

Hình 2 Bảng ký hiệu ngôn ngữ cử chỉ tiếng Việt

A Thu nhận dữ liệu

Giai đoạn đầu tiên của hệ thống là thu nhận dữ liệu Ảnh được thu nhận bằng camera của máy tính với độ phân giải 5 Megapixel Người sử dụng thực hiện các cử chỉ bằng tay trần trước camera trong khoảng cách 1m

Để chụp được ảnh tĩnh của cử chỉ, hệ thống sử dụng giải pháp thông báo để người sử dụng giữ nguyên tư thế bàn tay trong khoảng 5ms Trong thí nghiệm này, hệ thống được thử nghiệm với các ảnh cử chỉ tay mô tả 25 chữ cái tiếng Việt Cơ sở dữ liệu gồm 250 ảnh tương ứng với 25 lớp chữ cái Mỗi lớp chữ cái gồm 10 ảnh được thực hiện bởi hai người khác nhau trong điều kiện ánh sáng khác nhau trên nền trắng đơn giản Tập cơ sở dữ liệu của ngôn ngữ Tiếng Việt được cho trong hình 2

B Chuẩn hóa dữ liệu

Sơ đồ khối của tầng chuẩn hóa hình ảnh được mô tả trong hình 3 Để có thể nhận dạng được hình ảnh, trước giai đoạn nhận dạng, các hình ảnh phải được chuẩn hóa

để hệ thống có thể rút ra các đặc trưng của các ảnh Trong hệ thống được đề xuất, ảnh chuẩn hóa là các ảnh nhị phân có kích thước 100x100

Để có thể phân vùng được cử chỉ tay, ảnh RGB đầu vào được chuyển thành ảnh YCrCb với mục đích sử dụng hai kênh màu Cr và Cb để chọn vùng da bàn tay Với việc sử dụng hai kênh màu như vậy, ảnh được xử lý sẽ

ít bị tác động với sự thay đổi của ánh sáng Trong hệ thống được đề xuất, để chọn vùng da bàn tay, giá trị

Cr được chọn trong khoảng từ 146 đến 165 và Cb được chọn trong khoảng từ 140 đến 195

Do quá trình tách ảnh bàn tay dựa trên giá trị ngưỡng của Cr và Cb nên một số vùng trên ảnh bị sai lệch, tạo

Trang 3

Hình 3 Các bước xử lý trong quá trình mô hình hóa hình ảnh cử chỉ

ra những vùng trống trên ảnh Do đó ảnh sau khi tách

được xử lý để loại bỏ vùng trống không mong muốn

Để đơn giản cho việc xử lý nhận dạng, ảnh YCrCb

được biến đổi sang ảnh nhị phân Quá trình này giúp

cho việc xử lý giảm từ 3 ma trận Y, Cr, Cb xuống còn

một ma trận ảnh nhị phân

Do việc chọn ngưỡng trong quá trình biến đổi nhị

phân, ảnh sẽ xuất hiện các vùng khuyết không mong

muốn Do vậy việc loại bỏ các vùng khuyết được tiến

hành một lần nữa Tuy nhiên, trong một số ảnh, việc

loại bỏ này có thể làm mất nội dung của ảnh Vì vậy,

thuật toán tìm vùng trống lớn nhất để giữ lại được sử

dụng để không làm thay đổi hình dạng đối tượng trong

ảnh

Cuối cùng, phép xử lý hình thái (phép đóng) được sử

dụng để hình ảnh đối tượng được hoàn chỉnh hơn

C Trích chọn đặc trưng và phân loại

Trong giai đoạn nhận dạng sử dụng thuật toán PCA

để trích chọn đặc trưng của ảnh và phân loại ảnh đầu

vào Cụ thể là các trị riêng và vector riêng được coi

là đặc trưng của ảnh đầu vào Đối với giai đoạn phân

loại, khoảng cách Euclidean được sử dụng để so sánh

đặc trưng của ảnh đầu vào với đặc trưng của các ảnh

được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu Ảnh nào trong cơ sở

dữ liệu có khoảng cách Euclidean ngắn nhất sẽ được coi

là giống với bức ảnh đầu vào nhất Các bước của giai

đoạn nhận dạng được mô tả như sau:

Bước 1: Tính vector phương sai của dữ liệu

Giả sử rằng có M ảnh trong cơ sở dữ liệu để huấn

luyện I1, I2, , I M Kích thước của mỗi ảnh là NXN.

Để tính trị riêng, mỗi ảnh I i kích thước NXN được

sắp xếp lại thành vector Γi kích thước 1XN2 Vector

trung bình của M ảnh được tính như sau:

Ψ = 1

M

M



Vector phương sai của mỗi ảnh được tính như sau:

Bước 2: Tính ma trận hiệp phương sai

Ma trận hiệp phương sai C của các ảnh trong cơ sở

dữ liệu được tính như sau:

C = 1 M

M



n=1

ΦnΦT n = AA T (3)

trong đó A = [Φ1Φ2 Φ M]

Bước 3: Tính trị riêng và vector riêng

Trong bài báo này, kích thước của ảnh là

100X100(N = 100)và có 250 ảnh trong cơ sở dữ liệu

(M = 250) Vì vậy, kích thước của ma trận hiệp phương sai C là 1002X1002 Đây là ma trận có kích thước lớn

và vì vậy việc tính vector riêng và trị riêng rất phức tạp

Để giảm khối lượng tính toán, [6] chứng minh rằng M trị riêng của A T A tương ứng với M trị riêng lớn nhất của AA T cùng với vector riêng tương ứng M trị riêng của AA T có thể được tính như sau:

u i = Av i , i = 1, 2, , M (4)

trong đó v i là vector riêng của A T A

Để đơn giản trong tính toán, chỉ có K(K < M) vector riêng (tương ứng với K trị riêng lớn nhất) được giữ lại Trong bài báo này, chọn K = 30 để đảm bảo

tính cân bằng giữa thời gian tính toán và độ chính xác trong nhận dạng

Bước 4: Trích chọn đặc trưng của ảnh

Sau khi lựa chọn K vector riêng của ảnh trong cơ sở

dữ liệu, phương sai của mỗi ảnh cử chỉ bàn tay trong

cơ sở dữ liệu được mô tả là tổ hợp tuyến tính của K

vector riêng lớn nhất

ˆ

Φi=

K



j=1

λ j u j , i = 1, 2, , K (5)

trong đó λ j = u T

jΦj Mỗi ảnh cử chỉ bàn tay trong cơ sở dữ liệu được mô

tả bằng một vector:

i=

λ i

1

λ i

2

λ i K

 , i = 1, 2, , M (6)

trong đó Ωi là vector đặc trưng của ảnh cử chỉ bàn tay

itrong cơ sở dữ liệu

Bước 5: Phân loại

Trang 4

Với ảnh cử chỉ bàn tay đầu vào, vector đặc trưng Ω

được tính toán như sau:

Ω =

λ1

λ2

λ K

 , λ i = u T iΦ (7)

trong đó Φ là giá trị ảnh đầu vào trừ đi ảnh trung bình

của cử chỉ bàn tay trong cơ sở dữ liệu

Sau khi tách vector đặc trưng của ảnh đầu vào, vector

đặc trưng này được so với vector đặc trưng của ảnh trong

cơ sở dữ liệu dựa vào khoảng cách Euclidean

Khoảng cách Euclidean được tính như sau:

e r=

Ω − Ω k =

K



i=1

(λ i − λ k

i)2 (8)

Ảnh trong cơ sở dữ liệu với e r tối thiểu là ảnh gần

giống nhất với ảnh đầu vào Ảnh giống nhất được coi

là kết quả quá trình đối sánh của ảnh đầu vào Vì vậy,

ký tự tương ứng với ảnh kết quả đó được coi là kết quả

của quá trình nhận dạng cử chỉ tay

III MÔ PHỎNG VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Để đánh giá hiệu quả sử dụng thuật toán PCA trong

việc nhận dạng ngôn ngữ chữ cái tiếng Việt, mô phỏng

được thực hiện trên tập cơ sở dữ liệu 250 ảnh mô tả

25 chữ cái tiếng Việt Tất cả các ảnh đều được chuẩn

hóa bằng cách cắt và định lại kích cỡ 100 x 100 pixel

Hệ thống kiểm tra với 25 ký tự với mỗi lớp ký tự gồm

10 ảnh và thực hiện đánh giá dựa trên tỉ lệ nhận dạng

thành công

Hệ thống VSL được thực hiện trên phần mềm

MAT-LAB phiên bản 7.6, Windows 8.1, 2 GB RAM và

webcam có độ phân giải 5 Megapixel

Bảng 1 mô tả kết quả của hệ thống đề xuất khi nhận

dạng 25 chữ cái tiếng Việt với tỉ lệ thành công lên tới

80.4 % Kết quả chỉ ra rằng tỉ lệ thành công của các

chữ cái “B, D, H, O, T” thấp vì chúng có hình dạng

khá giống nhau Vì vậy hệ thống đôi khi nhận dạng

nhầm Đối với các chữ cái như “A, E, K, L, N, P, Q, S,

U, X” ảnh cử chỉ bàn tay có chất lượng tốt sau giai đoạn

tiền xử lý Vì vậy hệ thống đạt được tỉ lệ nhận dạng cao

đối với các chữ cái này Ngoài ra, do đối tượng ảnh cử

chỉ được tách ra đầy đủ và được chuẩn hóa tốt hơn nên

hệ thống được đề xuất đạt được tỷ lệ thành công cao

hơn so với phương pháp trong tài liệu [2]

IV KẾT LUẬN Trong bài báo này thực hiện đánh giá hệ thống nhận

dạng ngôn ngữ cử chỉ tiếng Việt sử dụng kỹ thuật PCA

Bảng I

B ẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ NHẬN DẠNG

Ký tự (Phương pháp đề xuất)Tỷ lệ thành công (%) (Phương pháp trong tài liệu [2])Tỷ lệ thành công (%)

Kết quả mô phỏng cho thấy tỉ lệ nhận dạng thành công

là 80.4 % Kết quả cũng cho thấy một số các chữ cái bị nhận dạng sai vì chúng có ảnh cử chỉ bàn tay khá giống nhau Tuy nhiên, bằng việc chuẩn hóa ảnh hợp lý và sử dụng phương pháp PCA để nhận dạng, tỉ lệ thành công của hệ thống được đề xuất đạt được cao hơn so với một

số phương pháp trước đó

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] A.R Sarkar , G Sanyal and S Majumder, Hand Gesture

Recog-nition Systems: A Survey, International Journal of Computer

Applications,vol 71,2013

[2] J Singha and K Das, Recognition of Indian Sign Language in

Live Video, International Journal of Computer Applications, Vol

70, 2013.

[3] J R Pansare, S H Gawande and M Ingle, Real-Time Static Hand

Gesture Recognition for American Sign Language (ASL) in Com-plex Background,Journal of Signal and Information Processing,

2012, vol 3, 364-367.

[4] S Nagarajan and T.S Subashini, Static Hand Gesture Recognition

for Sign Language Alphabets using Edge Oriented Histogram and Multi Class SVM, International Journal of Computer Applications,

vol82, 2013.

[5] C Huang and B Tsai, A Vision-Based Taiwanese Sign Language

Recognition, 20th International Conference onPattern Recognition

(ICPR), 2010.

[6] M Turk and A Pentland Eigenfaces for recognition, Journal of

Cognitive Neuroscience, vol.3, no.1, pp 71-86, 1991.

Ngày đăng: 28/04/2022, 09:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG - Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt
II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG (Trang 2)
Hình 1. Sơ đồ hệ thống nhận dạng được đề xuất - Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt
Hình 1. Sơ đồ hệ thống nhận dạng được đề xuất (Trang 2)
Hình 3. Các bước xử lý trong quá trình mô hình hóa hình ảnh cử chỉ - Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt
Hình 3. Các bước xử lý trong quá trình mô hình hóa hình ảnh cử chỉ (Trang 3)
Bảng 1 mô tả kết quả của hệ thống đề xuất khi nhận dạng 25 chữ cái tiếng Việt với tỉ lệ thành công lên tới 80.4% - Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt
Bảng 1 mô tả kết quả của hệ thống đề xuất khi nhận dạng 25 chữ cái tiếng Việt với tỉ lệ thành công lên tới 80.4% (Trang 4)
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ NHẬN DẠNG - Ứng dụng PCA trong nhận dạng cử chỉ tay ngôn ngữ tiếng Việt
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ NHẬN DẠNG (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w