1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề xuất một tiếp cận mới nghiên cứu sự ảnh hưởng của lượng mưa trong tình trạng nước biển dâng thủy triều gây ngập địa hình tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các mô hình về ảnh hưởng của lượng nước mưa được xây dựng trên kỹ thuật đa tác tử và đưa vào mô phỏng dựa trên nền tảng mô phỏng GAMA. Chúng tôi tiến hành mô phỏng với hai mô hình có yếu tố lượng mưa và không có yếu tố lượng mưa lên quá trình nước biển dâng (được thí điểm tại tỉnh Bạc Liêu) trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ và đưa ra kịch bản dự kiến cho tương lai. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Mô Phỏng Sự Tác Động Của Lượng Mưa

Lên Quá Trình Thủy Triều Tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Hoàng Ngọc Hiển 1, Huỳnh Xuân Hiệp 2

1 Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Bạc Liêu

2 Khoa Công nghệ Thông tin & Truyền thông, Trường Đại học Cần Thơ Nhóm nghiên cứu liên ngành DREAM-CTU/IRD, Trường Đại học Cần Thơ

Email: hnhien@blu.edu.vn, hxhiep@ctu.edu.vn

Abstract— Trong bài viết này chúng tôi đề xuất một tiếp cận mới

nghiên cứu sự ảnh hưởng của lượng mưa trong tình trạng nước

biển dâng thủy triều gây ngập địa hình tại vùng Đồng bằng sông

Cửu Long Các mô hình về ảnh hưởng của lượng nước mưa được

xây dựng trên kỹ thuật đa tác tử và đưa vào mô phỏng dựa trên

nền tảng mô phỏng GAMA Chúng tôi tiến hành mô phỏng với

hai mô hình có yếu tố lượng mưa và không có yếu tố lượng mưa

lên quá trình nước biển dâng (được thí điểm tại tỉnh Bạc Liêu)

trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ và đưa ra kịch bản dự kiến cho

tương lai Kết quả mô phỏng là bản đồ ngập theo thời gian và các

thống kê mức ngập theo thời gian cho các đơn vị hành chính

(huyện, tỉnh) Các mức độ ảnh hưởng của lượng mưa trong tình

trạng nước biển dâng cũng được đánh giá nhằm hỗ trợ cho các

giải pháp làm giảm thiệt hại của biến đổi khí hậu

Keywords- mô phỏng, bản đồ ngập, thống kê mức ngập, đa tác

tử, GAMA

Hiện nay, tình trạng nước biển dâng đang là mối hiểm họa

toàn cầu, nước biển dâng đang tác động và ảnh hưởng mạnh

mẽ tới tài nguyên thiên nhiên, con người, kinh tế - xã hội,

vv…ở nhiều quốc gia trên thế giới nhất các quốc gia có biển và

các vùng ven biển[2] Các nhà khoa học đã đưa ra các kịch bản

dự đoán, đến năm 2100 có khoảng 2/3 các thành phố lớn trên

thế giới có nguy cơ ngập lụt do mực nước biển dâng cao[18]

Mực nước biển được dự đoán tăng cao tại Thái Bình Dương và

Ấn Độ Dương trong tương lai sẽ gây ra những tổn thất nặng

nề[2] Các quốc gia trên thế giới đang cùng nhau chung sức

nghiên cứu đưa ra các biện pháp, xây dựng các mô hình nhằm

giảm thiệt hại của nước biển dâng[18]

Ở Việt Nam các khu vực chịu tác động mạnh của tình hình

nước biển dâng đó là Đồng bằng sông Hồng[4], dải ven biển

Miền Trung[9] và Đồng bằng sông Cửu Long[5] Tỉnh Bạc

Liêu nằm trong vùng bán đảo Cà Mau thuộc Đồng bằng sông

Cửu Long là một tỉnh ven biển chịu ảnh hưởng thuỷ triều sâu

sắc của biển Đông Nền kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu chủ yếu là nuôi

trồng thủy sản, đánh bắt cá, trồng lúa, làm muối, Nước biển

dâng dẫn đến tình trạng nước mặn xâm nhập[3], diện tích đất bị

thu hẹp ngày càng ảnh hưởng đến đời sống, định cư, sinh hoạt,

kinh tế, sản xuất,…của con người

Trong bài viết này, chúng tôi đề xuất một tiếp cận mới nghiên cứu sự ảnh hưởng của lượng mưa trong tình trạng nước biển dâng gây ngập địa hình tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long Chúng tôi tiến hành mô phỏng với hai mô hình có yếu tố lượng mưa và không có yếu tố lượng mưa lên quá trình nước biển dâng trên cơ sở dữ liệu trong quá khứ và đưa ra kịch bản

dự kiến cho tương lai Để nhằm làm tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn nữa các vấn đề nước biển dâng ảnh hưởng đến kinh tế

và xã hội dựa trên cơ sở mô phỏng đa tác tử

Vấn đề biến đổi khí hậu trong đó có tình hình nước biển dâng vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang được nghiên cứu và ứng phó [2][3][5][6][7]

Kịch bản biến đổ khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam[2]: đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Việt Nam, trong tương lai tương ứng với các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu dẫn đến các tốc độ phát thải khí nhà kính khác nhau Các kịch bản phát thải của nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển theo kịch bản phát thải thấp / trung bình /cao Cho thấy được mức nước biển dâng trong tương lai thông qua hình ảnh bản đồ

và bảng số liệu

Mô phỏng hiện trạng ngập địa hình do nước biển dâng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long[5]: Nghiên cứu cũng đã tiến hành xây dựng bản đồ số thể hiện quá trình ngập địa hình do nước biển dâng thông qua bản đồ ngập/nguy cơ ngập theo thời gian Các thống kê về diện tích ngập theo thời gian theo từng đơn vị hành chính, cũng đã được mô tả chi tiết trên cơ sở các kịch bản ngập địa hình do nước biển dâng trong quá khứ và cho các giai đoạn trong tương lai

Mô phỏng quá trình xâm nhập mặn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long[3][6]: Nghiên cứu cũng đã tiến hành xây dựng bản đồ số thể hiện quá trình nhiễm/xâm nhập mặn đã được hình thành và sự thay đổi đường đẳng mặn theo thời gian Các thống kê về diện tích nhiễm mặn theo thời gian và thống kê độ mặn trung bình theo từng đơn vị hành chính Kết quả mô phỏng sẽ cho ra các đường đẳng mặn, diện tích mặn, thống kê

độ mặn trung bình giữa các vùng, thống kê độ xâm nhập mặn qua các giai đoạn 2000 – 2010 và 2011 – 2020

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Trang 2

III XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ MÔ PHỎNG

A Số liệu

Số liệu mực nước biển được đo lấy ở trạm đo ở trạm thủy

văn[10] Số liệu là số liệu đo mực nước giờ và trung bình ngày

ở các trạm thủy văn với đơn vị tính cm Với số liệu đo chi tiết

theo từng giờ trong ngày và tất cả các ngày trong tháng

Figure 1 Số liệu mực nước đo ở trạm thủy văn [10]

Số liệu lượng mưa được đo lấy ở trạm đo[11] Số liệu là số

liệu đo lượng mưa theo từng ngày ở trạm với đơn vị tính mm

Figure 2 Số liệu lượng mưa đo ở trạm khí tượng [11]

Mục tiêu chúng tôi nghiên cứu là mô phỏng nước biển dâng

chạy theo từng tháng Nên chúng tôi đã xử lý bằng cách: Từ số

liệu mực nước giờ và trung bình ngày, trích xuất và tính toán

các số liệu đặc trưng theo từng tháng

 Trích xuất các giá trị số liệu theo ngày (chuỗi A)

 Từ chuỗi A tiếp tục tính: Chọn giá trị cao nhất / trung

bình / thấp nhất của chuỗi

 Tính toán như trên cho các tháng còn lại của năm và

cho toàn bộ bảng số liệu

 Dùng các số liệu theo bảng đã tính toán để làm số liệu

đầu vào cho mô hình mô phỏng độ ngập ở mức thấp /

trung bình / mức cao

 Kiểm tra tính toán cho mô hình cho đúng thực tế

B Công cụ GIS

Sử dụng công cụ GIS[19] để xây dựng và thiết kế các tác tử

sông/kênh cho tất cả con sông/kênh[5]

Xây dựng và thiết kế các tác tử gán cho các cell (bản đồ được chia thành các ô) Trong cơ sở dữ liệu GIS[18] có độ cao địa hình, chia vùng theo đơn vị hành chính cấp huyện được gán cho tác tử cell và được lưu trữ các dữ liệu đó Các cell tương ứng với điểm tọa độ bản đồ trên thực tế

Figure 4 Tác tử cell và cơ sở dữ liệu GIS

C Giải thuật cho mô hình

Mô phỏng cho mô hình trên nền mô phỏng GAMA[1] Các yếu tố đầu vào tính toán và xử lý cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của bài toán khi mô hình hóa: mực nước biển, lượng mưa; bản đồ địa hình, bản đồ sông ngòi; độ cao địa hình, đơn vị hành chính Được đưa vào GAMA, các dữ liệu và số liệu trên được tính toán theo các giải thuật và phương trình (viết code trong GAMA) cho ra kết quả số liệu ngập Từ số liệu ngập tiến hành

tô màu để cho ra bản đồ ngập, sau đó cho ra bản thống kê cho mức độ ngập Dựa vào bảng diễn giải phân màu trên bản đồ và bản thống kê sẽ thấy được kết quả ngập do nước biển dâng

Figure 5 Sơ đồ thực hiện xử lý mô phỏng

D Công cụ lập trình

Quá trình mô phỏng cho mô hình được thực hiện trên nền công cụ GAMA

Figure 6 Các bước lập trình trong GAMA của mô hình

Đầu tiên là nạp dữ liệu bản đồ (địa lý, hệ thống sông ngòi, cống ngăn mặn) được xây dựng từ GIS Bản đồ lưu trữ dữ liệu

độ cao địa hình, độ thấm địa hình được tính toán và phân chia

Trang 3

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Figure 7 Đưa dữ liệu bản đồ GIS vào GAMA

Tiếp theo phải khai báo lấy các trường từ dữ liệu là độ cao

địa hình, độ thấm địa hình chính là các biến, được phân chia

các khu vực nhỏ theo hệ thống đê, hệ thống cống ngăn mặn

(đóng hoặc mở) và các đơn vị huyện

Figure 8 Trường từ dữ liệu GIS

Chuyển phương trình thành giải thuật phương trình cụ thể

của lập trình với các thông số là các biến được nạp vào từ dữ

liệu GIS và cơ sở dữ liệu Phương trình sẽ tính kết quả khi chạy

mô phỏng theo thời gian, gán và phân chia các mức màu sắc để

cho ra kết quả là các mức độ ngập nước

Figure 9 Áp dụng phương trình trong GAMA

Xuất kết quả đầu ra cho mô phỏng là bản đồ ngập và nguy

cơ ngập theo từng tháng diễn biến trong từng năm ở 3 mức thấp, trung bình, cao Tương ứng theo đó là bản thống kê diện tích bị ngập ở 3 mức thấp, trung bình, cao cho mô hình

Figure 10 Hiện thị các kết quả đầu ra trong GAMA

IV KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

A Khu vực thí điểm nghiên cứu

Trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn tỉnh Bạc Liêu làm thí điểm Bạc Liêu là tỉnh nằm ở phía tây nam của Việt Nam, trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với tọa độ từ 9000’00’’ đến 9037’30’’ vĩ độ Bắc và từ 105015’00” đến 105052’30” kinh độ Đông Địa hình thấp, tiếp giáp với biển, hệ thống sông

và kênh chằng chịt, bờ biển dài 56 km Cho nên vùng này ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tình hình nước biển dâng

B Ảnh hưởng lượng mưa lên tình trạng nước biển dâng từ năm 1992-2012

Từ số liệu thực tế đưa vào mô phỏng cho ra kết quả là bản

đồ ngập và kết quả thống kê theo thời gian Ở 2 bản đồ ngập chạy mô phỏng của yếu tố lượng mưa và không có lượng mưa cho thấy được sự khác biệt, chúng tôi cũng chọn mốc thời gian chẵn năm 2000 và 2010 làm đại diện Theo kết quả mô phỏng

có được, tháng có mức độ ngập cao nhất là tháng 11-2000 và tháng 11 – 2010

Figure 11 Bản đồ ngập tháng cao nhất năm 2010.

Chạy mô phỏng qua các năm từ số liệu (1992 - 2012), qua

kết quả chạy mô phỏng cho mô hình ra kết quả thống kê diện tích ngập mức cao – thấp – trung bình cho giai đoạn 1992 – 2012

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Trang 4

Không có yếu tố lượng mưa Có yếu tố lượng mưa

Figure 12 Thống kê diện tích ngập mức cao – thấp – trung bình từ năm 1992 – 2012

Qua kết quả thống kê khi có yếu tố lượng mưa diện tích bị

ngập mức cao, biên độ thống kê càng đi lên cao cho thấy

những năm gần đây do biến đổi khí hậu, nước biển ngày càng

dâng, lượng mưa cũng tăng thêm làm cho diện tích ngập ngày

càng tăng Có những năm biên độ đi xuống, lượng mưa cũng ít,

xảy ra hạn hán, nhưng nhìn chung theo thống kê biên độ đi lên

qua các năm Khi chạy mô phỏng cho mô hình chưa có sự ảnh

hưởng của yếu tố lượng mưa từ năm 2000 trở đi biên độ thống

kê diện tích bị ngập mức trung bình mới tăng lên Ngược lại,

mô phỏng có sự ảnh hưởng yếu tố lượng mưa thì khoảng năm

1993 diện tích bị ngập mức trung bình đã có dấu hiệu tăng lên

từ từ

Nhìn chung, đa phần các mức ngập chỉ do nước biển dâng vào khoảng dưới 40% Nhưng mức ngập đo kết hợp cả nước biển và lượng mưa càng làm tăng cao, mô phỏng ở mức cao có lúc lên đến 80% (tháng 11-2010) và ở mức trung bình khoảng 33% (tháng 11-2010), xảy ra hiện tượng nước dâng cao và các trận mưa lớn liên tục Qua kết quả thống kê cho thấy các tháng

có lượng mưa lớn làm mức ngập tăng lên làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh tế - xã hội của người dân trên tỉnh Bạc Liêu

Từ thống kê diện tích ngập cho toàn tỉnh sau đó thống kê diện tích ngập cho các đơn vị hành chính huyện của tỉnh từ năm 1992 – 2012

Figure 13 Thống kê diện tích ngập các huyện so với toàn tỉnh từ năm 1992 – 2012

Qua kết quả thống kê cho mô hình trên khi có thêm yếu tố

lượng mưa, thấy mức độ ngập của đơn vị huyện cao nhất là

Đông Hải (trên 25% diện tích), tiếp đến là Hòa Bình và Tp

Bạc Liêu Các huyện còn lại Phước Long, Vĩnh Lợi có mức độ

ngập thấp hơn, hầu như không đáng kể So sánh với mô phỏng

mô hình không có yếu tố lượng mưa chủ yếu do mực nước biển

dâng thì mức độ % diện tích bị ngập thấp hơn nhiều

C Ảnh hưởng lượng mưa lên tình trạng nước biển dâng từ năm 2013-2020

Đề xuất mới cho xây dựng mô hình và mô phỏng kịch bản cho tương lai từ năm 2013 – 2020, chúng tôi chọn mốc thời gian chẵn năm 2020 làm đại diện cho ví dụ của kịch bản Bản

đồ ngập địa hình của tháng có mức độ ngập cao nhất là tháng 10-2020 (mức cao)

Trang 5

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Figure 14 Bản đồ ngập tháng cao nhất tháng 10-2020 mức cao

Hiện trạng ngập ở năm 2020 khi có và không có ảnh hưởng

của yếu tố lượng mưa có sự chênh lệch và khác biệt Riêng

tháng 6 đến tháng 10 ở mức cao thì chênh lệch khoảng 20%

Từ đó cho thấy lượng mưa ở các tháng này rất cao cùng với sự

đang lên của nước biển sẽ làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế, xã

hội Vì thế, các cơ quan chức năng cần phải có các biện pháp

phòng tránh ngập lụt và quy hoạch định cư trên các đơn vị huyện ven biển nhằm tránh thiệt hại cho người dân, ổn định phát triển kinh tế

Kết quả mô phỏng cho thống kê % diện tích ngập từ kịch bản cho mức cao – thấp – trung bình từ năm 2013 – 2020

Figure 15 Thống kê diện tích ngập mức cao – thấp – trung bình từ năm 2013 - 2020

Nhìn vào kết quả thống kê cho kịch bản, chúng ta thấy từ

năm 2013-2020 biên độ thống kê thay đổi khác biệt ở cả hai đồ

thị có và không có tác động của yếu tố lượng mưa Tuy nhiên ở

đồ thị không có yếu tố lượng mưa thì biên độ cao nhất của mức

cao vào khoảng 41% diện tích và thấp nhất có lúc 0% diện tích

Ngược lại đồ thị có yếu tố lượng mưa biên độ cao nhất của

mức cao vào khoảng 57% diện tích và thấp nhất là khoảng 20%

diện tích Qua đó, ta thấy có sự tác động của lượng mưa cao thì

hầu như diện tích đất trên toàn tỉnh đều bị ngập ít nhất 20% diện tích Cho thấy nguy cơ ngập tăng lên rất nghiêm trọng đáng báo động cho tỉnh Bạc Liêu nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung

Từ thống kê diện tích ngập cho toàn tỉnh sau đó thống kê % diện tích ngập từ kịch bản cho các đơn vị huyện từ năm

2013-2020

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Trang 6

Không có yếu tố lượng mưa Có yếu tố lượng mưa

Figure 16 Thống kê diện tích ngập các huyện so với toàn tỉnh từ năm 2013-2020

Qua thống kê kịch bản mô phỏng cho các đơn vị huyện,

diện tích bị ngập của các huyện tăng lên cao khoảng 5% diện

tích ở các huyện ven biển như Đông Hải, Hòa Bình, Tp Bạc

Liêu khi có tác động của yếu tố lượng mưa so với không có tác

động của yếu tố lượng mưa Các huyện nằm phía trong quốc lộ

1A còn lại tăng không đáng kể vì đã được quốc lộ 1A và các

cống ngăn nước biển vào Riêng huyện Đông Hải từ năm 2015

– 2020 thì % diện tích bị ngập càng ngày càng tăng và biên độ

mô phỏng ở mức thấp nhất tăng cao, từ năm 2015 vào khoảng

13% đến năm 2020 vào khoảng 17% Nếu chiều hướng này

vẫn tiếp tục có thể huyện Đông Hải vào mùa mưa sẽ có thể bị

ngập trên phạm vi toàn huyện Các huyện Tp Bạc Liêu, Hòa

Bình mức độ ngập cũng tăng vừa phải ít hơn so với huyện

Hông Hải

Qua kịch bản mô phỏng từ năm 2013-2020, cho thấy ảnh

hướng rất xấu đến tỉnh Bạc Liêu, cần có biện pháp khắc phục

tình trạng ngập lụt như: quy hoạch lại hệ thống kênh, vét kênh

tạo dòng chảy nhằm chia sẽ lượng nước trên các con sông với

nhau; xây dựng hệ thống đê điều hợp lý ngăn nước biển và hệ

thống đập ngăn mặn ngăm nước biển xâm nhập vào đồng

ruộng

V KẾT LUẬN Chúng tôi đã nghiên cứu mô phỏng mô hình ảnh hưởng của

lượng mưa lên quá trình nước biển dâng trên địa bàn khu vực

Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh vùng Đồng bằng

sông Cửu Long chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu Tiến

hành mô phỏng với hai mô hình có yếu tố lượng mưa và không

có yếu tố lượng mưa lên quá trình nước biển dâng trên cơ sở dữ

liệu trong quá khứ và đưa ra kịch bản dự kiến cho tương lai

Trên cơ sở kết quả mô phỏng, nghiên cứu cũng đã tiến hành

xây dựng bản đồ số thể hiện quá trình ngập địa hình do nước

biển dâng và ảnh hưởng thêm của lượng mưa thông qua bản đồ

ngập/nguy cơ ngập theo thời gian Các thống kê về diện tích

ngập theo thời gian theo từng đơn vị hành chính (cấp tỉnh, cấp

huyện) trên địa bàn một tỉnh được chọn thí điểm (tỉnh Bạc

Liêu) trên địa bàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã

được mô tả chi tiết trên cơ sở các kịch bản ngập địa hình do

nước biển dâng trong quá khứ và cho các giai đoạn trong tương

lai Các so sánh sự có và không có ảnh hưởng của lượng mưa

qua bản đồ ngập và thống kê về mức độ ngập trong quá khứ và

cho các giai đoạn trong tương lai

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ mở rộng nghiên cứu mô

phỏng các mô hình toán biến đổi khí hậu cho khu vực Đồng

bằng sông Cửu Long và các khu vực khác của Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] IRD/UPMC-UMMISCO GAMA-platform

http://code.google.com/p/gama-platform/

[2] Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam Kịch bản biến đổi khí hậu,

nước biển dâng cho Việt Nam NXB Tài nguyên Môi trường và bản đồ

Việt Nam, 2012

[3] Hoàng Ngọc Hiển, Dương Việt Hằng, Nguyễn Hiếu Trung, Huỳnh Xuân

Sông cửu Long, Kỷ yếu Hội nghị FAIR’2014, NXB Khoa học tự nhiên

& Công nghệ, Hà Nội, 2014

[4] Phạm Tất Thắng, Nguyễn Thu Hiền Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu – Nước biển dâng đến tình hình xâm nhập mặn dải ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, Khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường – số 37, 2012 [5] Hoàng Ngọc Hiển, Triệu Yến Yến, Phan Văn Sa, Huỳnh Xuân Hiệp Mô phỏng hiện trạng ngập địa hình do nước biển dâng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Kỷ yếu Hội nghị GIS’2014, NXB Đại học Cần Thơ,

2014

[6] Hoang N.H, Huynh X.H, Nguyen H.T Simulation of Salinity Intrusion

in the Context of the Mekong Delta Region (Vietnam) Research, Innovation, and Vision for the Future (RIVF), IEEE Conference Publications, pp 1-4, 2012

[7] Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2010 [8] Trần Thanh Xuân, Trần Thục, Hoàng Minh Tuyển, Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Việt Nam, NXB Khoa học công nghệ , Hà Nội, 2011

[9] Lê Quang Cảnh, Lê Văn Thăng, Nguyễn Huy Anh Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ bị tổn thương do nước biển dâng gây ra đối với diện tích đất trồng lúa ở dải ven biển tỉnh Phú Yên, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Tập 74B, Số 5, Trang 17-24, 2012

[10] Bảng số liệu thống kê mực nước biển từ năm 1992 đến 2012, Trạm thủy văn Gành Hào, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Bạc Liêu, 2014 [11] Bảng số liệu thống kê lượng mưa từ năm 1992 đến 2012, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Bạc Liêu, 2014

[12] J.Q Xia, R.A Falconer, B Lin, G Tan, Estimation of future coastal flood risk in the Severn Estuary due to a barrage, J Flood Risk Manage, Vol.4, pp 247-259, 2011

[13] Donna Kain, Michelle Covi Visualizing complexity and uncertainty about climate change and sea level rise, Communication Design Quarterly Review , Vol 1, pp 46-53, 2013

[14] Reza Ahmadian, Agnieszka I Olbert, Michael Hartnett, Roger A Falconer Sea level rise in the Severn Estuary and Bristol Channel and impacts of a Severn Barrage, J Computers & Geosciences, Vol 66, pp 94-105, 2014

[15] H.E Pelling, J.A Mattias Green, S.L Ward, Modelling tides and sea-level rise: to flood or not to flood, Ocean Modelling, Vol 63, pp 21-29,

2013

[16] Jason R W Merrick Aggregation of forecasts from multiple simulation models, WSC '13: Proceedings of the 2013 Winter Simulation Conference: Simulation: Making Decisions in a Complex World, IEEE Press, pp 533-542, 2013

[17] David J Lieske Coping with climate change, Environmental Modelling

& Software, Vol 68, pp 98-109, 2015

[18] IPCC WGII AR5, Climate Change 2014: Impacts, Adaptation, and Vulnerability, 2014

[19] Taillandier, P., Drogoul, A From GIS Data to GIS Agents, Modeling with the GAMA simulation platform, 2010

Ngày đăng: 28/04/2022, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hưởng nghiêm trọng bởi tình hình nước biển dâng. - Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
h ưởng nghiêm trọng bởi tình hình nước biển dâng (Trang 3)
địa hình, độ thấm địa hình chính là các biến, được phân chia các khu vực nhỏ theo hệ thống  đê,  hệ thống cống  ngăn  mặn  - Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
a hình, độ thấm địa hình chính là các biến, được phân chia các khu vực nhỏ theo hệ thống đê, hệ thống cống ngăn mặn (Trang 3)
kinh độ Đông. Địa hình thấp, tiếp giáp với biển, hệ thống sông và kênh chằng chịt, bờ biển dài 56 km - Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
kinh độ Đông. Địa hình thấp, tiếp giáp với biển, hệ thống sông và kênh chằng chịt, bờ biển dài 56 km (Trang 3)
Đề xuất mới cho xây dựng mô hình và mô phỏng kịch bản - Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
xu ất mới cho xây dựng mô hình và mô phỏng kịch bản (Trang 4)
đồng ập địa hình của tháng có mức động ập cao nhất là tháng 10-2020 (mức cao).  - Mô phỏng sự tác động của lượng mưa lên quá trình thủy triều tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
ng ập địa hình của tháng có mức động ập cao nhất là tháng 10-2020 (mức cao). (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w