1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ

81 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 407,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÊN ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm qua, hàng thủy sản luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), xuất khẩu thủy sản của Việt Nam liên tục đạt được mức kim ngạch và tốc độ tăng trưởng khả quan Trong đó, cá Tra, cá Basa là một trong những sản phẩm quan trọng nhất và hiện nay chiếm khoả.

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm qua, hàng thủy sản luôn là một trong những mặt hàngxuất khẩu chủ lực của Việt Nam Đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức gianhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), xuất khẩu thủy sản của Việt Namliên tục đạt được mức kim ngạch và tốc độ tăng trưởng khả quan Trong đó, cáTra, cá Basa là một trong những sản phẩm quan trọng nhất và hiện nay chiếmkhoảng 30 đến 34% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước Cá Tra ViệtNam đã có mặt tại hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, chiếmhơn 80% sản lượng cá tra toàn cầu Đặt biệt, thị trường Mỹ là một trong nhữngthị trường tiêu thụ cá Tra, cá Basa lớn nhất của Việt Nam với giá trị xuất khẩuđạt trên 358 triệu USD vào năm 2012, chiếm khoảng hơn 20% trong tổng kimngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam

Tuy đã và đang đạt được nhiều thành công nhưng ngành xuất khẩu cá Tra,

cá Basa vào thị trường Mỹ vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Đó làviệc Mỹ áp đặt thuế chống bán phá giá theo các mức thuế khác nhau làm ngườidân Việt Nam luôn trong tình thế bị động và lo lắng Vậy làm thế nào để nângcao vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu cá Tra, cá Basa của ViệtNam trên thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường Mỹ? Tôi cho rằng mọi vấn đềđều nằm trong “chuỗi cung ứng” bởi trong chuỗi có một mối liên hệ chặt chẽgiữa người nuôi, nhà chế biến và nhà phân phối Chỉ khi chúng ta xây dựng được

và áp dụng một chuỗi cung ứng bền vững thì mới có thể đảm bảo chất lượng sảnphẩm, truy xuất nguồn gốc, giải trình các chi phí một cách rõ ràng, khách quan,

có mối tiêu thụ ổn định và khi đó xuất khẩu cá Tra, cá Basa mới phát triển bềnvững được Đứng trên góc độ một nhà quản lí doanh nghiệp xuất khẩu cá Tra, cáBasa của Việt Nam, tôi thiết nghĩ chìa khóa để giải quyết các vấn đề hiện nay là

Trang 2

chúng ta cần phải có một sự nghiên cứu kĩ lưỡng về chuỗi cung ứng để từ đó cóthể đưa ra được các giải pháp phù hợp với từng khâu trong chuỗi và phù hợp vớitừng thị trường xuất khẩu Do vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài khóa luận tốt

nghiệp là “Chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra, cá Basa xuất khẩu vào thị trường Mỹ: Thực trạng và giải pháp”.

Trang 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra, cá Basacủa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ

 Phạm vi nghiên cứu: thực trạng chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basatại Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ trong vòng 5 năm trở lại đây

3 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảngbiểu, bài khóa luận gồm 60 trang được chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Trong phần này người viết đưa ra lý thuyết tổng quát nhất về chuỗi cungứng, chuỗi cung ứng mặt hàng thủy sản và vấn đề về truy xuất nguồn gốc trongchuỗi cung ứng

Chương 2: Thực trạng chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra, cá Basa xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Phần này người viết nghiên cứu một cách tổng quát về thị trường Mỹ và

đi sâu về các thành phần, đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basaxuất khẩu của Việt Nam, từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại

Trang 4

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra, cá Basa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Trên cơ sở những hạn chế tìm ra ở chương 2, người viết đề xuất một sốgiải pháp để hoàn thiện chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra, cá Basa xuất khẩu vào

Mỹ của Việt Nam

Trang 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG

qua

n

1.1 Lý thuyết tổng quát về chuỗi cung ứng

1.1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

1.1.2 Các thành phần của chuỗi cung ứng và các đối tượng liên

1.1.2.1 Các thành phần của chuỗi cung ứng

1.1.2.2 Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng

1.1.3 Các hoạt động trong chuỗi cung ứng

1.1.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả của chuỗi cung ứng

1.1.5 Ý nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng

1.2 Khái quát về chuỗi cung ứng mặt hàng thủy sản

1.2.1 Đặc điểm nổi bật của ngành thủy sản

1.2.2 Cấu trúc cơ bản của một chuỗi cung ứng thủy sản

1.2.3 Vấn đề truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng ngành thủy sản1.2.3.1 Khái niệm về truy xuất nguồn gốc

1.2.3.2 Quy trình truy xuất thông tin theo chuỗi đối với hàng thủy sản

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

2.1 Giới thiệu tổng quan về thị trường Mỹ

2.1.1 Nhu cầu tiêu thụ cá Tra, cá Basa ở Mỹ

2.1.2 Ảnh hưởng của việc nhập khẩu cá Tra, cá Basa đối với ngành sản xuất cá da trơn của Mỹ

Trang 6

2.2.1.1 Nuôi cá Tra, cá Basa

2.2.1.2 Vận chuyển cá Tra, cá Basa về các nhà máy chế biến

2.2.1.3 Chế biến và đóng gói

2.2.1.4 Vận chuyển thành phẩm ra cảng

2.2.1.5 Xuất khẩu vào Mỹ

2.2.2 Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu sang Mỹ của Việt Nam

2.2.2.1 Ưu điểm

2.2.2.2 Một số vấn đề còn tồn tại

2.2.2.2.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào chưa ổn định

2.2.2.2.2 Thiếu tính quy hoạch, thống nhất trong dây chuyền cungứng

2.2.2.2.3 Hạn chế ở khâu nuôi trồng

2.2.2.2.4 Hạn chế ở khâu đánh bắt

2.2.2.2.5 Hạn chế ở khâu chế biến

2.2.2.2.6 Hạn chế trong khâu vận chuyển

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

3.1 Định hướng phát triển ngành xuất khẩu cá Tra, cá Basa vào thị trường Mỹ trong những năm tới

3.2 Giải pháp

3.2.1 Giải pháp đối với nguồn nguyên liệu đầu vào

3.2.2 Giải pháp đối với các đối tượng trong chuỗi cung ứng

3.2.2.1 Giải pháp đối với nhà nuôi

3.2.2.2 Giải pháp đối với nhà đánh bắt

Trang 7

3.2.2.3 Giải pháp đối với nhà sản xuất, chế biến

3.2.2.4 Giải pháp đối với nhà vận chuyển

3.2.3 Kiến nghị với nhà nước

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG

1.1 Lý thuyết tổng quát về chuỗi cung ứng

1.1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu tiếp cận chuỗi cung ứng theo nhữnghướng khác nhau và cũng có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng:

“Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm và dịch vụ

vào thị trường”- “Fundaments of Logistics Management”, Lambert, Stock and

Ellram (1998, Boston MA: Irwin/McGraw- Hill, c.14)

“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phốinhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển đổi nguyên liệu

thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng”- “An introduction to supply chain management”, Ganesham, Ran and Tery P.Harison,

1995

“Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chứctham gia trực tiếp hay gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao

gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, nhà bán lẻ và khách hàng”- “Supply chain managment: Strategy, planning and operation”, Sunil Chopra and Peter Meindl,

2001, Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall C1)

Như vậy, chuỗi cung ứng là một mạng lưới với các mắt xích có mối liên

hệ chặt chẽ nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu; sản xuất, chế

Trang 8

biến nguyên vật liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm và phân phối sản phẩm tới nơi tiêu thụ cuối cùng.

Quản trị chuỗi cung ứng

Quản trị chuỗi cung ứng là gì? Thuật ngữ này ra đời vào cuối những năm

1980 và trở nên phổ biến vào những năm 1990 Có rất nhiều định nghĩa về quảntrị chuỗi cung ứng:

Theo Hội đồng chuỗi cung ứng Mỹ: Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản

lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp,kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phânphối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng

Theo Hội đồng quản trị hậu cần Mỹ: Quản trị chuỗi cung ứng là sự phốihợp chiến lược và hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống và các sáchlược xuyên suốt các chức năng này trong một công ty cụ thể và giữa các doanhnghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của cáccông ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng

Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà quản trị chuỗi cung ứng: Quản trịchuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quanđến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trịlogistics Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp vàcộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian,các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽtích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau Quảntrị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối cácchức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty

và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kếtdính Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics

đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình

và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tàichính, công nghệ thông tin

Trang 9

Theo uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic andSocial Commission for Asia and the Pacific - ESCAP): Quản trị chuỗi cung ứng

là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấpnguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng Khái niệm quản trị chuỗicung ứng chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽgiữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan nhưcác công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin

Vậy quản trị chuỗi cung ứng thực chất là những cách thức tổ chức sao chohoạt động có hiệu quả của nhà cung cấp, người sản xuất, khai thác hệ thống khobãi, sử dụng các dịch vụ và các điểm bán hàng nhằm phân phối hàng hóa đượcsản xuất đến đúng địa điểm, đúng lúc, đúng yêu cầu về chất lượng, nhằm giảmthiểu tối đa chi phí toàn hệ thống nhưng vẫn thỏa mãn được yêu cầu của kháchhàng

qua

n

1.1.2 Các thành phần của chuỗi cung ứng và các đối tượng liên

1.1.2.1 Các thành phần của chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng của các sản phẩm khác nhau thì có các mắt xích cũngnhư các đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung bất kì một chuỗi cung ứng

nào cũng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản Đó là: sản xuất, vận chuyển, tồn kho, định vị, thông tin Các thành phần này là các nhóm chức năng khác nhau và

cùng nằm trong dây chuyền cung ứng

Sản xuất: là khả năng của hệ thống cung ứng sản xuất ra và lưu giữ sản

phẩm Nhà xưởng, nhà kho là những cơ sở vật chất, trang thiết bị quan trọngnhất của thành phần này Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp phải biếtcân bằng giữa khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuấtcủa doanh nghiệp thông qua việc xác định đúng đắn là phải sản xuất cái gì, sốlượng bao nhiêu? Sản xuất như thế nào, quản lý và giám sát quá trình sản xuất rasao? Khi nào cần sản xuất và mất bao lâu để có được sản phẩm đáp ứng nhu cầucủa thị trường?

Trang 10

Có hai phương pháp sản xuất:

Tâm điểm sản xuất: Đi theo phương pháp này các doanh nghiệp

sẽ thực hiện các hoạt dộng sản xuất khác nhau để tạo ra các dòng sản phẩm khácnhau và lắp ráp tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Phương pháp này có xu hướng đisâu vào việc phát triển một sản phẩm với sự đặc biệt hóa một số chức năng nàođó

Tâm điểm chức năng: Phương pháp này đi sau vào việc chuyên

môn hóa một vài hoạt động sản xuất để tạo ra những bộ phận nhất định hay chỉtập trung vào công việc lắp ráp Các chức năng này có thể áp dụng để sản xuấtnhiều loại sản phẩm khác nhau Không giống như phương pháp tâm điểm sảnxuất, phương pháp này lại chú trọng về các chức năng cụ thể thay vì chuyên vềmột sản phẩm sẵn có

Mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng nên doanh nghiệpcần có những quyết định sáng suốt trong việc lựa chọn phương pháp sản xuấtthích hợp ứng với từng giai đoạn để đảm bảo đủ công suất nhưng cũng phải có

sư chuyên môn hóa cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Ứng với mỗi phương pháp sản xuất cần có một sự lựa chọn phương pháplưu kho sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất Có ba cách lưu kho doanhnghiệp thường áp dụng:

Lưu kho theo đơn vị: Đây là một phương pháp truyền thống, hiệu

quả và đơn giản mà các doanh nghiệp hay dùng nhất Theo phương pháp này, tất

cả cá sản phẩm cùng loại sẽ được lưu giữ chung ở một nơi

Lưu kho theo công năng: Theo phương pháp này, mọi sản phẩm

khác nhau có liên quan đến nhu cầu của một nhóm khách hàng hay một côngviệc cụ thể nào đó sẽ được lưu giữ chung với nhau Phương pháp này rất hiệuquả trong việc đóng gói, giúp tiết kiệm thời gian và công sức nhưng lại yêu cầukhông gian lưu trữ rộng hơn so với phương pháp lưu kho theo đơn vị

Trang 11

Lưu kho chéo: Với phương pháp này, kho hàng là nơi lưu trữ các

lộ trình trong đó các xe tải đến từ nhà cung cấp và vận chuyển xuống một lượnglớn các loại hàng hóa khác nhau Những lô hàng lớn này sẽ được chia ra thànhcác lô hàng nhỏ hơn và phân phối đến điểm giao hàng cuối cùng

Vận chuyển: là việc vận chuyển các nguyên vật liệu, bán thành phẩm

cũng như các sản phẩm giữa các vị trí khác nhau trong chuỗi cung ứng Trongviệc vận chuyển, thông qua việc lựa chọn phương thức vận chuyển có thể thấyđược mối liên hệ giữa khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển và hiệu quả côngviệc Hiện nay có 6 phương thức vận chuyển phổ biến mà các doanh nghiệp cóthể sử dụng:

Đường biển: giá cước rẻ, mất nhiều thời gian vận chuyển nhất và bị giới

hạn về địa điểm giao nhận

Đường sắt: giá cước rẻ, thời gian vận chuyển trung bình, bị giới hạn về

địa điểm giao nhận

Đường bộ: tương đối nhanh, linh hoạt, chi phí dễ biến động do chi phí

nhiên liệu biến động và chất lượng đường xá thay đổi

Đường hàng không: thời gian vận chuyển nhanh, giá thành cao, bị giới

hạn bởi địa điểm giao nhận và công suất vận chuyển

Dạng điện tử: giá thành rẻ, mất ít thời gian vận chuyển nhất nhưng bị

giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (chỉ dành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh,nhạc, văn bản…)

Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (chỉ sử

dụng được khi hàng hóa là chất lỏng, chất khí )

Mỗi phương thức vận chuyển có những ưu và nhược điểm nhất định Do

đó, các doanh nghiệp phải lựa chọn được các phương thức tốt nhất trên cơ sở cân

Trang 12

bằng giữa chi phí và lợi nhuận của mình nhưng phải đảm bảo chất lượng hàngtrong suốt quá trình vận chuyển.

Tồn kho: là việc giải quyết vấn đề hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ

như thế nào Hàng tồn kho xuất hiện trong hầu hết các mắt xích của chuỗi cungứng, từ nguyên vật liệu, bán thành phẩm đến thành phẩm Chính yếu tố tồn kho

sẽ góp phần quyết định doanh thu và lợi nhuận của một doanh nghiệp Tồn kho íttức là sản phẩm sản xuất ra bao nhiêu sẽ được tiêu thụ hết bấy nhiêu Điều đóchứng tỏ doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả Tuy nhiên, doanh nghiệp cần cânnhắc giữa việc sẵn sàng đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng và tínhhiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp mình Tồn kho một lượng nguyênliệu lớn sẽ giúp chuỗi cung ứng đáp ứng nhanh với những yêu cầu mới củakhách hàng Trong mỗi mắt xích của chuỗi cung ứng, các nhà quản trị cần phải

xử lí các câu hỏi: Cần tồn kho những mặt hàng nào, trong giai đoạn nào, với sốlượng bao nhiêu? Điều đó cũng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực bảo quản cũngnhư hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc bảo quản hàng tồnkho

Có ba vấn đề mà nhà quản trị doanh nghiệp cần xem xét trong việc sảnxuất và lưu giữ hàng tồn kho:

Hàng tồn kho chu kỳ: Là lượng hàng tồn kho cần thiết để đáp ứng

nhu cầu sản phẩm trong kỳ giữa các lần thu mua sản phẩm Các doanh nghiệpthường sản xuất và thu mua các lô hàng lớn để được hưởng lợi ích theo quy môhay lợi ích từ việc mua sỉ Tuy nhiên, các lô hàng lớn cũng tiềm ẩn những rủi ronhư phát sinh chi phí bảo quản, lưu trữ, trông non hay thiệt hại khi hàng bịhỏng Do đó các doanh nghiệp phải có sự cân nhắc giữa giảm chi phí đặt hàng,chi phí nguyên liệu khi sản xuất lớn và những rủi ro có thể xảy ra

Hàng tồn kho an toàn: Do nhu cầu của con người luôn thay đổi

nên cần phải có một lượng hàng dự phòng để đáp ứng trong trường hợp nhu cầutăng lên đột ngột Ở đây doanh nghiệp cần cân nhắc giữa chi phí lưu kho, chi phítrung chuyển hàng tồn kho và lượng doanh thu bị mất do không đủ hàng tồn kho

Trang 13

Hàng tồn kho thời vụ: Là lượng hàng được dự trữ để đáp ứng nhu

cầu tăng đột biến vào những thời điểm nhất định trong năm Tuy nhiên, nếu việc

dự đoán nhu cầu không chính xác thì có thể dẫn đến những mất mát lớn Do vậy,thay vì dự trữ hàng tồn kho, các doanh nghiệp nên đầu tư vào việc cải tiến trangthiết bị sản xuất để có thể tăng năng suất nhằm đáp ứng sự biến động của nhucầu trong thời gian ngắn Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần cân nhắc giữachi phí của việc lưu kho hàng và chi phí đầu tư để cải thiện năng lực sản xuất

Định vị: là việc trả lời cho các câu hỏi: Tìm kiếm các nguồn nguyên vật

liệu sản xuất ở đâu? Sản xuất ở đâu? Đâu là nơi tiêu thụ tốt nhất? Ở đây, sự cânnhắc giữa tính đáp ứng nhanh và hiệu quả sản xuất được nhìn thấy trong việc racác quyết định tập trung các hoạt động ở một vài nơi nhất định nhằm đạt đượchiệu quả sản xuất theo quy mô hay việc phân bổ các hoạt động ra nhiều nơi khácnhau để tiếp cận gần với khách hàng và nhà cung cấp nhằm giảm chi phí phânphối… Nhìn chung, các quyết định về định vị bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: chiphí vận chuyển, chi phí nhân công, sự sẵn có về lao động, điều kiện cơ sở vậtchất, sự thuận lợi về khí hậu, địa hình, Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuấtđược tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn Đồng thời qua đó cũngphản ánh được chiến lược của doanh nghiệp trong việc xây dựng, phát triển vàphân phối sản phẩm trong dài hạn

Thông tin: là cơ sở để có được những quyết định liên quan đến sản xuất,

vận chuyển, tồn kho và định vị Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống quản trị chuỗicung ứng sẽ mang lại những kết quả chuẩn xác, các mắt xích trong chuỗi cungứng sẽ đưa ra được các quyết định phù hợp nhất với hoạt động của họ Ngượclại, với những thông tin sai lệch, hệ thống quản trị chuỗi cung ứng sẽ không thểphát huy hết tác dụng Thông tin cần được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau

và cần phải cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết Trong chuỗicung ứng, thông tin được sử dụng với hai mục đích Đầu tiên, thông tin được sửdụng để ra các quyết định phục vụ cho hoạt động hàng ngày như kế hoạch thumua nguyên vật liệu, sản xuất, lượng tồn kho, lộ trình vận chuyển, Thứ hai,thông tin dùng để dự đoán và lên kế hoạch sản xuất dài hạn, thỏa mãn nhu cầu

Trang 14

Vận chuyển

(Bằng phương tiện gì? Khi nào?)

Tồn kho

(Sản xuất bao nhiêu? Dự trữ bao nhiêu?)

trong trong tương lai, mở rộng hay thu hẹp quy mô, thâm nhập thị trường mới.Xét về tổng thể, trong một chuỗi cung ứng, các thông tin về cung cầu, phản hồi

từ khách hàng, dự báo thị trường và kê hoạch tương lai mà các mắt xích trao đổivới nhau càng nhiều thì hoạt động của toàn chuỗi càng hiệu quả

Hình 1.1: Sơ đồ mối liên hệ giữa 5 yếu tố cơ bản của một chuỗi cung ứng

1.1.2.2 Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng

Trên thực tế, có hai loại mô hình chuỗi cung ứng: mô hình chuỗi cungứng giản đơn và mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Trong mô hình chuỗi cungứng giản đơn gồm có ba đối tượng là doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng

Mở rộng hơn, trong mô hình chuỗi cung ứng mở rộng hay còn gọi là mô hìnhchuỗi cung ứng phức tạp thì ngoài ba đối tượng đã xuất hiện ở chuỗi cung ứnggiản đơn còn có thêm ba đối tượng nữa là nhà cung ứng của nhà cung ứng (nhàcung ứng cuối cùng tại điểm đầu của chuỗi cung ứng mở rộng), khách hàng củakhách hàng (khách hàng cuối cùng tại điểm cuối của chuỗi cung ứng mở rộng)

Trang 15

và các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty khác trong chuỗi Đó là nhữngcông ty cung cấp các dịch vụ hậu cần, tài chính, tiếp thị, quảng cáo, công nghệthông tin Các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần này tùy thuộc vào từng chuỗi

mà có những dịch vụ đặc thù khác nhau Ví dụ như đối với chuỗi cung ứng hàngthủy sản, ngoài các công ty cung cấp các dịch vụ về tài chính, tiếp thị, nghiêncứu thị trường còn có các công ty cung cấp dịch vụ thức ăn chăn nuôi, kiểm trasức khỏe con giống, thuốc thú y…

Nhìn chung, trong bất kì chuỗi cung ứng nào cũng luôn cần sự kết hợphiệu quả giữa các mắt xích, mỗi mắt xích sẽ đảm nhận một vai trò nhất định và

sự thành công hay thất bại của mỗi mắt xích sẽ ảnh hưởng đến những mắt xíchứng lại Dưới đây là các đối tượng (mắt xích) điển hình trong một chuỗi cungứng:

Nhà cung cấp: Là các hộ gia đình, công ty, doanh nghiệp cung cấp

nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, kinh doanh Thông thường, nhà cungcấp được hiểu là những đơn vị cung cấp nguyên vật liệu trực tiếp như nguyênliệu thô, các bộ phận của sản phẩm, bán thành phẩm Ngoài ra còn có các nhàcung cấp dịch vụ Đó là những công ty cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất,phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Họ thường phát triển theo hướng chuyênmôn hóa để tập trung vào một hoạt động nhất định nhằm phục vụ cho chuỗi cungứng hiệu quả hơn và tốn ít chi phí hơn so với việc nhà sản xuất, nhà phân phối,nhà bán lẻ hay khách hàng tự làm

Nhà sản xuất: Là các nhà máy, xí nghiệp sản xuất thành phẩm sử dụng

nguyên vật liệu và các bán thành phẩm của các nhà sản xuất khác để làm rathành phẩm cuối cùng Sản phẩm ở đây không chỉ là những hàng hóa hữu hình

mà còn có thể là các sản phẩm vô hình như các dịch vụ

Nhà phân phối: Là các công ty mua số lượng lớn sản phẩm từ nhà sản

xuất và phân phối chúng cho các khách hàng Họ còn được gọi là các nhà bánbuôn và đi bán cho các công ty khác, cửa hàng khác với số lượng lớn hơn lượng

mà người tiêu dùng mua Một nhà phân phối cần thực hiện những chức năng sau:

Trang 16

khuyến mại, hạ giá sản phảm, quản lí kho hàng cũng như hàng tồn kho, vậnchuyển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và cung cấp dịch vụ hậu mãi Nhà phânphối cũng có thể là nhà môi giới giữa nhà sản xuất và khách hàng và họ khôngbao giờ sở hữu sản phẩm Với vai trò này, họ chủ yếu thực hiện chức năngkhuyến mại và giảm giá sản phẩm Khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, nhàphân phối lại đóng vai trò trung gian trong việc tiếp nhận và truyền đạt thông tintới nhà sản xuất để có những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng nhu cầu của kháchhàng.

Nhà bán lẻ: Là các cửa hàng dự trữ và bán hàng với số lượng nhỏ hơn

nhà bán nuôn Họ là nơi cung cấp hàng hóa trực tiếp tới người tiêu dùng Họcũng theo dõi sự thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng để phảnánh lại với nhà sản xuất thông qua nhà phân phối Mục đích chính của nhà bán lẻ

là thu hút khách hàng đối với những sản phẩm mình bán nện họ thường quảngcáo và sử dụng những kĩ thuật kết hợp về giá, sự lựa chọn và tiện dụng của sảnphẩm

Khách hàng: Là bất cứ cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp nào mua và

tiêu dùng sản phẩm Khách hàng có thể là người sử dụng cuối cùng sản phẩmnhưng họ cũng có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác tạo ramột sản phẩm mới và bán lại cho một khách hàng khác

Trang 17

cung cấp

Nhà sản xuất

Khách hàng

Nhà cung cấp dịch vụ

Hình 1.2: Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng

Mô hình chuỗi cung ứng giản đơn

Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng

Nhà Nhà Nhà sản Khách Khách cung

cấp cuối

cung cấp

xuất hàng hàng

cuối cùng

1.1.3 Các hoạt động trong chuỗi cung ứng

Trang 18

Chuỗi cung ứng là sự tổng hợp của rất nhiều hoạt động liên quan đến cácđối tượng khác nhau như lên kế hoạch, tìm kiếm nguồn nguyên liệu, sản xuất,giao hàng, trả hàng Nhìn chung, các hoạt động trong một chuỗi cung ứng cóthể được chia làm hai nhóm lớn:

Các hoạt động cơ bản: Nhóm này gồm có các hoạt động như bốc

hàng, dỡ hàng, bảo quản hàng, xuất- nhập hàng ra vào kho, mua bảo hiểm, điềuvận lô hàng

Các hoạt động tổ hợp: Nhóm này gồm ba nhóm nhỏ hơn:

 Nhóm cơ sở: Gồm các hoạt động nền tảng của một chuỗi cungứng, đó là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ

 Nhóm chủ chốt: Gồm các hoạt động như đảm bảo quy trình tiêuchuẩn phục vụ khách hàng, thu mua nguyên vật liệu, vận tải, dự trữ, quản trị đơnhàng, quản trị sản xuất, phân bổ nguồn lực

 Nhóm phụ trợ: Gồm các hoạt động xử lí lô hàng, đóng gói, quản

lý hàng trả lại, hệ thống thông tin

Các hoạt động trong chuỗi cung ứng được thực hiện bởi các mắt xích mộtcách nhịp nhàng, phối hợp với nhau nhằm đạt được mục đích cuối cùng củachuỗi là phải tạo ra giá trị về tài chính (gia tăng lợi nhuận cho tất cả các mắt xíchtrong chuỗi), giá trị cho khách hàng (chất lượng sản phẩm tốt, giá cả phải chăng,mạng lưới phân phối rộng khắp và chất lượng dịch vụ tốt) và giá trị cho toàn xãhội (phát triển bền vững, đóng góp tích cực cho các hoạt động xã hội và bảo vệmôi trường

Hình 1.3: Mô hình một số hoạt động trong chuỗi cung ứng trên cơ sở các mắt xích cơ bản.

bộ, kho bãi, định

Trang 19

Q u ả n

t r ị

đ ơ n

h à n g ,

p h ả n

h ồ i

v ề

s ả n

p h ẩ m ,

d ị c h

v ụ ,

Trang 20

1.1.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả của chuỗi cung ứng

Về mặt tổng thể, tính hiệu quả của một chuỗi cung ứng có thể được đánhgiá thông qua giá trị dịch vụ khách hàng hay một số chỉ tiêu về tính nhanh nhạynhư thời gian chu kỳ của toàn chuỗi cung ứng hay chu kỳ tuần hoàn tiền mặt Tuy nhiên chuỗi cung ứng là tập hợp của các mắt xích nên sự thành công củamột chuỗi cung ứng phụ thuộc rất nhiều vào tính hiệu quả của từng khâu trongchuỗi Do vậy, trong phạm vi bài khóa luận này, người viết sẽ sử dụng phươngpháp đánh giá hiệu quả hoạt động của một chuỗi cung ứng thông qua việc xemxét tính hiệu quả của hai khâu quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến sựthành công của một chuỗi cung ứng

1.1.4.1 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà cung cấp

Hiệu quả hoạt động của nhà cung cấp được đánh giá chủ yếu qua hai tiêuchí sau:

Sự ổn định của nguồn nguyên liệu cung ứng

Bất kỳ một hoạt động sản xuất nào cũng cần có nguồn nguyên liệu đầuvào Sự ổn định về nguồn nguyên liệu đảm bảo cho dây truyền sản xuất diễn raliên tục và hiệu quả, tiết kiệm cả về thời gian và chi phí Tính ổn định này đượcthể hiện ở các khía cạnh sau:

- Số lượng nguyên liệu đầu vào có đáp ứng được nhu cầu sản xuất haykhông? Do nhu cầu của con người luôn thay đổi và rất khó lường trước nên đôikhi việc dự đoán nhu cầu không thật chính xác dẫn đến tình trạng sản xuất dưthừa hoặc thiếu hụt Vì vậy lượng nguyên liệu sẵn sàng để phục vụ sản xuất kịpthời trong những thời điểm nhu cầu biến động mạnh là vô cùng quan trọng,quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp bởi trong môi trường cạnh tranh

Trang 21

khốc liệt như ngày nay thì việc nắm bắt được cơ hội sẽ là một đòn bẩy giúpdoanh nghiệp phát triển nhanh chóng.

- Chất lượng có đạt tiêu chuẩn và đồng nhất hay không? Đủ về mặt sốlượng, kịp thời về thời gian nhưng nếu nguyên liệu đầu vào không đạt tiêu chuẩnthì sẽ ảnh hưởng xấu tới toàn bộ chuỗi cung ứng bởi doanh nghiệp dù có áp dụngcông nghệ hiện đại tới đâu cũng không thể làm ra những sản phẩm tốt với nguồnnguyên liệu đầu vào không đảm bảo chất lượng

- Giá cả nguồn nguyên liệu có ổn định hay không? Chi phí nguyên vậtliệu chiếm phần lớn trong tổng chi phí của một doanh nghiệp sản xuất Vì vậy,giá cả nguyên vật liệu đầu vào ổn định có vai trò rất quan trọng trong việc duy trìsản xuất, giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả hoạt động của mình dễ dàng hơn

Sự hợp tác, hỗ trợ giữa những nhà cung ứng

Trong cùng một ngành có rất nhiều nhà cung ứng, nhà sản xuất khácnhau Mỗi đơn vị nhỏ có những ưu và nhược điểm riêng, đôi khi điểm yếu củađơn vị này lại là điểm mạnh của đơn vị khác và ngược lại Do đó, việc hợp tác và

hỗ trợ lẫn nhau để khắc phục những nhược điểm và phát huy những ưu điểm đểcùng xây dựng một khối tổng thể vững mạnh là rất cần thiết Sự tương hỗ nàyđược đánh giá thông qua việc các doanh nghiệp có thường xuyên trao đổi thôngtin với nhau hay không? Có cùng nhau thống nhất phương pháp sản xuất và tiêuchuẩn hóa chất lượng sản phẩm hay không? Có giúp đỡ nhau mỗi khi gặp phảikhó khăn hay không?

1.1.4.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà sản xuất

Nếu như nhà cung cấp là điểm khởi đầu của một chuỗi cung ứng thì nhàsản xuất lại là tâm điểm của chuỗi cung ứng đó bởi hoạt động của nhà sản xuấthướng tới mục đích chính của một chuỗi cung ứng là nhằm tạo ra sản phẩm cuốicùng đáp ứng nhu cầu của khách hàng Do vậy, tính hiệu quả trong hoạt độngcủa nhà sản xuất đóng góp một phần rất quan trọng đến sự thành công của mộtchuỗi cung ứng Để đánh giá về vấn đề này, có hai khía cạnh quan trọng nhất cầncần xem xét:

Trang 22

Chất lượng sản phẩm

Một doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại lâu dài nếu sản phẩm của họ sảnxuất ra không đảm bảo chất lượng Do đó các chỉ tiêu về chất lượng cần đượckiểm soát và theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình sản xuất để có thể tạo ranhững sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng và các cơ quan chứcnăng Ví dụ như khi đánh giá về chất lượng sản phẩm mặt hàng thủy sản, người

ta thường đặt ra các câu hỏi như hàm lượng dinh dưỡng có đạt chuẩn không? Cóđảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm không? Có sử sụng lượng chất bảo quảnvượt mức cho phép hay không? Quy trình đóng gói, bảo quản có đảm bảokhông?

Chất lượng dịch vụ khách hàng

Đánh giá chất lượng dịch vụ khách hàng cho thấy doanh nghiệp nói riêng

và chuỗi cung ứng nói chung hỗ trợ, tương tác với thị trường của họ như thế nào

Có hai hình thức chủ yếu của một chuỗi cung ứng: sản xuất để tồn kho và sảnxuất theo đơn đặt hàng Mỗi hình thức lại có những tiêu chí khác nhau để đánhgiá chất lượng dịch vụ khách hàng:

Đối với trường hợp làm để tồn kho: Trong tình huống này, các

tiêu chí phổ biến được sử dụng gồm: tỉ lệ hoàn tất đơn đặt hàng, tỉ lệ đáp ứngtừng khoản mục cụ thể trong đơn đặt hàng; quá trình phân phối đúng giờ, đúngđịa điểm; giá trị đơn hàng và số đơn hàng bị bỏ lỡ

Đối với trường hợp làm theo đơn đặt hàng: Trong tình huống

này, các chỉ tiêu hay được sử dụng gồm: tỉ lệ hoàn tất đúng giờ và thời gian hoàntất đơn hàng; tỉ lệ phân phối đúng giờ; tính thường xuyên của việc giao hàngtrễ

1.1.5 Ý nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng (SCM)

Đối với các doanh nghiệp nói riêng và cả một ngành hàng nói chung thì quản lí chuỗi cung ứng có vai trò vô cùng quan trọng:

Trang 23

 SCM tốt giúp doanh nghiệp giải quyết được cả đầu ra lẫn đầu vàomột cách hiệu quả.

 Giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng khả năngcạnh tranh do tối ưu hóa chu trình luận chuyển vật liệu, hàng hóa hay dịch vụ

 Có vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm đến đúngđịa điểm và trong phạm vi thời gian cho phép

 Góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong việc sản xuất vàmarketing của doanh nghiệp

 Cung cấp khả năng trực quan hóa đối với các dữ liệu liên quanđến sản xuất và khép kín dây chuyền cung cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việctối ưu hóa sản xuất bằng các hệ thống sắp xếp và lên kế hoạch

 Tạo ra một sự liên kết xuyên suốt từ khâu cung cấp nguyên liệuđến khâu sản xuất và phân phối sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng cuối cùng

1.2 Khái quát về chuỗi cung ứng mặt hàng thủy sản

1.2.1 Đặc điểm nổi bật của ngành thủy sản

Những đặc trưng riêng về phương pháp nuôi trồng cũng như sản phẩmcủa ngành thủy sản cùng với những tiêu chuẩn mà thị trường đặt ra đòi hỏi cần

có một sự liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng mặt hàngnày Những đặc điểm nổi bật về thị trường và dây chuyền cung ứng của ngànhthủy sản bao gồm:

 Rủi ro cao Quá trình nuôi trồng phụ thuộc vào điều kiện địa lý

và khí hậu nên đôi khi rất khó dự đoán trước được, có thể bị thay đổi về sốlượng, chất lượng sản phẩm do biến đổi gen, thay đổi mùa vụ, ô nhiễm môitrường

 Sản phẩm dễ hỏng, phải bảo quản trong những điều kiện nhấtđịnh, thời gian sử dụng ngắn

 Sự khác biệt về tốc độ sản xuất giữa các ngành công nghiệp chếbiến và khu vực nuôi trồng

 Sự khác biệt về quy mô, trình độ cũng như năng lực sản xuất giữacác nhà nuôi trồng, nhà sản xuất

Trang 24

Vùng nuôi

trồng và đánh bắt Đại lý thumua Doanhnghiệp chế biến Nhàphân phối Kháchhàng

Nhà cung cấp dịch vụ

 Nhu cầu về sản phẩm thủy sản tương đôi ổn định

 Người tiêu dùng ngày càng có những yêu cầu khắt khe về chấtlượng sản phẩm do nhận thức của họ tăng lên và vấn đề bảo vệ sức khỏe, bảo vệmôi trường ngày càng được chú trọng

 Sự hạn chế trong nguồn vốn đầu tư cho cơ sở vật chất và côngnghệ tiên tiến dẫn đến việc sản xuất chưa thật hiệu quả

Đặc tính dễ hư hỏng của sản phẩm thủy sản là một trong những điểmđáng lưu ý nhất của ngành hàng này, đòi hỏi một quy trình bảo quản hoàn hảo vàmột mối liên kết chặt chẽ trong việc vận chuyển xuyên suốt dây truyền cungứng Đặc biệt, trong ngành thủy sản, sự liên kết và hợp tác chặt chẽ giữa các mắtxích có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của cả chuỗi một cách đáng kể bởithông tin về nguồn gốc sản phẩm sẽ dễ dàng đến với khách hàng và những biếnđộng trong nhu cầu của người tiêu dùng sẽ nhanh chóng đến với từng mắt xíchtrong chuỗi để từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp

1.2.2 Cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng thủy sản

Hình 1.4: Cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng thủy sản

Cơ sở đánh bắt và nuôi trồng thủy sản

Đây là mắt xích đầu tiên của chuỗi cung ứng thủy sản, họ đóng vai trò lànhà cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp chế biến, xuấtkhẩu Thông thường, các cơ sở nuôi trồng và đánh bắt cung cấp nguyên liệu chocác doanh nghiệp chế biến thông qua đại lí thu mua Tuy nhiên, có trường hợp

Trang 25

các cơ sở đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trực tiếp cung cấp cung cấp nguyênliệu cho doanh nghiệp sản xuất Trong giai đoạn này, việc quản lý chuỗi cungứng phải đáp ứng được hai yêu cầu sau:

 Quy trình nuôi trồng, đánh bắt phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kĩthuật cũng như an toàn thực phẩm do cơ quan quản lý đề ra Điều này có một vaitrò vô cùng quan trọng bởi nó quyết định đến chất lượng của dòng chảy vật chấttrong toàn chuỗi

 Phải có sự đánh giá và lựa chọn cơ sở nuôi trồng, đánh bắt ngay

từ đầu để tập trung nguồn lực, tránh lãng phí thời gian và tiền bạc, đảm bảo chấtlượng sản phẩm về sau

Đại lý thu mua

Là bên trung gian, dẫn truyền các dòng chảy vật chất, tài chính và thôngtin giữa cơ sở đánh bắt, nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến Họ là người thumua sản phẩm từ các cơ sở đánh bắt và bán lại cho nhà chế biến Trong trườnghợp này, họ là người cung cấp nguyên liệu đầu vào trực tiếp cho doanh nghiệpchế biến Tuy nhiên, với trường hợp các cơ sở nuôi trồng cung cấp trực tiếp sảnphẩm của họ đến doanh nghiệp sản xuất thì họ vẫn có vai trò là đại lý thu mua

Sự xuất hiện của đại lý thu mua trong chuỗi cung ứng mang lại lợi ích cho cả cơ

sở nuôi trồng, đánh bắt và nhà sản xuất, chế biến:

 Cơ sở nuôi trồng, đánh bắt: có nơi tiêu thụ với giá cả và số lượng

ổn định, có nguồn cung cấp thông tin tương đối chính xác và nhanh chóng vềnhu cầu cũng như những yêu cầu của thị trường

 Doanh nghiệp chế biến: có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định,không mất nhiều thời gian đàm phán về giá cả và truyền đạt yêu cầu về chấtlượng nguyên liệu đầu vào

Doanh nghiệp chế biến

Là các công ty, nhà máy thu mua nguyên liệu đầu vào từ đại lý thu mua

và tiến hành chế biến, đóng gói tạo ra sản phẩm cuối cùng Họ có nhiệm vụ phân

Trang 26

loại và đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra các loại hàng hóa với bao bì, mẫu mã, chấtlượng khác nhau Bên cạnh đó, họ phải xây dựng được một quy trình sản xuấtđáp ứng tiêu chuẩn của người tiêu dùng và các cơ quan chức năng và phải đầu tư

hệ thống nhà kho bảo quản đạt chuẩn để đảm bảo chất lượng sản phẩm

Nhà phân phối

Nhà phân phối đóng vai trò trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêudùng Nhiệm vụ của nhà phân phối là tìm kiếm nhu cầu tại các địa điểm khácnhau và vận chuyển hàng hóa giao cho người tiêu dùng Ngoài ra họ còn là kênhtrung gian truyền đạt những yêu cầu cũng như các phản hổi từ người tiêu dùngđến doanh nghiệp chế biến để từ đó doanh nghiệp chế biến có những điều chỉnhcho phù hợp với nhu cầu của thị trường

Khách hàng

Đáp ứng nhu cầu của khách hàng là mục tiêu hướng tới của bất kì chuỗicung ứng nào Sự hài lòng của khách hàng là một trong những tiêu chí để đánhgiá sự thành công của một chuỗi cung ứng Nhu cầu của khách hàng định hướngcho việc sản xuất của các doanh nghiệp chế biến và việc nuôi trồng của các cơ sởnuôi trồng- đánh bắt

Nhà cung cấp dịch vụ

Nhà cung cấp dịch vụ có vai trò cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giúp cho toànchuỗi cung ứng được vận hành liên tục Chất lượng dịch vụ tốt làm đẩy nhanhcác hoạt động, tiết kiệm thời gian và chi phí, từ đó tăng hiệu quả hoạt động củachuỗi

1.2.3 Vấn đề truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng thủy sản 1.2.3.1 Khái niệm về truy xuất nguồn gốc

Nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng và những yêu cầu về pháp

lý cũng như cung cấp thông tin cho doanh nghiệp để trợ giúp trong việc kiểmsoát và quản lý quá trình sản xuất và hỗ trợ trong việc giải quyết các khiếu nại

Trang 27

đòi hỏi cần có một chương trình truy xuất nguồn gốc Có rất nhiều khái niệm vềtruy xuất nguồn gốc, dưới đây là một vài định nghĩa phổ biến:

Theo Ủy ban Codex/FAO: Truy xuất nguồn gốc là khả năng theo dõi,

nhận diện được một đơn vị sản phẩm qua từng công đoạn của quá trình sản xuất,chế biến và phân phối

Theo qui định 178/2002/EC của Liên minh Châu Âu: Truy xuất nguồn

gốc là khả năng cho phép truy tìm tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất,chế biến, phân phối của một sản phẩm thực phẩm, một sản phẩm thức ăn độngvật, một động vật dùng để chế biến thực phẩm hoặc một chất được dùng để đưavào hoặc có thể được đưa vào một sản phẩm thực phẩm hoặc thức ăn cho độngvật

Theo ISO 9000:2008: Truy xuất nguồn gốc có nghĩa là khả năng truy lại

các hồ sơ, các ứng dụng hay vị trí của những gì liên quan đến sản phẩm

Nói tóm lại, truy xuất nguồn gốc là quá trình tìm dấu vết và truy tìm theodấu vết Bằng việc tìm ra dấu vết, sản phẩm được xác định, đánh dấu và ghi lạithông tin từ nguồn nguyên vật liệu đến tay người tiêu dùng Tất cả thông tin liênquan đến sản phẩm như: nguồn nguyên vật liệu, xuất xứ, cách thức sản xuất haynhững vấn đề liên quan khác đều được chỉ ra trên bao bì của sản phẩm một cách

1.2.3.2 Quy trình truy xuất thông tin trong chuỗi đối với mặt hàng thủy sản

Trang 28

Mã hóa Đại lý thu

mua Cơ sở phâ nphối Cơ sở bánlẻ

Cơ sở sản xuất giốn g Mã hóa

Hình 1.5: Tóm tắt quy trình truy xuất thông tin trong chuỗi đối với mặt hàng thủy sản

Hệ thống truy xuất nguồn gốc được tạo ra và quản lý bởi hệ thống dữ liệuđơn lẻ hoặc hệ thống dữ liệu kết hợp Hệ thống dữ liệu đơn lẻ là hệ thống sử

dụng một trung tâm dữ liệu- nơi mà tất cả các thông tin được lưu giữ và truy cập

Những tài liệu về những công đoạn trong chuỗi cung ứng được tập trung ở dữ

liệu trung tâm thông qua một giao diện website Vì vậy nếu cần thiết thì thông

tin được truy lại một cách dễ dàng và nhanh chóng Trái lại, hệ thống dữ liệu kết

hợp bao gồm những hệ thống dữ liệu riêng biệt, ở đó mỗi bước trong chuỗi cung

ứng được lưu giữ trong những tài liệu riêng

Đối với mỗi mắt xích của chuỗi cung ứng,việc thực hiện truy xuất nguồngốc bao gồm những bước sau:

 Đọc và xử lý thông tin bằng thiết bị thông thường hoặc tự động

giấy

tờ

 Lưu giữ thông tin bằng cách sử dụng dữ liệu điện tử hay sử dụng

 Chuyển tất cả các thông tin đến khách hàng bằng điện tử hay giấy

Sự thành công của hệ thống truy xuất nguồn gốc do ba nhân tố quyếtđịnh:

Trang 29

 Các đơn vị nguồn để truy xuất phải được xác định Nó có thể làmột mẻ cá được xác định nguồn gốc hoặc xác định những thuộc tính ngay từ giaiđoạn đầu và thông qua từng bước trong chuỗi cung ứng.

 Phải đảm bảo giữa sự tương hợp giữa nguồn gốc của từng đơn vịtrong chuỗi Điều này đòi hỏi sự trao đổi hiệu quả của dữ liệu trong hoạt độngcủa hệ thống

 Phải có những thông số tiêu chuẩn cho việc vận chuyển dữ liệu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 người viết đã nêu ra một số lý thuyết cơ bản nhất vềchuỗi cung ứng gồm: định nghĩa về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng,cấu trúc của chuỗi cung ứng tổng quát, các hoạt động trong chuỗi, vấn đề vềquản trị chuỗi cung ứng và đưa ra một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa chuỗi Bên cạnh đó, người viết cũng khái quát về đặc điểm nổi bật của ngànhthủy sản và chuỗi cung ứng hàng thủy sản cũng như nêu lên vấn đề về truy xuấtnguồn gốc trong chuỗi cung ứng đối với hàng thủy sản và đưa ra quy trình truyxuất thông tin theo chuỗi

Đây là cơ sở lý luận giúp người viết thực hiện việc nghiên cứu và phântích thực trạng chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa của Việt Nam xuất khẩu vào thịtrường Mỹ Trên cơ sở đó, tìm ra những điểm mạnh cũng như các tồn tại trongtừng mắc xích trong chuỗi để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện

Trang 30

chính các mắt xích đó nhằm tạo ra một chuỗi cung ứng bền vững, phù hợp vớiđiều kiện của Việt Nam và giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp Việt Nam hiệu quả hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu người tiêu dùng.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

2.1 Giới thiệu tổng quan về thị trường Mỹ

2.1.1 Nhu cầu tiêu thụ cá Tra, cá Basa ở Mỹ

Theo số liệu thống kê của National Marine Fisheries Service Mỹ, nhu cầu

tiêu thụ thủy sản ở Mỹ là rất lớn, vượt trội so với các mặt hàng khác như thịt lợn,thịt bò, trứng Trong đó cá Tra, cá Basa luôn ở vị trí tốp 10 mặt hàng thủy sảnđược ưa chuộng nhất

Bảng 2.1: 10 mặt hàng thủy sản được tiêu thụ nhiều nhất ở Mỹ từ 2008 đến 2012

Đơn vị: pound/ người

Trang 31

b s

pec ies

b s

pec ies

b s

pe ci es

.2

hri mp

.0

hri mp

.1

hr

i mp

.6

ann

ed

Tu na

.7

ann

ed

Tu na

.5

anne

d Tuna

Trang 32

ila ilap oll ilap ila 19

Trang 33

ms 3 s 3 s 3 asi 3 m

Nguồn:National Marine Fisheries Service

Nhìn chung, trong 5 năm trở lại đây cá Tra, cá Basa thường giao động ở

vị trí thứ 6 hoặc thứ 7 Trong tổng lượng thu nhập dành cho tiêu dùng 10 hàngthủy sản phổ biến nhất ở Mỹ thì tỉ lệ dành cho cá Tra là từ khoảng 3,73% (năm2011) đến 5,75% ( năm 2008) Mặc dù có sự suy giảm trong tỉ trọng thu nhậpdành cho cá Tra tính theo bình quân đầu người từ năm 2008 đến điểm thấp nhấtvào năm 2011 nhưng năm 2012 lại cho thấy một xu hướng khả quan hơn Hơnnữa, số liệu này cũng chỉ phần nào phản ánh nhu cầu tiêu thụ cá Tra ở thị trường

Mỹ do qua các năm, dân số Mỹ tăng lên đáng kể

Bằng việc xem xét lượng cá Tra mà Mỹ nhập khẩu hàng năm chúng ta cóthể thấy nhu cầu cho mặt hàng này ở thị trường Mỹ là rất lớn:

Bảng 2.1: Lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ từ năm 2008 đến 2012

Trang 34

Lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ qua các năm

250000

200000

150000 100000

Lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ

50000 0

20082009201020112012

Nhìn chung, trong 5 năm gần đây, lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào

Mỹ có xu hướng tăng với năm 2012 vượt trội năm 2008 khoảng 2,3 lần Cụ thể

là, từ năm 2008 đến 2009, lượng cá tra nhập khẩu vào Mỹ tăng mạnh khoảng 27triệu bảng, tương đương với 26%, theo sau đó là một sự tăng nhẹ, khoảng 6%vào năm 2010 Sau đó, số liệu cho thấy một sự tăng vọt với 66 triệu bảng, tươngđương với 48% vào năm 2011, trước khi tốc độ tăng giảm còn khoảng 14% vàonăm 2012

2.1.2 Ảnh hưởng của việc nhập khẩu cá tra, cá basa đối với thị trường thủy sản Mỹ

Hình 2.1: Biểu đồ miêu tả lượng cá da trơn do Mỹ sản xuất và lượng

cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ giai đoạn 2008- 2012.

Trang 35

Hơn nữa, cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ chủ yếu từ những nước có chi phísản xuất thấp nên giá cả rẻ hơn nhiều so với sản phẩm cá tra của Mỹ trong khichất lượng không thua kém gì Do vậy sản phẩm cá tra nhập khẩu rất được ngườitiêu dùng Mỹ ưa chuộng Trước tình hình đó, sản phẩm cá da trơn do Mỹ sảnxuất phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên chính thị trường củamình Chính vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất cá da trơn Mỹ luôn tìm mọi cách

để ngăn nguồn cá da trơn nhập khẩu từ bên ngoài Để có thể làm dịu sự cẳngthẳng do cạnh tranh trong nước và đảm bảo sức khỏe cho người dân, chính phủ

Mỹ đã đề ra yêu cầu buộc các nhà xuất khẩu muốn sản phẩm của mình thâmnhập được vào thị trường Mỹ thì phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định

2.1.3 Một số tiêu chuẩn đối với sản phẩm thủy sản được chấp nhận

ở Mỹ

Trang 36

Với từng mặt hàng thủy sản nhập khẩu vào Mỹ sẽ có những tiêu chuẩn vàyêu cầu riêng Sau đây là một số tiêu chuẩn phổ biến áp dụng với hàng thủy sản

mà Mỹ chấp nhận:

2.1.3.1 HACCP

HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points)- “hệ thống

phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn” là hệ thống quản lý mang tính

phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua nhận biết các mốinguy, thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát tại các điểm tới hạn Cácnguyên tắc của HACCP được tiêu chuẩn hóa trên khắp thế giới và có thể ápdụng được trong tất cả các ngành sản xuất thực phẩm, các sản phẩm hiện có trênthị trường và các sản phẩm mới

HACCP ra đời cùng với chương trình vũ trụ của cơ quan NASA Mỹ vớimục đích ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩmcho các phi hành gia trên con tàu vũ trụ Columbia lên không trung Năm 1971,HACCP được áp dụng lần đầu tiên trong ngành thực phẩm tại Mỹ nhằm đảm bảochất lượng, an toàn thực phẩm thông qua kiểm soát các mối nguy, sau đóHACCP nhanh chóng chở thành một Hệ thống quản lý chất lượng thực phẩmđược áp dụng phổ biến trên toàn thế giới

2.1.3.2 GlobalGap

GlobalGap (Global Good Agricultural Practices)– “Thực hành nông

nghiệp tốt toàn cầu” là tiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt trong suốt quá

trình sản xuất, thu hoạch và xử lý sau khi thu hoạch Đây là tiêu chuẩn kiểm tra

an toàn thực phẩm xuyên suốt từ đầu đến cuối của dây chuyền sản xuất, bắt đầu

từ khâu chuẩn bị trang trại, ương giống, nuôi trồng đến khâu thu hoạch, chế biến,bảo quản Tiêu chuẩn này kiểm soát những yếu tố liên quan trong việc sản xuấtnhư môi trường, các loại thuốc, hóa chất được sử dụng, bao bì Tiêu chuẩnGLOBALGAP yêu cầu các nhà sản xuất phải thiết lập một hệ thống kiểm tra vàgiám sát hoàn chỉnh Sản phẩm đã được đăng ký có thể bị truy xuất lại nguồngốc tới từng trang trại nuôi trồng

Trang 37

Sản phẩm nông nghiệp được chứng nhận phù hợp theo tiêu chuẩnGlobalGap sẽ được toàn thế giới thừa nhận, dễ dàng được các nhà phân phối lớnchấp nhận và thâm nhập các thị trường khó tính Sản phẩm được cấp chứng nhậnGlobal GAP được nhận biết qua một hệ thống định vị toàn cầu, đảm bảo truy xétnguồn gốc một cách dễ dàng Chứng nhận tạo lòng tin cho nhà phân phối, ngườitiêu dùng, cơ quan quản lí và giúp người sản xuất củng cố thương hiệu sản phẩm

và có thị trường tiêu thụ ổn định

2.1.3.3 SQF

SQF ( Safe Quality Food)- “tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm” là

tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu về hệ thống quản lý chất lượng để xácđịnh các vấn đề về chất lượng, an toàn thực phẩm cũng như để đánh giá và theodõi các biện pháp kiểm soát

SQF có hai loại, gồm SQF 1000 và SQF 2000 SQF 1000 được áp dụngcho các nhà sản xuất nguyên liệu như nhà nuôi trồng, chế biến thức ăn gia súc

và SQF 2000 đề ra các yêu cầu đối với các nhà chế biến và phân phối thực phẩmnhư chế biến sữa, thịt… SQF 2000 được chia làm 3 cấp, mỗi cấp đưa ra mộtmức độ yêu cầu khác nhau :

Cấp 1: An toàn thực phẩm cơ bản – Các biện pháp kiểm soát vệ sinh an

toàn thực phẩm cơ bản nhất phải được tiến hành để tạo cơ sở cho việc nâng caohiệu lực của hệ thống quản lý của doanh nghiệp

Cấp 2: Kế hoạch an toàn thực phẩm được chứng nhận HACCP – Là sự

kết hợp các yêu cầu của cấp 1 và thực hiện phân tích mối nguy về an toàn thựcphẩm của các giai đoạn trong quá trình sản xuất để xác định các mối nguy, trên

cơ sở đó đưa ra hành động để loại bỏ, phòng ngừa và giảm thiểu mối nguy

Cấp 3: Hệ thống Quản lý Chất lượng và An toàn thực phẩm toàn diện –

Kết hợp các yêu cầu của cấp 1, 2, tiến hành phân tích mối nguy về chất lượngthực phẩm và thực hiện các hành động để phòng ngừa rủi ro do chất lượng kém

Trang 38

Để được cấp chứng nhận SQF 2000 cấp 3, doanh nghiệp phải được cấpchứng nhận cấp 1 và 2 Các yêu cầu của hệ thống SQF 2000 gồm:

Lãnh đạo cao nhất đưa ra các cam kết của doanh nghiệp về an toàn thựcphẩm, chất lượng và liên tục cải tiến, đảm bảo cung cấp nguồn lực cần thiết đểđạt được các mục tiêu

Đào tạo cho nhân viên thực hiện các công việc quan trọng liên quan đếnchất lượng và an toàn thực phẩm

Có những quy định bằng văn bản đối với nhà cung cấp về những nguyênliệu và dịch vụ mua vào có thể ảnh hưởng tới chất lượng và an toàn thực phẩm

Yêu cầu đối với thành phẩm cần được lập thành tài liệu, được phê duyệtbởi khách hàng nếu có yêu cầu

Xác định và lập thành tài liệu các biện pháp có thể kiểm soát và đảm bảochất lượng và an toàn thực phẩm trong Kế hoạch an toàn thực phẩm

Xây dựng thủ tục miêu tả cách thức tiến hành khắc phục và phòng ngừa

sự không phù hợp Thiết lập thủ tục miêu tả việc xử lý sản phẩm hoặc nguyênliệu không phù hợp tìm thấy trong quá trình tiếp nhận, lữu giữ, chế biến, đónggói hoặc phân phối

Tất cả thiết bị đo kiểm được sử dụng để giám sát các hoạt động trong Kếhoạch SQF hoặc để minh chứng sự tuân thủ với các yêu cầu của khách hàng cầnđược định kỳ hiệu chỉnh nhằm đảm bảo độ chính xác

Tiến hành đánh giá nội bộ nhằm đảm bảo tính

2.1.3.4 ASC

ASC (Aquaculture Stewaship Council)- “Hội Đồng Quản Lý Nuôi

Trồng Thủy Sản” là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận Năm 2009, Quỹ Quốc tế

Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Tổ chức Sáng Kiến Thương Mại Bền Vững HàLan (IDH) thành lập nên tổ chức này nhằm quản lý các tiêu chuẩn toàn cầu vềviệc nuôi trồng thuỷ sản ASC xây dựng bộ tiêu chuẩn ASC dựa trên 4 yếu tổchính là môi trường, xã hội, an sinh động vật và an toàn thực phẩm Chứng nhậntheo tiêu chuẩn ASC là sự xác nhận cấp quốc tế đối với thủy sản được nuôi có

Trang 39

trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, hệ sinh thái, cộngđồng dân cư và đảm bảo tốt các quy định về lao động.

ASC xây dựng hai tiêu chuẩn thành phần:

sản

 Tiêu chuẩn trang trại: áp dụng cho các trang trại nuôi trồng thủy

 Ttiêu chuẩn chuỗi hành trình: áp dụng cho các nhà sản xuất, chếbiến, xuất khẩu - nhập khẩu, phân phối

Tuy nhiên, hiện nay ASC chỉ mới hoàn thiện và đưa váo áp dụng tiêuchuẩn đối với trang trại

2.1.3.5 Tiêu chuẩn BRC

BRC (British Retail Consortium)- “Tiêu chuẩn thực phẩm toàn cầu” là

tiêu chuẩn được tập đoàn bán lẻ Anh đưa ra nhằm xác lập tiêu chuẩn vệ sinh tốithiểu trong các nhà máy sản xuất thực phẩm BRC được áp dụng cho bất kỳ nhàcung ứng nào, không phụ thuộc vào sản phẩm hay xuất xứ, có cung cấp sảnphẩmđó cho các nhà bán lẻ Anh hay không Việc tuân thủ theo tiêu chuẩn này làkhông bắt buộc nhưng được các nhà bán lẻ Anh khuyến cáo mạnh mẽ Để phùhợp với tiêu chuẩn, nhà sản xuất, chế biến phải tuân theo 3 chuẩn mực chínhtrong hệ thống quản lý mình:

Trang 40

Ương giống và nuôi

trồng Thu hoạch và vận chuyển cá về nhà máy chếbiến

Chế biến và đóng

gói Vận chuyển thành phẩm racảng Xuất khẩu vào thị trườngMỹ

Hình 2.2: Chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ

2.2.1.1 Ương giống và nuôi trồng cá Tra, cá Basa

Ương giống

Trong ngành thủy sản thì giống được xem là yếu tố quan trọng hàng đầuquyết định đến sự thành bại của vụ nuôi bởi nếu con giống đã không tốt thì cho

dù có được chăm sóc cẩn thận đến mấy cũng không thể phát triển tốt và cho sản

phẩm chất lượng cao Ở Việt Nam hiện nay có 7 tỉnh trọng điểm sản xuất cá Tra

là Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cần Thơ và Hậu

Giang thì đã đều có trang trại sản xuất giống nhằm cung cấp cho người dân cá

giống với chất lượng tốt nhất có thể

Trước đây con giống cá Tra thường được khai thác từ nguồn tự nhiên nênchất lượng không cao Trong hơn 10 năm trở lại đây, con giống cá tra được sản

xuất nhân tạo với quy mô ngày càng lớn và chất lượng khá đồng nhất Hầu hết

các trang trại sản xuất cá Tra, cá Basa giống đều tuân theo quy trình như sau:

Ngày đăng: 28/04/2022, 09:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ mối liên hệ giữa 5 yếu tố cơ bản của một chuỗi cung ứng - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 1.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa 5 yếu tố cơ bản của một chuỗi cung ứng (Trang 14)
Hình 1.2: Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 1.2 Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng (Trang 17)
Hình 1.3: Mô hình một số hoạt động trong chuỗi cung ứng trên cơ sở các mắt xích cơ bản. - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 1.3 Mô hình một số hoạt động trong chuỗi cung ứng trên cơ sở các mắt xích cơ bản (Trang 18)
Hình 1.4: Cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng thủy sản - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 1.4 Cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng thủy sản (Trang 24)
Hình 1.5: Tóm tắt quy trình truy xuất thông tin trong chuỗi đối với mặt hàng thủy sản - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 1.5 Tóm tắt quy trình truy xuất thông tin trong chuỗi đối với mặt hàng thủy sản (Trang 28)
(triệu bảng) - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
tri ệu bảng) (Trang 33)
Bảng 2.1: Lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ từ năm 2008 đến 2012 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Bảng 2.1 Lượng cá tra đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ từ năm 2008 đến 2012 (Trang 33)
Hình 2.1: Biểu đồ miêu tả lượng cá da trơn do Mỹ sản xuất và lượng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ giai đoạn 2008- 2012. - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 2.1 Biểu đồ miêu tả lượng cá da trơn do Mỹ sản xuất và lượng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ giai đoạn 2008- 2012 (Trang 34)
Hình 2.2: Chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 2.2 Chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ (Trang 40)
Hình 2.3: Quy trình chuẩn bị ao trước khi thả cá - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Hình 2.3 Quy trình chuẩn bị ao trước khi thả cá (Trang 44)
Bảng 2.5: Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ năm 2012 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Bảng 2.5 Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ năm 2012 (Trang 53)
2.2.2. Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu  sang Mỹ của Việt Nam - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
2.2.2. Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng cá Tra, cá Basa xuất khẩu sang Mỹ của Việt Nam (Trang 53)
Qua bảng trên ta thấy năm 2012, cá Tra chiếm hơn 358 nghìn USD, tương đương với khoảng  30%  trong  tổng  giá  trị các  mặt hàng thủy sản chủ lực  xuất khẩu sang Mỹ và đứng ở vị trí thứ hai  (chỉ  sau mặt hàng Tôm) - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
ua bảng trên ta thấy năm 2012, cá Tra chiếm hơn 358 nghìn USD, tương đương với khoảng 30% trong tổng giá trị các mặt hàng thủy sản chủ lực xuất khẩu sang Mỹ và đứng ở vị trí thứ hai (chỉ sau mặt hàng Tôm) (Trang 54)
Bảng 2.5: Sản lượng cá Tra xuất khẩu hàng năm của Việt Nam từ 2008 đến 2012: - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Bảng 2.5 Sản lượng cá Tra xuất khẩu hàng năm của Việt Nam từ 2008 đến 2012: (Trang 55)
Bảng 2.4: Sản lượng cá Tra của cả nước giai đoạn 2008- 2012 (Đơn  vị: triệu tấn) - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG  mặt HÀNG cá TRA, cá BASA XUẤT KHẨU vào THỊ TRƯỜNG mỹ
Bảng 2.4 Sản lượng cá Tra của cả nước giai đoạn 2008- 2012 (Đơn vị: triệu tấn) (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w