1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

67 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Tác Động Tới Ý Định Sử Dụng Tiền Điện Tử Của Người Dân Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Lê Vũ Hoàng Anh
Người hướng dẫn ThS. Trần Kim Long
Trường học University Of Banking Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Finance - Banking
Thể loại graduation project
Năm xuất bản 2020
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 236 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Tínhcấpthiếtcủa đềtài (15)
  • 1.2 Mụctiêunghiêncứu (16)
  • 1.3 Đốitƣợngnghiêncứuvàphạmvi nghiên cứu (16)
  • 1.4 Phương phápnghiêncứu (17)
  • 1.5 Đóng gópcủanghiêncứu (17)
  • 1.6 Kếtcấukhoáluận (17)
  • 2.1. Địnhnghĩa (18)
  • 2.2. Cácl ý thuyếtnềntảng (18)
    • 2.2.1. Thuyếthànhđộnghợplý (18)
    • 2.2.2. Môhìnhchấpnhậncôngnghệ (19)
    • 2.2.3. Thuyếthànhvidự định (21)
  • 2.3. Cácnghiêncứutrướcđây (22)
    • 2.3.1. Cácnghiêncứuởnướcngoài (22)
    • 2.3.2. Cácnghiêncứuởtrong nước (23)
  • 2.4. Môhìnhđềxuất (24)
  • 3.1. Quátrìnhnghiêncứu (25)
  • 3.2. Thangđovàgiảthiếtnghiêncứu (26)
  • 3.3. Dữliệuvàphươngphápxửlý (28)
    • 3.3.1. Thiếtkếlấymẫu (28)
    • 3.3.2. Cáchthuthậpdữliệu (29)
    • 3.3.3. Phươngphápphântíchvàxửlýdữliệu (29)
  • 3.4. Tómtắtchương3 (31)
  • 4.1. Thốngkêmôtả (32)
  • 4.2. Đánhgiáđộtincậycủa thangđo (33)
  • 4.3. PhântíchnhântốkhámpháEFA (34)
    • 4.3.1. Phântíchnhântốkhámpháchocácbiếnđộclập (34)
    • 4.3.2. Phântíchnhântốkhámpháchobiếnphụthuộc (36)
  • 4.4. Phântíchhệsốtươngquan (37)
  • 4.5. Phântíchhồiquyđabiến (38)
  • 5.1. Tómtắtkết quảchính (43)
  • 5.2. Giớihạn vàkhuyếnnghị (44)

Nội dung

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Sinh viên thực hiện Lê Vũ Hoàng Anh MSSV 030631151366 Lớp HQ3 GE02 Khóa 3 Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng Mã số Giáo viên hƣớng dẫn Ths Trần Kim Long TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 012020 ( NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM ) ( BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ) ( TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH ) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂ.

Tínhcấpthiếtcủa đềtài

Trong những năm gần đây, thanh toán điện tử tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt qua các kênh Internet và điện thoại di động Trong Quý I năm 2019, giao dịch tài chính qua Internet tăng 68,8% và qua điện thoại di động tăng 97,7% so với cùng kỳ năm 2018 Theo khảo sát của PwC, Việt Nam là thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất về thanh toán di động, với tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động để thanh toán tăng từ 37% lên 61% trong năm 2018 Giao dịch trực tuyến không dùng tiền mặt, hay thanh toán điện tử, là yếu tố quan trọng để hiện đại hóa nền kinh tế và chuyển đổi sang nền kinh tế số Để thúc đẩy thanh toán điện tử, cần cải thiện các phương tiện thanh toán để người dùng có thể tiếp cận dễ dàng và thuận tiện hơn, trong đó tiền điện tử sẽ đóng vai trò quan trọng.

Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp quan trọng nhằm phát triển ngành ngân hàng, bao gồm Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 Chiến lược này đặt ra các mục tiêu cụ thể, trong đó có việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tối ưu hóa mạng lưới ATM và POS Mục tiêu là giảm tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán xuống dưới 10% vào cuối năm 2020 và dưới 8% vào năm 2025 Ngoài ra, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 cũng đã đề ra các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó tập trung vào việc phát triển thanh toán điện tử.

Chính phủ đã yêu cầu các trường học, bệnh viện và nhà cung cấp điện, nước, vệ sinh, viễn thông và bưu chính ở khu vực thành thị phối hợp với các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thu phí và thanh toán cho các dịch vụ của họ bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, ưu tiên giải pháp thanh toán trên thiết bị di động và thanh toán qua thiết bị chấp nhận thẻ Điều này cho thấy tiền điện tử đang trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà lập chính sách Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu trong lĩnh vực này còn hạn chế, dẫn đến câu hỏi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Việt Nam.

Tại TP Hồ Chí Minh, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng tiền điện tử Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những đóng góp lý thuyết mà còn mang lại giá trị thực tiễn cho các nhà lập chính sách và các công ty phát triển.

Mụctiêunghiêncứu

Dựatrêncâuhỏinghiêncứutrên,mụctiêutổngquátcủanghiêncứunàylà xác định các nhântố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng tiền điện tử của người dântạiTp.HồChíMinh Mụctiêucụthểnhƣsau:

 Hệthốnghóacáclýthuyếtvềhànhvicủakhách hàngtrong việc l ự a chọnsử dụngtiềnđiệntử

 Đềxuấtcácgiảiphápvà kiếnnghịchocácbênliênquannhằmnâng caotỷlệchấpnhậnsử dụngtiềnđiệntửtạiTp.HồChíMinh

Đốitƣợngnghiêncứuvàphạmvi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu sẽ là các nhân tố tác động đến ý định sử dụng tiền điệntửcủangườidântạiTp.HồChíMinh

Nguồndữliệu nghiên cứunàychủyếusẽlấythôngtintừhai nguồn chínhsau:

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo, nghiên cứu khoa học và sách học thuật liên quan đến thương mại điện tử, thanh toán điện tử và tiền điện tử.

Dữ liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát, bao gồm phỏng vấn trực tiếp, gửi qua email và chia sẻ qua mạng xã hội đến các đối tượng khảo sát.

Phương phápnghiêncứu

Đóng gópcủanghiêncứu

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử tại Việt Nam, tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

Nghiên cứu này sẽ cung cấp cho các nhà làm chính sách cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường giao dịch tiền điện tử tại Việt Nam, đồng thời giúp các công ty hiểu rõ hơn về hành vi của khách hàng.

Kếtcấukhoáluận

Chương 1 giới thiệu nội dung nghiên cứu, trong khi Chương 2 tổng hợp các lý thuyết và mô hình nghiên cứu liên quan Chương 3 trình bày các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong khóa luận Chương 4 nêu rõ kết quả và thảo luận về những phát hiện Cuối cùng, Chương 5 đưa ra kết luận và khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo.

Địnhnghĩa

Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu, tiền điện tử được định nghĩa là giá trị tiền tệ lưu trữ trên thiết bị điện tử, có giá trị không thấp hơn tiền tệ đang lưu hành của quốc gia và được sử dụng rộng rãi cho thanh toán Trong khi đó, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế mô tả tiền điện tử là giá trị tiền tệ được lưu giữ trong thiết bị hoặc phương tiện thuộc sở hữu của khách hàng.

Tác giả đã rút ra một số đặc điểm quan trọng để phân biệt tiền điện tử với các loại tiền khác Đầu tiên, tiền điện tử có chi phí giao dịch thấp hơn so với các công cụ thanh toán qua ngân hàng, do tổ chức phát hành không cần giữ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Thứ hai, tiền điện tử không sinh lãi giống như tiền gửi tại ngân hàng.

Cácl ý thuyếtnềntảng

Thuyếthànhđộnghợplý

Thuyết hành động hợp lý TRA, do Ajezen và Fishbein phát triển vào năm 1975, nhằm giải thích và dự đoán hành vi con người trong các tình huống cụ thể Theo TRA, yếu tố quyết định hành vi thực tế của cá nhân chủ yếu là ý định, không phải thái độ Ý định cá nhân bao gồm hai yếu tố chính: thái độ đối với hành vi và nhận thức chủ quan.

Nhận thức chủ quan Ý định

Thái độ đối với hành vi

Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) là một trong những lý thuyết quan trọng nhất để giải thích hành vi con người (Venkatesh và cộng sự, 2003) Tuy nhiên, lý thuyết này gặp hạn chế khi không thể áp dụng để giải thích hành vi chấp nhận công nghệ (Hasan.Y và cộng sự, 2016) Thêm vào đó, do tính chất quá chung chung của mô hình, TRA không thể giải thích các hành vi cụ thể và hành vi tâm lý một cách hiệu quả.

Môhìnhchấpnhậncôngnghệ

Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), được phát triển bởi Davis và cộng sự vào năm 1989, ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình TRA Đây là một trong những mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng nhất trong việc phân tích các yếu tố quyết định việc sử dụng công nghệ (Gefen, 2002) TAM đã được chứng minh là một lý thuyết hữu ích trong việc hiểu và giải thích hành vi của người dùng trong quá trình triển khai hệ thống thông tin (Legris và cộng sự, 2003).

Mô hình TAM, một phần mở rộng của lý thuyết TRA, đã trở thành mô hình tiên phong trong việc xác định các biến bên ngoài là những yếu tố quan trọng trong nghiên cứu áp dụng công nghệ.

Nhận thức dễ sử dụng

Thái độ với việc sử dụng Nhận thức hữu ích

Thái độ đối với việc sử dụng công nghệ là yếu tố chính tác động đến ý định sử dụng công nghệ Hai biến chính ảnh hưởng đến thái độ này bao gồm nhận thức cá nhân về các đặc điểm và cách sử dụng tiềm năng của hệ thống (Davis, 1989) Thứ nhất, nhận thức tính hữu ích được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ Thứ hai, nhận thức dễ sử dụng được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ dễ dàng.

Khi mô hình TAM (Technology Acceptance Model) phát triển, nhiều nhà nghiên cứu đã bổ sung các biến số bên ngoài nhằm nâng cao khả năng dự đoán và độ tin cậy của mô hình này.

Do đó,mô hình này đã trở thành một mô hình đƣợc ứng dụng rộng rãi nhiều nhất trong cácnghiêncứuvềhànhvisửdụngcácsảnphẩm/dịchvụcótínhcôngnghệ.

Mô hình TAM (Technology Acceptance Model) là một trong những lý thuyết quan trọng trong phân tích việc áp dụng công nghệ, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế Mặc dù đã được cải tiến nhiều lần để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, nghiên cứu của Sun & Zhang (2006) và Vankatesh et al (2003) đã chỉ ra hai nhược điểm chính: sự giải thích mô hình chưa đủ sâu và mối tương quan giữa các yếu tố trong mô hình thường bị mâu thuẫn khi áp dụng vào các lĩnh vực và đối tượng khác nhau.

Hành vi kiểm soát cảm nhận

Thái độ đối với hành vi Ý định

Thuyếthànhvidự định

Lý thuyết về hành vi có dự định (TPB), được Ajzen đề xuất vào năm 1991, là một phần mở rộng của mô hình TRA Mô hình này đã được so sánh với mô hình TAM để xác định mô hình nào hiệu quả hơn trong việc nghiên cứu hành vi sử dụng công nghệ TPB nổi bật trong việc giải thích hành vi con người trong nhiều bối cảnh khác nhau (Yaser Hasan Al-Mamary và cộng sự, 2016) Một trong những giả định chính của TPB là ý định được coi là yếu tố quyết định trực tiếp cho hành vi thực tế (Ajzen và Fishbein, 1991).

Mô hình TPB mở rộng TRA bằng cách bổ sung yếu tố Hành vi kiểm soát cảm nhận, trong khi vẫn giữ nguyên hai yếu tố cũ của TRA Hành vi kiểm soát cảm nhận phản ánh mức độ dễ dàng hoặc khó khăn mà một cá nhân gặp phải khi thực hiện hành vi cụ thể (Ajzen, 1991) Cả hành vi kiểm soát cảm nhận và ý định đều là những yếu tố quan trọng trong việc dự đoán hành vi, với mức độ quan trọng của từng yếu tố có thể thay đổi tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể (Ajzen, 1991).

Cácnghiêncứutrướcđây

Cácnghiêncứuởnướcngoài

Kesharwani và cộng sự (2012) đã kết hợp mô hình Thuyết hành vi dự kiến (TPB) và Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Internet Banking tại Ấn Độ Mô hình nghiên cứu bao gồm năm yếu tố chính: Nhận thức hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng, Nhận thức rủi ro, Tin cậy và Giao diện Website Khảo sát trong nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở Ấn Độ.

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa sự tin cậy và cảm nhận rủi ro trong việc sử dụng Internet Banking, cho thấy người dùng chấp nhận dịch vụ này nhờ vào độ tin cậy cao và mức rủi ro thấp Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là phạm vi nghiên cứu hẹp, với đối tượng chủ yếu là sinh viên, do đó kết quả không thể đại diện cho toàn bộ người dùng.

Nghiên cứu của Nidhi Singha, Neena Sinhab và Francisco J Liébana-Cabanillasc (2019) đã chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng ví điện tử ở Ấn Độ, dựa trên các mô hình TAM và UTAUT2 Qua khảo sát 206 mẫu trực tuyến và ngoại tuyến, nghiên cứu xác định rằng nhận thức dễ sử dụng, nhận thức hữu ích, rủi ro cảm nhận và thái độ đều có tác động đáng kể đến ý định sử dụng dịch vụ ví di động của người dân.

Ming-Chi Lee (2008) đã áp dụng mô hình TAM-TPB để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng Internet Banking tại Đài Loan Khác với nhiều nghiên cứu trước đây, mô hình của ông bổ sung thêm hai biến quan trọng là Lợi ích và Rủi ro Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố rủi ro như bảo mật, tài chính, thời gian, xã hội và hiệu suất có tác động tiêu cực đến thái độ của người dùng, từ đó ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking.

Internet Banking; Rủi ro hiệu suất có ảnhhưởngtiêucựctớiNhậnthứchữuích;Nhântốlợiíchcóảnhhưởngđángkểtớitháiđộsử dụng.

Cácnghiêncứuởtrong nước

Mô hình TAM của tác giả Lê Thị Kim Tuyến (2008) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Internet Banking tại Việt Nam, bao gồm bốn nhân tố: Nhận thức hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng, Sự tin tưởng sử dụng và Sự tin cậy cảm nhận Sau khảo sát sơ bộ, mô hình được điều chỉnh thành ba nhân tố: Nhận thức dễ sử dụng, Khả năng sử dụng và Nhận thức hữu ích Nghiên cứu được thực hiện trên 500 khách hàng sử dụng Internet và có tài khoản ngân hàng, trong độ tuổi từ 18-60 Kết quả cho thấy rằng Nhận thức hữu ích và Nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định sử dụng Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thực hiện ở Đà Nẵng, nên mô hình có tính đại diện cao nhưng cũng có những hạn chế.

Lê Phan Thị Diệu Thảo (2013) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sử dụng Internet Banking của khách hàng ở Miền Tây Nam Bộ, áp dụng mô hình TAM Nghiên cứu này đã bổ sung yếu tố mới là Nhận thức chi phí vào mô hình, cho thấy rằng Nhận thức rủi ro và Nhận thức chi phí có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng Internet Banking Đặc biệt, Nhận thức rủi ro được xác định là rào cản mạnh nhất đối với ý định sử dụng dịch vụ này Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có hạn chế về đối tượng và phạm vi nghiên cứu tương đối hẹp.

Nghiên cứu của Gia-Shie Liu và Phạm Tấn Tài (2016) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động tại Việt Nam dựa trên mô hình TAM cho thấy tính di động, tiện lợi, tương thích, kiến thức thanh toán di động, dễ sử dụng, hữu ích, rủi ro, tin cậy và an toàn đều có tác động đến ý định sử dụng Kết quả chỉ ra rằng nhận thức về tính dễ sử dụng và hữu ích là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định sử dụng thanh toán di động Rủi ro không phải là yếu tố quyết định đến ý định sử dụng dịch vụ này Thêm vào đó, niềm tin vào an toàn khi sử dụng có tác động trực tiếp đến ý định sử dụng, nhưng không ảnh hưởng đến nhận thức về tính hữu ích.

Nhận thức hữu ích (HI)

Nhận thức dễ sử dụng (SD)

Thái độ đối với hành vi (TD)Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN)

Môhìnhđềxuất

Dựa trên phân tích các mô hình và lý thuyết về hành vi chấp nhận công nghệ mới, tác giả nhận thấy rằng mô hình TAM và TPB là những mô hình phổ biến, với khả năng giải thích cao hơn so với các mô hình khác, đạt hệ số điều chỉnh lần lượt là 73% và 80% (Rahman và cộng sự, 2017).

Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất sử dụng mô hình TAM kết hợpTPBlàmcơsởđểxâydựngmôhìnhnghiên cứuvềcácyếutốảnhhưởngđến ýđịnhsử dụngtiềnđiệntử tạiThànhphốHồChíMinh.

Dựa trên các lý thuyết đã được trình bày, tác giả đã phát triển giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng để điều chỉnh và đánh giá thang đo, cũng như các phương pháp được sử dụng trong luận án để kiểm tra mô hình đề xuất và các giả thuyết.

Quátrìnhnghiêncứu

Nghiên cứu chính được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua các cuộc phỏng vấn và bảng câu hỏi khảo sát Bảng câu hỏi hoàn thiện đã được gửi đến 250 người sử dụng tiền điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua phỏng vấn trực tiếp và liên kết khảo sát qua email và mạng xã hội Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm tra thang đo và thu thập dữ liệu để phân tích và kiểm tra mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết liên quan Sau khi thu thập 165 câu trả lời hợp lệ, các bước tiếp theo sẽ bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá, tính hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy biến.

Thống kê mô tả Nghiên cứu định lƣợng Đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo

Kiểm tra độ tin cậy

Phân tích nhân tố khám phá

Kiểm tra mô hình và các giả thuyết của nó (Phân tích hệ số tương quan, Phân tích hồi quy đa biến)

Kết luận và kiến nghị

Thangđovàgiảthiếtnghiêncứu

Tác giả đã phát triển một công cụ khảo sát dựa trên mô hình nghiên cứu, nhằm xác định 5 yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của cư dân tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháiđộđối vớihànhvi 3 Likert Ýđịnhhànhvi 3 Likert

Davis (1989) định nghĩa rằng nhận thức hữu ích là mức độ để một người tinrằng sửdụngmột hệ thống cụ thểsẽ nâng cao hiệu suất công việcc ủ a h ọ

Nhận thức hữu ích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Tp Hồ Chí Minh Theo Haslinger và cộng sự (2007), nhận thức hữu ích được đo lường qua các yếu tố như: khả năng thanh toán thuận lợi và đa dạng dịch vụ, dễ dàng quản lý tài chính, không lo ngại về tác động vật lý như rách hay ướt, và tiết kiệm chi phí cũng như thời gian khi sử dụng tiền điện tử.

Gỉa thiết H1: Nhận thức hữu ích (HI) có tác động cùng chiều đến Ý định sửdụngtiềnđiệntử(YD).

Nhận thức dễ sử dụng được định nghĩa là niềm tin của người sử dụng rằng việc sử dụng một hệ thống công nghệ mới sẽ không gặp khó khăn và không yêu cầu nhiều nỗ lực (Davis, 1989) Trong nghiên cứu này, yếu tố nhận thức dễ sử dụng được đánh giá thông qua ba biến: giao dịch bằng tiền điện tử dễ dàng, ứng dụng chứa tiền điện tử đơn giản và dễ sử dụng, cùng với khả năng truy vấn thông tin và quản lý tiền điện tử một cách đơn giản và nhanh chóng.

Giả thuyết H2: Nhận thức dễ sử dụng (SD) có tác động cùng chiều đến Ý địnhsửdụngtiềnđiệntử(YD).

Thái độ hành vi là cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với việc thực hiện các hành vi mục tiêu, theo Fishbein và Ajzen (1975) Các yếu tố như sự tin tưởng vào việc sử dụng tiền điện tử, sở thích thanh toán qua tiền điện tử và khả năng giới thiệu bạn bè sử dụng tiền điện tử đều góp phần hình thành thái độ đối với hành vi này.

Giả thiết H3: Thái độ (TD) có tác động cùng chiều đến Ý định sử dụng tiềnđiệntử(YD)

Nhận thức chủ quan thể hiện qua áp lực từ ý kiến của người khác (Ajzen và Fishbein, 1975) Nghiên cứu này đo lường yếu tố nhận thức bằng ba biến: sự ủng hộ từ bạn bè và người thân về việc sử dụng tiền điện tử, cũng như sự phù hợp của tiền điện tử với các công nghệ mà người dùng đang áp dụng.

H4: Nhận thức chủ quan (CQ) có tác động cùng chiều đến Ý định sử dụng tiềnđiệntử(YD)

Hành vi kiểm soát cảm nhận thể hiện sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể của cá nhân (Ajzen, 1991) Các yếu tố như việc sử dụng tiền điện tử dễ dàng, kiến thức về tiền điện tử, và sự phù hợp của tiền điện tử với các công nghệ hiện có đều có ảnh hưởng đến quyết định hành vi của người tiêu dùng Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những yếu tố này có tác động đáng kể đến quyết định của người tiêu dùng.

H5: Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có tác động cùng chiều đến Ý định sửdụngtiềnđiệntử(YD)

Dữliệuvàphươngphápxửlý

Thiếtkếlấymẫu

Nghiên cứu này tập trung vào dân số học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, với việc sử dụng điện thoại thông minh làm yêu cầu tối thiểu đối với người tham gia Tác giả quyết định loại trừ những người không sở hữu điện thoại thông minh, vì họ không thể sử dụng tiền điện tử Do không thể khảo sát toàn bộ dân số, một mẫu người trả lời đã được thu thập để đánh giá tính đại diện của kết quả cho dân số.

Bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đó và sửdụngthangđoLikertvới5cấpđộđểđánhgiámứcđộđồngý/khôngđồngýcủacá cđối tƣợng khảo sát.

Cáchthuthậpdữliệu

Để nâng cao tính minh bạch và độ chính xác của nghiên cứu, tác giả đã thu thập dữ liệu chính thông qua khảo sát, sử dụng hai phương pháp: phỏng vấn trực tiếp người tham gia và gửi liên kết khảo sát qua email cùng mạng xã hội.

Phươngphápphântíchvàxửlýdữliệu

Trong nghiên cứu này, hai phần mềm chính được sử dụng để phân tích dữ liệu là IBM SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2010 Giai đoạn phân tích dữ liệu bao gồm các phương pháp như Phân tích mô tả, Phân tích độ tin cậy, Phân tích nhân tố khám phá và Phân tích hồi quy.

Phân tích mô tả là quá trình tóm tắt ngắn gọn dữ liệu, giúp đại diện cho các mẫu và thang đo của chúng Dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi sẽ được giải thích một cách đơn giản, nhằm mang lại sự dễ hiểu và dễ dàng trong việc phân tích.

Theo Twycross và Shields (2005), độ tin cậy liên quan đến tính ổn định, độ lặp lại và tính nhất quán của kết quả nghiên cứu Phân tích độ tin cậy giúp xác định tính nhất quán và độ tin cậy của các biến được sử dụng để kiểm tra các yếu tố Cronbach alpha, theo Shuttleworth (2015), là phương pháp phổ biến nhất để xác định tính nhất quán bên trong của một nghiên cứu, với kết quả dao động từ 0 đến 1 Độ tin cậy được coi là cao khi Cronbach Alpha gần 1, với giá trị chấp nhận được là 0,7 trở lên Điều này cũng được hỗ trợ bởi MacKenzie, Podsakoff và Jarvis (2005) cũng như Hair, B Babin và Anderson (2010), cho rằng giới hạn cho các biến của Cronbach Alpha là 0,7 Các biến có giá trị Cronbach Alpha dưới 0,3 sẽ bị loại khỏi nghiên cứu và không được đưa vào phân tích nhân tố (Hoàng và Chu, 2008).

Sau khi thực hiện phân tích Cronbach Alpha để loại bỏ các biến không đạt độ tin cậy, các biến còn lại sẽ được xem là phù hợp và tiến hành phân tích EFA EFA là phương pháp phân tích định lượng nhằm xác định tính hợp lệ hội tụ, hiệu lực phân biệt và tóm tắt thông tin nội bộ từ nhiều biến đo lường thành một bộ biến nhỏ hơn, giúp tăng tính ý nghĩa của dữ liệu (Hair và cộng sự, 2010).

Theo Pallant (2007) và Hoàng cùng Chu (2008), để đạt được kết quả có ý nghĩa thống kê, cần đảm bảo rằng giá trị Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) nằm trong khoảng từ 0,6 đến 1, kiểm định Bartlett có giá trị sig nhỏ hơn 0,05, tổng phương sai giải thích lớn hơn hoặc bằng 50%, và các biến quan sát có hệ số tải lớn hơn hoặc bằng 0,5.

Hệ số tương quan Pearson là công cụ quan trọng để đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập (Veal, 2005) Theo Pallant (2007) và Hoàng & Chu (2008), hệ số này cho phép định lượng mức độ tương quan tuyến tính giữa hai biến định lượng Cụ thể, nếu hệ số tương quan bằng 1.0, có mối tương quan dương hoàn hảo; nếu bằng -1.0, có mối tương quan âm hoàn hảo; và nếu bằng 0, không có mối quan hệ nào giữa hai biến Giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson càng gần 1, thì mối quan hệ giữa hai biến càng mạnh.

Phân tích hồi quy đa biến là một phương pháp thống kê quan trọng để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và một biến phụ thuộc Theo Hair và cộng sự (1998), phương pháp này không chỉ giúp phân tích mà còn là công cụ hữu ích để kiểm tra các giả thuyết và dự báo giá trị nghiên cứu tổng thể (Ducan, 1996) Do đó, hồi quy đa biến được coi là phương pháp thích hợp để kiểm tra các giả thuyết trong nghiên cứu.

Theo Pallant (2007) và Hoàng và Chu (2008), trước khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến, cần kiểm tra các giả định sau: (1) Có mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập; (2) Các biến độc lập không được có mối tương quan cao với nhau; (3) Phần dư phải được phân phối bình thường; (4) Phương sai của phần dư cần đồng nhất trên các giá trị của các biến độc lập; và (5) Không có sự tự tương quan giữa các phần dư.

Giá trị R bình phương được sử dụng để đánh giá mức độ phương sai của biến phụ thuộc được giải thích bởi mô hình Theo Hoàng và Chu (2008), giá trị R bình phương càng cao thì khả năng giải thích của phương trình hồi quy càng lớn, dẫn đến độ chính xác cao hơn trong việc dự đoán các biến phụ thuộc (Hair và cộng sự, 2010).

Tómtắtchương3

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về phương pháp nghiên cứu, bao gồm quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, thiết kế lấy mẫu, công cụ nghiên cứu và thang đo Dữ liệu khảo sát được thu thập từ những người trả lời được chọn một cách ngẫu nhiên, thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp và khảo sát trực tuyến Ngoài ra, chương cũng thảo luận chi tiết về các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này.

Trong chương 4, tác giả sẽ tiến hành phân tích và thảo luận những kết quả thuđượcquakhảosát.Kếtquảphântíchđượctrìnhbàytrongchươngnày,baogồ m

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện các phương pháp thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hệ số tương quan, phân tích hồi quy bội, thử nghiệm t-mẫu độc lập và thử nghiệm ANOVA một chiều Sau khi phân tích, dựa trên kết quả nhận được, chúng tôi sẽ xem xét chấp nhận hoặc từ chối các giả thuyết đã nêu trong chương 2.

Thốngkêmôtả

Mẫu khảo sát được thu thập thông qua bảng hỏi, với 165 bảng hợp lệ được chọn sau khi loại bỏ 35 bảng không hợp lệ do thiếu thông tin hoặc trả lời giống nhau Dữ liệu được thu thập trong thời gian 4 tuần, từ ngày 10 tháng 12 năm 2019 đến ngày 8 tháng 01 năm 2020.

Hìnhthứcthu thậpdữliệu Số lƣợngbản ghỏi phânphối

N Minimum Maximum Mean Std.Deviation

Đánhgiáđộtincậycủa thangđo

Bảng 4.2.Bảng kếtquảkiểmtra độtin cậy

Yếutố Biếnquan sát Tươngquanbiếnt ổng

Nunnally và Bernstein (1994) cho rằng một thang đo có độ tin cậy tốt khi hệ số Cronbach Alpha đạt mức 0.7 trở lên Nếu hệ số Cronbach Alpha từ 0.60 đến 0.70, thang đo vẫn có thể được chấp nhận nhưng có độ tin cậy thấp hơn Do đó, tác giả quyết định loại bỏ những thang đo có hệ số Cronbach Alpha dưới 0.7; kết quả cho thấy chỉ có thang đo thái độ (TD) với hệ số Cronbach Alpha là 0.674 bị loại bỏ Chi tiết về phân tích độ tin cậy được trình bày trong Phụ lục 3.

Tóm lại, Sau khi loại bỏ thang đo có độ đáng tin cậy không cao, các thang đocònđ ủ điềukiệncầnthiếtđểthựchiệnbướcphântíchEFAtiếptheo.

PhântíchnhântốkhámpháEFA

Phântíchnhântốkhámpháchocácbiếnđộclập

Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các biến độc lập, bao gồm Nhận thức hữu ích (HI), Nhận thức dễ sử dụng (SD), Nhận thức chủ quan (CQ) và Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN), tác giả đã tổng hợp các kết quả thu được và trình bày chi tiết trong Bảng 4.3 dưới đây.

Kết quả EFA cho thấy giá trị của KMO = 0,76> 0,5 , Sig = 0,000 0,5 , Sig = 0,000

Tổng phương sai đạt 72.648%, vượt quá 50%, cho thấy các nhân tố này đại diện cho 72% sự biến thiên của dữ liệu khảo sát Giá trị Eigenvalues là 2.179, lớn hơn 1, cũng chứng minh tính hợp lệ của các nhân tố Do đó, các nhân tố có khả năng đại diện cho dữ liệu khảo sát một cách hiệu quả.

Cuối cùng mô hình sau khi hiểu chỉnh sẽ loại bỏ biến Thái độ đối với hành vi(TD)cácyếutôcònlại sẽđƣợcgiữlại trongmô hìnhnghiêncứu

Phântíchhệsốtươngquan

Nghiên cứu sử dụng Cronbach's Alpha và EFA để đánh giá mô hình 5 yếu tố với 17 biến số ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy các yếu tố này có tác động đáng kể đến quyết định sử dụng tiền điện tử trong cộng đồng địa phương.

F_HI F_SD F_CQ F_CN F_YD

Phân tích này nhằm tìm mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Dựa trên kết quả từ Bảng 4.6, tại mức ý nghĩa 1% và 5%, giá trị sig giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc đều nhỏ hơn 0.05, ngoại trừ giá trị sig của biến độc lập (CQ) và biến phụ thuộc (YD) là 0.451, lớn hơn 0.05 Điều này cho thấy biến phụ thuộc (ý định sử dụng tiền điện tử) chỉ có tương quan với biến độc lập Nhận thức hữu ích (HI).

Nhận thức dễ sử dụng (SD) và hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có vai trò quan trọng trong việc giải thích ý định sử dụng tiền điện tử (YD) Đặc biệt, nhận thức chủ quan (CQ) cần được loại bỏ khỏi mô hình để làm rõ mối quan hệ này Hệ số tương quan giữa ý định sử dụng tiền di động với nhận thức hữu ích (HI), nhận thức dễ sử dụng (SD), và hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) lần lượt là 0.588, 0.531, và 0.606.

Các biến độc lập cần có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc để đủ điều kiện cho phân tích hồi quy đa biến Đồng thời, cần lưu ý rằng các biến độc lập cũng có thể có mối tương quan với nhau, do đó việc phân tích giả định độc lập là rất quan trọng.

Phântíchhồiquyđabiến

Phântíchhồiquyđabiếnđƣợcthựchiệnvớibốnbiếnđộclập(Nhậnthứch ữuích(HI),Nhậnthứcdễ sửdụng(SD), Hànhvikiểmsoátcảmnhận(CN))vàmộ tbiếnphụthuộc(Ýđịnhsử dụng tiềnđiệntử(YD)).

Biểu đồ hồi quy Normal P-P plot (Hình 4.1) cho thấy các điểm dữ liệu chủ yếu nằm trên một đường chéo thẳng từ góc dưới bên trái đến góc trên bên phải, điều này chỉ ra rằng không có sai lệch đáng kể so với tính quy tắc và giả định rằng phần dư được phân phối bình thường.

Biểu đồ Scatter plot (Hình 4.2) cho thấy phần dư chuẩn hóa (Regression Standardized Residual) không thay đổi theo bất kỳ trật tự nào so với giá trị dự đoán chuẩn hóa (Regression Standardized Predicted Value) Điều này khẳng định rằng giả định về mối liên hệ tuyến tính không bị vi phạm Tóm lại, tất cả các giả định của Phân tích hồi quy đều được đảm bảo.

Mô hình hồi quy đa biến được trình bày trong Bảng 4.7 cho thấy sự phù hợp cao với hệ số R bình phương hiệu chỉnh đạt 0.543 Điều này có nghĩa là 54.3% biến thiên của biến phụ thuộc, cụ thể là ý định sử dụng tiền điện tử (YD), có thể được giải thích bởi các yếu tố trong mô hình.

Giá trị của Durbin-Watson là 2.172, vẫn nằm trong phạm vi (1; 3) để mô hìnhkhôngxảyratươngquan.

1 737 a 543 532 5496104 2.172 a Biếnđộclập:F_HI,F_CN,F_SD b Biếnphụthuộc:F_YD

Kết quả ANOVA (Bảng 4.8) cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tổng thể, với giá trị F là 47.525 và giá trị sig là 0,000, thấp hơn 5% Điều này chứng tỏ tính hợp lệ của mô hình.

Môhình Tổngbình phương df Bìnhph ƣơng trungbình

Tổng 105.755 164 a.Biếnphụ thuộc:F_YD b.Biếnđộclập:F_HI,F_CN,F_SD

Hệ sốđãc huẩn hoá t Sig Đacộngtuyến

Nghiên cứu này đƣợc thử nghiệm ở mức ý nghĩa 5% để kiểm tra mối quan hệgiữatấtcả cácbiếnđộclậpvàbiếnphụthuộc.

Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều nhỏ hơn 10, chứng tỏ không có hiện tượng đa cộng tuyến Các biến Nhận thức hữu ích (HI), Nhận thức dễ sử dụng (SD), và Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có giá trị Sig nhỏ hơn 0,05, cho thấy ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc Ý định sử dụng tiền điện tử (YD) trong mô hình nghiên cứu Mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc là khác nhau, với các hệ số hồi quy của HI, SD và CN đều mang dấu dương, chỉ ra rằng các biến này có mối quan hệ thuận với biến phụ thuộc Yếu tố càng ảnh hưởng nhiều đến ý định sử dụng tiền điện tử thì hệ số beta của yếu tố đó càng cao (Pallant, 2011).

Trong số các biến độc lập ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử, Hành vikiểm soát cảm nhận(CN) có tác động đángk ể n h ấ t v ớ i B e t a = 0 3 5 5

T i ế p t ớ i l à Nhận thức hữu ích( HI) với Beta = 0.322 Nhận thức dễ sử dụng có tác động cuốicùngvớibeta=0.216

H1:Nhậnthứchữuích(HI)cótácđộngtíchcự cđếnÝđịnhsửdụngtiềnđiện tử(YD).

H2:Nhậnthứcdễsửdụng(SD)cótác độngtíchcựcđếnÝđịnhsử dụngtiềnđiệntử(YD).

H3:Tháiđộ(TD)cótácđộngtích cựcđến Ýđịnhsửdụngtiềnđiệntử(YD) 113 Bácbỏ

H5: Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) cótácđộngtíchcựcđến Ýđịnhsửdụngtiền điệntử(YD)

Chương 5 tóm tắt kết quả từ chương 4 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, chương này cũng chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo.

Tómtắtkết quảchính

Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới Ý định sửdụngtiềnđiệntửcủangườidântạiThànhphố HồChíMinh.

Sau khi nghiên cứu tài liệu về tiền điện tử, tác giả đã áp dụng mô hình TAM và TPB để đề xuất một mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố: Nhận thức hữu ích (HI), Nhận thức dễ sử dụng (SD), Nhận thức chủ quan (CQ), Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) và Thái độ (TD) Các nhân tố này tác động đến ý định sử dụng tiền điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn: nghiên cứu thí điểm và nghiên cứu chính Nghiên cứu thí điểm áp dụng phương pháp định tính, chủ yếu thông qua các cuộc phỏng vấn sâu với năm người thường xuyên sử dụng tiền điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu của giai đoạn này là đề xuất và hoàn thiện bảng hỏi cho nghiên cứu chính thức.

Nghiên cứu chính được thực hiện thông qua phương pháp định lượng với các cuộc phỏng vấn sử dụng bảng câu hỏi khảo sát Bảng câu hỏi hoàn chỉnh đã được gửi tới 250 người chưa sử dụng tiền điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh, thông qua phỏng vấn trực tiếp và liên kết khảo sát qua email cùng mạng xã hội Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm tra thang đo và thu thập dữ liệu để phân tích, từ đó xác minh mô hình lý thuyết và các giả thuyết liên quan Sau khi thu thập được 165 bảng câu hỏi hợp lệ, nghiên cứu sẽ tiến hành các bước tiếp theo như thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy bằng Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá, tính toán hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến.

Sau khi phân tích độ tin cậy, tác giả đã loại bỏ nhân tố Thái độ (TD) do không đáp ứng yêu cầu Cronbach's Alpha Các biến còn lại được duy trì để tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA), kết quả cho thấy EFA đã trích xuất 17 biến thành 5 yếu tố Tất cả các biến này được giữ lại cho phân tích hệ số tương quan và hồi quy bội Cuối cùng, sau khi phân tích hệ số tương quan và hồi quy bội, nhân tố Nhận thức chủ quan (CQ) đã bị loại khỏi mô hình.

Cuối cùng với kết quả nghiên cứu, luận án đã đạt đƣợc các mục tiêu đề ratrongchương1,chothấynócóý nghĩavềmặtlýthuyếtvàthựctiễn:

Tác giả đã phát triển một mô hình lý thuyết có mức độ phù hợp trên trung bình, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Mô hình này không chỉ mang lại giá trị khoa học mà còn có thể trở thành nguồn tài nguyên hữu ích cho các nghiên cứu liên quan khác.

Kết quả của luận án mang lại ý nghĩa thiết thực cho nhiều đối tượng, đặc biệt là các nhà cung cấp và quản lý tiền điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, nghiên cứu cũng có giá trị cho các học giả đang quan tâm đến các chủ đề liên quan trong lĩnh vực này.

Giớihạn vàkhuyếnnghị

Một trong những hạn chế chính của luận văn này là kích thước mẫu chỉ có 165, khá nhỏ, do giới hạn về thời gian và ngân sách Kích thước mẫu rất quan trọng vì nó đại diện cho dân số, vì vậy việc tăng kích thước mẫu sẽ nâng cao tính đại diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Hơn nữa, nghiên cứu này chỉ khảo sát khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi tiền điện tử được sử dụng trên toàn quốc Do đó, tác giả đề xuất rằng các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng kích thước mẫu và phạm vi nghiên cứu để tăng tính tổng quát của nghiên cứu.

Nghiên cứu này kiểm tra sự khác biệt giữa các nhóm khác nhau như giới tính, thế hệ và mức thu nhập về ý định sử dụng tiền điện tử của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đề xuất rằng nghiên cứu nên mở rộng để bao gồm thêm các yếu tố này, nhằm so sánh mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập trong các nhóm yếu tố khác nhau Từ đó, có thể đưa ra nhiều kết luận chính sách hơn về việc sử dụng tiền điện tử.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ba yếu tố độc lập: Nhận thức hữu ích (HI), Nhận thức dễ sử dụng (SD) và Hành vi kiểm soát cảm nhận (CN) có ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng tiền điện tử của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh Mô hình nghiên cứu này chỉ giải thích được 54.3% phương sai trong ý định sử dụng tiền điện tử, cho thấy còn nhiều yếu tố khác tác động đến ý định này Do hạn chế về thời gian, nghiên cứu chưa thể xem xét tất cả các yếu tố Tác giả khuyến nghị các nghiên cứu tiếp theo nên tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác giả đưa ra khuyến nghị cho các bên liên quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của tiền điện tử, tập trung vào việc cải thiện cảm nhận hữu ích của khách hàng Để đạt được điều này, các tổ chức phát hành tiền điện tử nên hợp tác với các trung tâm thương mại, cửa hàng và điểm bán lẻ, giúp khách hàng dễ dàng sử dụng tiền điện tử mọi lúc, mọi nơi Bên cạnh đó, việc nâng cao phương pháp truy xuất lịch sử giao dịch cũng rất quan trọng, giúp khách hàng dễ dàng theo dõi chi tiêu của mình.

Tiếptới,đểgiatăngngườidùngtiềnđiệntửcáctổchứcpháthànhnêntậptrungv àonhững yếutốtácđộngđếnnhậnthứcdễsửdụngcủakháchhàng.Nhƣtậptrungphátt r i ể n ứ n g d ụ n g t h ậ t đ ơ n g i ả n t r ự c q u a n đ ể a i c ũ n g c ó t h ể d ễ d à n g s ử d ụ n g Triển khai video hướng dẫn đơn giản hóa cách sử dụng tiền điện tử để giúp kháchhàngdễdànghiểuvàsử dụng.

Để phát triển tiền điện tử, các nhà chính sách và tổ chức phát hành cần cải thiện nhận thức của người dân về loại hình này Chính phủ nên triển khai các chương trình giáo dục để nâng cao kiến thức về tiền điện tử cho cộng đồng Đồng thời, các nhà phát triển cần liên tục cập nhật ứng dụng của mình để đảm bảo tính tương thích với các thiết bị di động hiện có Hơn nữa, việc tăng cường kết nối giữa nhà cung cấp tiền điện tử và ngân hàng sẽ giúp khách hàng dễ dàng liên kết tài khoản ngân hàng với ứng dụng tiền điện tử, từ đó tiết kiệm thời gian và công sức cho người dùng.

Rahman, M M., Lesch, M F., Horrey, W J., & Strawderman, L. (2017).Assessing the utility of TAM, TPB, and UTAUT for advanced driver assistancesystems.AccidentAnalysis&Prevention,108,361-373.

The Directive 2009/110/EC, established by the European Parliament and Council on September 16, 2009, regulates the establishment and supervision of electronic money institutions This directive amends previous regulations, specifically Directive 2005/60/EC and Directive 2006/48, while also repealing Directive 2000/46/EC The aim is to ensure prudent oversight and facilitate the secure operation of electronic money services within the EU.

Ajzen, I (1991) The Theory of Planned Behavior, Organizational BehaviorandHumanDecisionProcesses,50(2),179-211.

“UserAcceptance of Infromation Technology: Towards A Unified View”, MIS Quarterly,27(3),425-478.

Z e t z s c h e , H., & Uptmoor, R (2016) Quantitative trait loci controlling leaf appearance andcurd initiation of cauliflower in relation to temperature.Theoretical and AppliedGenetics,129(7),1273-1288.

Gefen, D (2002) Reflections on the dimensions of trust and trustworthinessamong online consumers.ACM SIGMIS Database: the DATABASE for Advances inInformationSystems,33(3),38-53.

Legris, P., Ingham, J., & Collerette, P (2003) Why do people use informationtechnology? A critical review of the technology acceptance model.Information &management,40(3),191-204.

Davis, F.D., 1989, Perceived Usefullness, Perceived Ease of Use, and UserAcceptanceofIT.MISQuarterly,13(3).

Sun,H.,&Zhang,P.(2006).Theroleofmoderatingfactorsinu s e r technology acceptance.International journal of human-computer studies,64(2), 53-78.

Venkatesh, V., Morris, M G., Davis, G B., & Davis, F D (2003). Useracceptance of information technology: Toward a unified view.MIS quarterly,

Kesharwani, A., & Singh Bisht, S (2012) The impact of trust and perceivedrisk on internet banking adoption in India: An extension of technology acceptancemodel.InternationalJournalofBankMarketing,30(4),303-322.

Lee, M C (2009) Factors influencing the adoption of internet banking: Anintegration of TAM and TPB with perceived risk and perceived benefit.Electroniccommerceresearchand applications,8(3),130-141.

Thảo, L P T D., & Liên, N M (2014) Nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọnsử dụng Internet Banking của khách hàng khu vực Tây Nam Bộ.Tạp chí Kinh tế vàNgânhàngchâuÁ, (91),29.

Liu, G S., & Tai, P T (2016) A study of factors affecting the intention to usemobilepaymentservicesinVietnam.Economics,4(6),249-273.

Twycross,A.,&Shields,L.(2005).Validityandreliability what'sita l l about? Part 3 issues relating to qualitative studies; this is one of a series of shortpapersonaspectsofresearch.Paediatricnursing,17(1),36-37.

Shuttleworth, S J., Cecil, A R L., Hill, T J., & Silva, F A.(2015).U.S.PatentNo 9,200,007 Washington,DC: U.S PatentandTrademark Office.

MacKenzie, S B., Podsakoff, P M., & Jarvis, C B (2005) The problem ofmeasurement model misspecification in behavioral and organizational research andsomerecommendedsolutions.Journalofappliedpsychology,90(4),710.

Hair, B Babin, and Anderson (2010), Multivariate data analysis: a globalperspective.

Hair, B Babin, and Anderson (2010), Multivariate data analysis: a globalperspective.

Hoàng, T., & Chu, N M N (2008) Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS- tập1.

Pallant, J (2011) SPSS Survival Manual: A step by step guide to data analysisusingSPSS(4 th edition),ALLEN&UNWIN.

Kaiser, M O (1974) Kaiser-Meyer-Olkin measure for identity correlationmatrix.JournaloftheRoyalStatisticalSociety,52,296-298.

Tác giả Lê Vũ Hoàng Anh, sinh viên trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, đang thực hiện khảo sát phục vụ cho bài luận văn tốt nghiệp với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền điện tử tại Thành Phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu này nhằm mục đích khoa học và không liên quan đến kinh doanh Tác giả cam kết bảo mật thông tin của người tham gia và chịu trách nhiệm nếu có rò rỉ Rất mong bạn dành thời gian trả lời bảng câu hỏi, vì mọi ý kiến đều có giá trị nghiên cứu Tác giả hy vọng nhận được ý kiến trung thực từ bạn.

Bạn vui lòng trả lời các câu hỏi về trải nghiệm tiềm năng của bạn bằng cách sửdụngtiềnđiệntử.Xinlưuýrằnggiátrịbạnđồngývớimỗituyênbốđượcliệtkêcóýnghĩanhưsa u:1-hoàntoànkhôngđồngý;2-khôngđồngý;3 –khôngcóýkiến;4–đồngý;5 - hoàntoànđồngý.

Tôisẽgiớithiệu bạnbè sửdụngtiền điệntử 1 2 3 4 5 Ýđịnh(YD)

N Minimum Maximum Mean Std.Deviation

PHỤ LỤC 3: Kiểm tra độ tin cậy CRONBACH

PHỤ LỤC 4: Kết quả phân tích nhân tố khám phá

Total %ofVariance Cumulative% Total %ofVariance Cumulative%

F_HI F_SD F_CQ F_CN F_YD

1 737 a 543 532 5496104 2.172 a Predictors:(Constant),F_HI,F_CN,F_SD b DependentVariable:F_YD

Model Sum ofSquares df MeanSquare F Sig.

Total 105.755 164 a DependentVariable:F_YD b Predictors:(Constant),F_HI,F_CN,F_SD

HI1 HI2 HI3 HI4 SD1 SD2 SD3 SD4 CQ1 CQ2 CQ3 CN1 CN2 CN3 TD1 TD2 TD3 YD1 YD2 YD3 F_HI F_SD F_CQ F_CN F_TD F_YD

Ngày đăng: 28/04/2022, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TAM Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model) TPBThuyết dự định hành vi (Theory of Planned Behavior) - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
h ình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model) TPBThuyết dự định hành vi (Theory of Planned Behavior) (Trang 14)
Lý thuyết về hành vi có dự định (TPB) là một phần mở rộng của mô hình TRA đƣợc đề xuất bởi Ajzen (1991).Tác giả đã tích hợp và so sánh mô hình TAM để xác định mô hình nào hữu ích nhất trong việc tìm hiểu hành vi sử dụng công nghệ - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
thuy ết về hành vi có dự định (TPB) là một phần mở rộng của mô hình TRA đƣợc đề xuất bởi Ajzen (1991).Tác giả đã tích hợp và so sánh mô hình TAM để xác định mô hình nào hữu ích nhất trong việc tìm hiểu hành vi sử dụng công nghệ (Trang 21)
2.4. Mô hình đề xuất - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.4. Mô hình đề xuất (Trang 24)
Đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
xu ất mô hình nghiên cứu và thang đo (Trang 26)
Kiểm tra mô hình và các giả thuyết của nó (Phân tích hệ số tƣơng quan, Phân tích hồi quy đa biến) - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
i ểm tra mô hình và các giả thuyết của nó (Phân tích hệ số tƣơng quan, Phân tích hồi quy đa biến) (Trang 26)
Bảng 4.2. Bảng kết quả kiểm tra độ tin cậy - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2. Bảng kết quả kiểm tra độ tin cậy (Trang 33)
Bảng 4.3. Bảng kiểm định KMO và Bartlett’s biến độc lập - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.3. Bảng kiểm định KMO và Bartlett’s biến độc lập (Trang 35)
Bảng 4.5. Bảng kiểm định KMO và Bartlett’s biến phụ thuộc - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.5. Bảng kiểm định KMO và Bartlett’s biến phụ thuộc (Trang 36)
Cuối cùng mô hình sau khi hiểu chỉnh sẽ loại bỏ biến Thái độ đối với hành vi (TD) các yếu tô còn lại sẽ đƣợc giữ lại trong mô hình nghiên cứu - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
u ối cùng mô hình sau khi hiểu chỉnh sẽ loại bỏ biến Thái độ đối với hành vi (TD) các yếu tô còn lại sẽ đƣợc giữ lại trong mô hình nghiên cứu (Trang 37)
Sau khi phân tích đánh giá đo lƣờng của Cronbach’ Alpha và EFA, mô hình và giả thuyết có 5 yếu tố với 17 biến số ảnh hƣởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của ngƣời dân tại Thành phố Hồ Chí Minh - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
au khi phân tích đánh giá đo lƣờng của Cronbach’ Alpha và EFA, mô hình và giả thuyết có 5 yếu tố với 17 biến số ảnh hƣởng đến ý định sử dụng tiền điện tử của ngƣời dân tại Thành phố Hồ Chí Minh (Trang 37)
Hình 4.1. Normal P-P Plot - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 4.1. Normal P-P Plot (Trang 39)
Hình 4.2. Scatterplot - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 4.2. Scatterplot (Trang 39)
Bảng 4.9. Bảng hồi quy đa biến - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.9. Bảng hồi quy đa biến (Trang 41)
Các kết quả giả thuyết đƣợc tóm tắt nhƣ trong Bảng 4.10 - CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
c kết quả giả thuyết đƣợc tóm tắt nhƣ trong Bảng 4.10 (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w