BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH TRƢƠNG NGUYÊN TUẤN CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂ[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 7
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Đề cập đến doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nói đến qui mô về vốn, lao động hay doanh thu hoặc phạm vi hoạt động của nó Tùy vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trình độ cũng như định hướng phát triển kinh tế trong từng thời kỳ mà có khái niệm DNN&V phù hợp Bên cạnh đó tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của các chương trình trợ giúp cũng khác nhau tùy thuộc vào đối tượng trợ giúp của từng chương trình cụ thể.
Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, với vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người Doanh nghiệp có thể linh hoạt áp dụng một trong hai tiêu chí này hoặc cả hai, tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của từng ngành và địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp.
Một là, DNNVV có vốn đầu tƣ ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vốn đăng ký ban đầu không vượt quá 10 tỷ đồng, với chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, giúp thu hồi vốn nhanh chóng Điều này thúc đẩy tốc độ quay vòng vốn, cho phép đầu tư vào công nghệ mới và hiện đại, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hai là, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hoạt động đa dạng trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, bao gồm thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, cũng như nông - lâm - ngư nghiệp Chúng hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có tính linh hoạt cao trước sự biến động của thị trường, cho phép họ nhanh chóng điều chỉnh hoạt động sản xuất và kinh doanh Với vốn đầu tư ít và quy mô nhỏ, DNNVV có khả năng thu hồi vốn nhanh chóng Hơn nữa, sự hiện diện của DNNVV trong mọi thành phần kinh tế giúp họ dễ dàng chuyển hướng sang loại hình sản xuất - kinh doanh khác khi không còn phù hợp với nhu cầu thị trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường có khả năng chấp nhận rủi ro và mạo hiểm cao hơn, nhờ vào quy mô nhỏ và vốn đầu tư không lớn Điều này cho phép họ tự tin tham gia vào các ngành nghề mới, ngay cả khi lợi nhuận ban đầu thấp, hoặc sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu đặc thù của thị trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có cấu trúc tổ chức sản xuất và quản lý linh hoạt, với quy mô nhỏ và số lượng lao động ít Mối quan hệ giữa người quản lý và nhân viên rất chặt chẽ, giúp cho việc ra quyết định và thực hiện nhanh chóng, không gặp trở ngại Điều này giúp DNNVV tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Sáu là, quy mô vốn và năng lực tài chính còn hạn chế nên DNNVV khó tiếp cận các kênh huy động vốn.
Do đặc trưng quy mô kinh doanh nhỏ và vừa cùng với vốn điều lệ ban đầu thấp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư Nguồn tài chính hạn hẹp và lợi nhuận thấp dẫn đến tỷ lệ vốn từ lợi nhuận không cao, làm chậm quá trình tích tụ vốn để tái sản xuất, đồng thời giá trị tài sản thuần cũng thấp Với uy tín trên thương trường không cao, DNNVV trở thành khu vực nhiều rủi ro trong mắt các nhà đầu tư, từ đó gặp khó khăn trong việc tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế.
Bảy là, năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh còn yếu:
Nguồn tài chính hạn chế đã cản trở các DNNVV đầu tư vào việc nâng cấp máy móc và thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời cũng làm giảm khả năng tập trung vào nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Tám là, thị trường nhỏ hẹp và năng lực cạnh tranh hạn chế.
Do hạn chế về vốn, công nghệ và lao động, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chỉ có thể hoạt động trong phạm vi hạn chế, phục vụ một đoạn thị trường nhất định Việc sử dụng công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp và khả năng cạnh tranh yếu Ngoài ra, DNNVV cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và thâm nhập thị trường, cũng như phân phối sản phẩm do thiếu thông tin và hiệu quả marketing kém.
Chín là, năng lực quản lý còn thấp.
Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) mới hoạt động trong thời gian ngắn, dẫn đến trình độ và kỹ năng của chủ doanh nghiệp cũng như người lao động còn hạn chế Số lượng DNNVV có lãnh đạo giỏi và có trình độ chuyên môn cao còn thấp Nhiều chủ doanh nghiệp và giám đốc chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị Hơn nữa, DNNVV gặp khó khăn trong việc thu hút và giữ chân những nhà quản lý và lao động có trình độ cao do không đủ khả năng trả lương cạnh tranh và các chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Mười là, sự liên kết giữa các DNNVV còn hạn chế.
Mặc dù đã có một số hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp được thành lập để tập hợp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhưng hoạt động chủ yếu vẫn dừng lại ở việc trao đổi kinh nghiệm và thông tin, cũng như đưa ra kiến nghị về chính sách và pháp luật Đáng chú ý, phần lớn DNNVV vẫn chưa thiết lập được sự liên kết chặt chẽ trong sản xuất kinh doanh, thiếu sự phân công lao động hiệu quả, hỗ trợ lẫn nhau về vốn, công nghệ và kỹ thuật, cũng như hợp tác để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của họ.
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
1.1.3.1 Góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân
Trên toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm từ 90% đến 95% tổng số doanh nghiệp và tạo ra khoảng 2/3 việc làm cho lực lượng lao động Với sự hiện diện của nhiều DNNVV trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ, chúng đóng góp đáng kể vào sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Tại Việt Nam, DNNVV không chỉ thúc đẩy sự hình thành của nền kinh tế thị trường mà còn đóng góp hơn 40% GDP quốc gia.
1.1.3.2 Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tham gia vào quá trình phân phối lại thu nhập, giúp ổn định xã hội
DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, là lý do chính khiến các quốc gia chú trọng phát triển loại hình doanh nghiệp này Việc thành lập DNNVV không đòi hỏi vốn đầu tư lớn và có thể phân bố rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp nhận lượng lớn lao động, bao gồm cả lao động nhàn rỗi Hơn nữa, sự hiện diện của DNNVV từ thành phố đến nông thôn giúp giảm áp lực di dân vào các đô thị lớn.
Theo thống kê, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam hiện đang tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn và chiếm 25-26% tổng lực lượng lao động cả nước DNNVV có triển vọng thu hút lao động lớn nhờ mức đầu tư cho mỗi chỗ làm thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu do chi phí vận hành thấp và khả năng thu hút nguồn vốn từ cộng đồng.
1.1.3.3 Thu hút tích cực và có khả năng huy động các nguồn vốn, nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng năm
Năm 2017, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua định nghĩa về "Cấp tín dụng", theo đó, đây là thỏa thuận cho phép tổ chức hoặc cá nhân sử dụng một khoản tiền với cam kết hoàn trả Các hình thức cấp tín dụng bao gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác.
Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là hình thức mà ngân hàng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho DNNVV trong một khoảng thời gian nhất định Doanh nghiệp sử dụng vốn này để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo nguyên tắc đã thỏa thuận.
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
DNNVV hoạt động ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau nên đối tƣợng cấp tín dụng ngân hàng đối với DNNVV rất đa dạng.
Mặc dù khách hàng DNNVV chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số khách vay vốn tại ngân hàng, nhưng dư nợ cho vay đối với DNNVV lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
Thông tin khách hàng có độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân, hộ gia đình.
Nhu cầu vốn tín dụng của DNNVV thường rất lớn trong khi khả năng đáp ứng về tài sản để đảm bảo đảm nợ vay lại có giới hạn.
1.2.3 Tác động của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Hiện nay, doanh nghiệp có hai nguồn vốn chính để đầu tư: vốn tự có và vốn đi vay Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn thường không được đáp ứng đầy đủ, và quy mô khoản vay phụ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp cũng như các quy định của ngân hàng và pháp luật Nếu khoản vay quá lớn, chi phí lãi suất sẽ tăng, dẫn đến giá sản phẩm cao hơn và ảnh hưởng đến lợi nhuận Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng cơ cấu vốn tối ưu, kết hợp hiệu quả các nguồn tài trợ nhằm tối đa hóa giá trị thị trường với chi phí vốn thấp nhất.
1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNNVV
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) từ giai đoạn khởi sự cho đến khi phát triển Nếu không có sự hỗ trợ này, DNNVV sẽ gặp khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất và kỹ thuật cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí không thể thành lập Nhiều doanh nghiệp mặc dù ra đời nhưng do hạn chế về vốn không thể áp dụng công nghệ và thiết bị hiện đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp và thiếu sức cạnh tranh Để duy trì hoạt động ổn định, DNNVV cần có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, trong khi nguồn vốn tự có và vay không chính thức thường rất hạn chế Do đó, tín dụng ngân hàng trở thành giải pháp hiệu quả, giúp DNNVV tái sản xuất, mở rộng quy mô và phát triển các ngành nghề mũi nhọn.
1.2.3.3 Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
DNNVV trên thị trường cần chú trọng đến việc hoàn trả gốc và lãi đúng hạn khi sử dụng vốn vay Do đó, các doanh nghiệp không chỉ cần thu hồi đủ vốn mà còn phải tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng chỉ cho vay sau khi thẩm định kỹ lưỡng tính khả thi và hiệu quả của dự án Vì vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng ngay từ khi lập phương án sản xuất kinh doanh để tăng cường sự tin tưởng từ ngân hàng Hơn nữa, ngân hàng còn tư vấn cho doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư tốt nhất, nhằm tối đa hóa lợi nhuận Công tác kiểm tra định kỳ của ngân hàng cũng thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động minh bạch và tuân thủ pháp luật, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV trên thị trường.
1.2.3.4 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các
DNNVV thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước
Sau khi cổ phần hóa, các doanh nghiệp sẽ phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các hình thức huy động vốn khác để tài trợ cho hoạt động của mình Để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc huy động vốn, các ngân hàng đã phát triển nhiều dịch vụ trên thị trường chứng khoán như lưu ký chứng khoán, mua bán cổ phiếu, trái phiếu, bảo lãnh phát hành và tư vấn tài chính Doanh nghiệp cũng có thể dùng cổ phiếu, trái phiếu làm tài sản đảm bảo khi vay vốn tại ngân hàng, giúp họ yên tâm hơn trong quá trình cổ phần hóa Điều này chính là động lực thúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiện nay.
CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.3.1 Khái niệm chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV
Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh và đánh giá toàn bộ hoạt động tín dụng một cách trung thực và khách quan Chỉ tiêu này thể hiện khả năng và mức độ trả nợ vay cùng lãi suất đúng hạn, đồng thời phản ánh khả năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng.
Chất lượng tín dụng là khái niệm vừa trừu tượng vừa cụ thể, phản ánh toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) Nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của tín dụng đối với nền kinh tế và NHTM, góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh mức độ phù hợp của hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) trước những biến động của môi trường xung quanh và chiến lược kinh doanh riêng của từng NHTM.
Chất lượng tín dụng không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của hoạt động huy động và cho vay Để đảm bảo chất lượng tín dụng, ngân hàng thương mại (NHTM) cần duy trì mối quan hệ cân đối giữa nguồn vốn và cho vay, tránh tình trạng thừa hoặc thiếu vốn Đồng thời, việc mở rộng quy mô tín dụng cũng cần được thực hiện một cách hài hòa với việc kiểm soát chất lượng tín dụng Thực tế cho thấy, nếu mở rộng quy mô tín dụng quá mức mà không kiểm soát tốt, sẽ dẫn đến nợ xấu và nợ khó đòi, gây ra nguy cơ phá sản cho NHTM và khủng hoảng tài chính.
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với DNN&V
Ngân hàng là một ngành dịch vụ có lịch sử phát triển hàng trăm năm, mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng đối mặt với nhiều rủi ro Rủi ro tín dụng là một trong những mối đe dọa lớn nhất, góp phần gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng và là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Mọi quốc gia trên thế giới đều có thể gặp phải tình trạng tín dụng kém, vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng là cần thiết không chỉ cho ngân hàng và khách hàng mà còn cho toàn xã hội.
Ngân hàng thương mại hoạt động như những nhà đầu tư, với mong muốn thu hồi vốn và đạt lợi nhuận Đảm bảo chất lượng các khoản vay là nhu cầu thiết yếu đối với ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng thương mại tại Việt Nam ngày càng trở thành những chủ thể kinh doanh độc lập, tự chịu trách nhiệm về lợi nhuận và rủi ro Do đó, an toàn trong các khoản vay trở thành yếu tố không thể thiếu đối với các ngân hàng này.
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp vẫn còn ảnh hưởng của tư duy bao cấp và hạn chế trong nhận thức về kinh tế thị trường Điều này khiến cho hoạt động kinh doanh của họ đối mặt với nhiều rủi ro Để nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng không chỉ cần cung cấp vốn mà còn phải hiểu rõ lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Việc này giúp ngân hàng mở rộng các dịch vụ như tư vấn, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro không đáng có.
Mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu thiết yếu cho mỗi ngân hàng, không chỉ giúp ngân hàng duy trì hoạt động mà còn thúc đẩy sự phát triển Nếu ngân hàng không đạt được mục tiêu này, họ sẽ tự đẩy mình đến bờ vực tự hủy diệt.
Khách hàng của ngân hàng được chia thành hai loại: người gửi tiền và người vay tiền Người gửi tiền quan tâm đến khả năng thanh toán của ngân hàng, mà khả năng này lại phụ thuộc vào chất lượng các khoản tín dụng Do đó, việc nâng cao chất lượng tín dụng là rất cần thiết để bảo vệ khoản tiền gửi của họ Trong khi đó, người vay tiền trực tiếp sử dụng các khoản vốn vay và đánh giá chất lượng tín dụng dựa trên sự hài lòng của họ với khoản vay Họ cần khoản tín dụng đó mang lại lợi nhuận để trang trải chi phí và có lãi, vì vậy vấn đề chất lượng tín dụng cũng trở nên quan trọng và cần được cải thiện liên tục.
Chất lượng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ kinh tế toàn xã hội, vì mỗi đồng vốn ngân hàng cho vay ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng và phát triển kinh tế Khi người vay sử dụng vốn hiệu quả, không chỉ ngân hàng mà cả xã hội đều được hưởng lợi, góp phần phát triển các công trình phúc lợi Ngược lại, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến suy thoái kinh tế nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến toàn bộ xã hội Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là mối quan tâm chung của toàn xã hội.
Tín dụng ngân hàng, đặc biệt là từ các ngân hàng thương mại Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng và thực hiện quy luật lưu thông tiền tệ Qua việc cung cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng không chỉ tăng cường khối lượng tiền lưu thông mà còn dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn một cách hiệu quả Điều này giúp tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Do đó, sự hỗ trợ từ ngân hàng thông qua các dịch vụ tín dụng là cần thiết để DNNVV ra đời, tồn tại và phát triển, phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường hỗ trợ phát triển DNNVV trong thời kỳ đổi mới.
1.3.2.1 Phát triển tín dụng đối với DNNVV góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Các ngân hàng thương mại chủ yếu kiếm lợi nhuận từ hoạt động cho vay trong lĩnh vực tiền tệ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, vì vậy, việc ngân hàng khai thác hiệu quả nguồn thu từ việc cung cấp vốn cho DNNVV sẽ giúp tăng cường lợi nhuận.
1.3.2.2 DNNVV góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự cạnh tranh khốc liệt với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cần thực hiện đổi mới toàn diện, đặc biệt trong hoạt động tín dụng, chiếm 70% - 80% tổng tài sản có sinh lời Hiện tại, chất lượng tín dụng của NHTM Việt Nam còn yếu kém, với tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu cao, đặc biệt ở các NHTM nhà nước, nơi chủ yếu cho vay doanh nghiệp nhà nước - một phần kinh tế hoạt động không hiệu quả Để giảm thiểu rủi ro, các NHTM cần chuyển đổi cơ cấu danh mục cho vay, mở rộng cho vay cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và kinh tế tư nhân, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và phát triển bền vững.
1.3.2.3 DNNVV làm phong phú thêm thị trường của các ngân hàng
Dù quy mô hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) không lớn, nhưng với số lượng đông đảo, họ trở thành khách hàng mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng Thị trường tài chính Việt Nam đang phát triển thuận lợi, đặc biệt là thị trường chứng khoán, dù còn nhiều biến động, nhưng vẫn có tiềm năng phát triển tốt Điều này dự báo rằng trong tương lai, các doanh nghiệp lớn sẽ ưu tiên huy động vốn qua thị trường chứng khoán thay vì kênh tín dụng ngân hàng do chi phí thấp hơn và thủ tục đơn giản hơn Hơn nữa, các doanh nghiệp lớn cũng có xu hướng thành lập công ty tài chính hoặc ngân hàng riêng để đáp ứng nhu cầu vốn của họ Do đó, các ngân hàng không chỉ phải đối mặt với việc nguồn vốn huy động bị “chảy” sang thị trường chứng khoán mà còn phải đối diện với nguy cơ thu hẹp hoạt động tín dụng Điều này thúc đẩy các ngân hàng thương mại (NHTM) tìm kiếm thị trường ngách, trong đó DNNVV và khu vực kinh tế tư nhân là những thị trường đầy tiềm năng.
1.3.2.4 Phát triển tín dụng đối với DNNVV là cần thiết đối với sự ổn định trong hoạt động của ngân hàng
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH NAM ĐỒNG NAI
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA AGRIBANK – CHI NHÁNH NAM ĐỒNG NAI
CHI NHÁNH NAM ĐỒNG NAI
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn ảnh hưởng đến hoạt động của Agribank – Chi nhánh Nam Đồng Nai
Năm 2019, kinh tế - xã hội diễn ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và vấn đề địa chính trị, làm gia tăng tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu Sự biến động trên thị trường tài chính - tiền tệ và giá dầu phức tạp đã ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng và tâm lý thị trường Trong nước, mặc dù có những thuận lợi từ kết quả tích cực năm 2018 và kinh tế vĩ mô ổn định, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như thời tiết ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, dịch tả lợn châu Phi trong ngành chăn nuôi, và sự chậm lại trong tăng trưởng một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cùng với việc giải ngân vốn đầu tư công không đạt kế hoạch.
Năm 2019 được xác định là năm "bứt phá" nhằm thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 Với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP vào ngày 01/01/2019, nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch này.
Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP đã đề ra những nhiệm vụ quan trọng nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn 2019-2021 Ngày 01/4/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg, tập trung vào các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2019.
Tỉnh Đồng Nai tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng với GRDP tăng 9,05% và chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 8,7% Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản cũng tăng 2,7%, trong khi thu nhập bình quân đầu người đạt 112 triệu đồng Thu ngân sách đạt 54.431 tỷ đồng, hoàn thành 100% dự toán, và chi ngân sách đạt 22.509 tỷ đồng, vượt 109% dự toán Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 173,6 ngàn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 19,7 tỷ USD, tăng 7,1%, trong khi kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16,5 tỷ USD, tăng 2,1% Năm 2019, Đồng Nai ghi nhận xuất siêu khoảng 3,2 tỷ USD và huy động vốn đầu tư phát triển đạt 91.335 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ.
Năm 2019, tỉnh Đồng Nai ghi nhận 3.850 doanh nghiệp mới đăng ký, tăng 9,4% so với cùng kỳ, nâng tổng số doanh nghiệp lên khoảng 38.000 với tổng vốn đăng ký đạt trên 264.000 tỷ đồng Mặc dù các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn, thị trường bất động sản có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa ổn định, tình hình kinh tế - xã hội vẫn phát triển ổn định với các ngành công nghiệp tái cơ cấu, nông nghiệp và chương trình nông thôn mới được chú trọng, dịch vụ du lịch phát triển, và xuất khẩu tăng cao Những yếu tố này đã cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy hoạt động ngân hàng.
Tỉnh Đồng Nai hiện có 42 ngân hàng, 56 chi nhánh và 219 phòng giao dịch, cùng với 35 quỹ tín dụng nhân dân và 4 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô CEP Hệ thống ngân hàng tại đây đã thực hiện hiệu quả công tác thanh toán, đặc biệt là việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu tiền mặt cũng như các loại tiền tệ phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Năm 2019, chi nhánh Agribank bắt đầu thực hiện Nghị quyết của HĐTV về việc sắp xếp lại mạng lưới hoạt động, bao gồm 03 chi nhánh loại II tại Long Thành, Nhơn Trạch và Cẩm Mỹ Hiện tại, mạng lưới hoạt động của chi nhánh đã được mở rộng với Hội sở Trung tâm, 02 chi nhánh loại II (Cẩm Mỹ, Nhơn Trạch) và 09 phòng giao dịch.
Tình hình kinh tế - xã hội nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank Chi nhánh Nam Đồng Nai.
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) được thành lập theo Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/03/1988 Trong suốt 32 năm phát triển, Agribank đã khẳng định vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng Ngân hàng luôn đồng hành cùng sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, góp phần tích cực vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Agribank Chi nhánh Nam Đồng Nai được thành lập và hoạt động từ ngày 01/7/2018, theo Nghị quyết của HĐTV Agribank về việc sắp xếp lại mạng lưới hoạt động Chi nhánh được hình thành trên cơ sở 03 Chi nhánh loại II (Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ) và có tên đầy đủ là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Nam Đồng Nai Hiện tại, mạng lưới hoạt động của Chi nhánh bao gồm Hội sở Trung tâm và 02 chi nhánh loại khác.
Chi nhánh II tại Cẩm Mỹ, Nhơn Trạch và 09 phòng giao dịch đều có đội ngũ cán bộ công nhân viên với trình độ chuyên môn từ đại học trở lên và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác Chi nhánh hoạt động theo hình thức hạch toán phụ thuộc và chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, với 100% vốn điều lệ được cấp từ ngân hàng này.
Agribank - Chi nhánh Nam Đồng Nai đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ, khẳng định vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu tại địa phương và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực.
2.1.3 Mô hình tổ chức – nhân sự
Agribank - Chi nhánh Nam Đồng Nai có một Hội sở trung tâm với 04 phòng ban chuyên môn, bao gồm phòng Khách hàng doanh nghiệp (KHKD), phòng Kinh doanh ngân hàng (KTNQ), phòng Tổng hợp và phòng Kiểm tra, kiểm soát nội bộ (KTKSNB).
Trong những ngày đầu thành lập, các chi nhánh cấp II gặp khó khăn về cơ sở vật chất và sản phẩm huy động còn đơn điệu Tuy nhiên, với thời kỳ đổi mới, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, đặc biệt là các Chi nhánh Nam Đồng Nai, đã không ngừng mở rộng hoạt động và đa dạng hóa sản phẩm Điều này đã giúp tạo dựng niềm tin vững chắc từ khách hàng, thu hút nhiều khách hàng thường xuyên đến giao dịch.
Chi nhánh ngân hàng thương mại luôn ưu tiên hoạt động an toàn và hiệu quả cao, nhằm đảm bảo thu hồi vốn vay đúng cam kết, từ đó xây dựng uy tín và niềm tin với khách hàng Ngân hàng áp dụng các biện pháp cụ thể phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, giúp củng cố vị thế và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của ngành ngân hàng.
2.1.4 Họat động kinh doanh của NHNo & PTNT Việt Nam - Chi nhánh Nam Đồng
Năm 2018, Chi nhánh NHNo & PTNT Việt Nam đã tập trung vào công tác huy động vốn, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu để đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu thanh khoản và duy trì hoạt động kinh doanh ổn định, có lãi Đơn vị thường xuyên theo dõi tình hình thị trường tiền tệ - ngân hàng trong nước, đặc biệt tại địa phương, để kịp thời cập nhật sự thay đổi lãi suất.
Bảng 2.1 Huy động vốn của Agribank - Chi nhánh Nam Đồng Nai Đơn vị tính : tỷ đồng
3 Vốn ng/tệ quy đổi 61 83 64 22 36,3 -19 -23
Nguồn: Báo cáo năm 2017- 2019 của Agribank - Chi nhánh Nam Đồng Nai[3]
Qua số liệu bảng 2.1 ta thấy, tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2018 thực hiện đạt 7.174 tỷ đồng, tăng 182 tỷ đồng (+3%) so với năm 2017, cụ thể nhƣ sau:
THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH NAM ĐỒNG NAI
2.2.1 Tình hình dƣ nợ cho vay DNN&V tại Agribank - Chi nhánh Nam Đồng Nai
Theo bảng 2.4, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) trong giai đoạn 2017 – 2019 có sự gia tăng rõ rệt Cụ thể, năm 2017 đạt 1,923 tỷ đồng, năm 2018 tăng lên 2,257 tỷ đồng và năm 2019 đạt 2,359 tỷ đồng Mức tăng từ năm 2017 sang 2018 là 1.144 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 17,4%.
2019 tăng so với 2018 là 102 tỷ, tăng 5%.
Bảng 2.4: Tình hình cho vay DNN&V 2017 – 2019 tại Agribank – Nam Đồng Nai Đơn vị: tỷ đồng
Dƣ nợ khách hàng cá nhân 942 1.196 1.227 524 27 31 2,5
Dƣ nợ DNN&V/tổng dƣ nợ 30,1% 52% 43% - +22 - -9
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
Về doanh số cho vay: năm 2017 đạt 2.373 tỷ đồng; năm 2018 đạt 2.765 tỷ đồng và năm
Năm 2019, doanh số cho vay của Chi nhánh đã tăng lên 3.107 tỷ, cho thấy mức tăng trưởng đáng kể Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng này là do nhu cầu đầu tư cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn này gia tăng.
Về tỷ trọng dƣ nợ cho vay DNN&V, khách hàng của Chi nhánh là cá nhân và DNN&V.
Tỷ trọng dư nợ của khách hàng cá nhân và DNN&V là tương đương.
2.2.2 Cơ cấu dƣ nợ cho vay đối với DNN&V theo kỳ hạn
Bảng 2.5: Cơ cấu dƣ nợ đối với DNN&V theo kỳ hạn Đơn vị: tỷ đồng, %
Dƣ nợ Tỷ lệ Dƣ nợ Tỷ lệ Dƣ nợ Tỷ lệ
Trong đó:- Dƣ nợ ngắn hạn: 1,154 60 1,399 62 1,533 65
Dƣ nợ trung, dài hạn: 769 40 858 38 826 35
Nguồn: Báo cáo hoạt động của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
Dữ liệu từ bảng 2.5 cho thấy rằng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) đang có xu hướng tăng, chiếm tỷ trọng cao hơn so với dư nợ trung dài hạn Cụ thể, dư nợ ngắn hạn đã tăng từ 1,154 tỷ đồng năm 2017 lên 1,533 tỷ đồng năm 2019, với tỷ trọng tương ứng là 60%, 62% và 65% Ngược lại, dư nợ trung dài hạn giảm nhẹ, từ 769 tỷ đồng năm 2017 xuống còn 826 tỷ đồng năm 2019, với tỷ trọng giảm từ 40% xuống 35%.
2.2.3 Về tăng trưởng dư nợ và doanh số cho vay DNN&V
Từ số liệu năm 2017 đến 2019, tốc độ tăng trưởng dư nợ của Agribank – Chi nhánh Đồng Nai đã có sự biến động rõ rệt Cụ thể, năm 2018 tăng 17,4% so với năm 2017, nhưng sang năm 2019 chỉ còn 4,5% so với năm trước Để cải thiện tình hình này, chi nhánh cần chủ động tiếp cận các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời mạnh dạn đầu tư vào những doanh nghiệp có hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm thu hút nhiều khách hàng đến vay vốn Tuy nhiên, việc dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đang có xu hướng giảm là một vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng trong chiến lược phát triển cho vay của chi nhánh.
Bảng 2.6 Tăng trưởng dư nợ và doanh số cho vay DNN&V Đơn vị: tỷ đồng, %
So sánh với năm trước
Thực hiện Tỷ lệ Mức +- %+- Mức +_ %+-
Nguồn: Báo cáo hoạt động của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
Doanh số cho vay đã tăng lên so với năm trước, nhưng tỷ lệ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, từ 16,5% năm 2018 xuống còn 12,4% năm 2019 Điều này cho thấy sự tăng trưởng trong cho vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chậm lại, mặc dù nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng cao Vì vậy, các ngân hàng cần xây dựng kế hoạch để thúc đẩy tăng trưởng doanh số cho vay, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp và tăng doanh thu cho ngân hàng.
2.2.4 Hệ số sử dụng vốn vay của DNN&V
Số liệu bảng 2.9 dưới đây cho thấy, năm 2016, hệ số sử dụng vốn vay là 42,3%, năm
Từ năm 2017, hệ số sử dụng vốn vay giảm xuống còn 41,2% và tiếp tục giảm xuống 40,3% vào năm 2018, cho thấy hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh còn rất hạn chế Mặc dù ngân hàng huy động được nhiều vốn, nhưng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp lại rất cấp thiết, dẫn đến tình trạng dư thừa vốn tại ngân hàng Việc chuyển vốn lên trụ sở chính gây khó khăn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp, khi ngân hàng phải chịu chi phí lớn mà không thể tăng cường tín dụng chất lượng Doanh nghiệp cần vốn để đầu tư nhưng không được vay, khiến hoạt động sản xuất kinh doanh ngừng trệ, gây tổn thất cho bản thân doanh nghiệp và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Bảng 2.7: Hệ số sử dụng vốn vay của DNN&V tại Agribank – Nam Đồng Nai Đơn vị: tỷ đồng
Dƣ nợ cho vay DNN&V 1,923 2,257 2,359
Hệ số sử dụng vốn vay của DNN&V (%) 28 35 27,3
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
Chi nhánh cần áp dụng các biện pháp để nâng cao hệ số sử dụng vốn vay, bao gồm việc tăng trưởng dư nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) Một cách tiêu cực có thể là giảm lượng vốn huy động thông qua việc hạ lãi suất Tìm kiếm giải pháp phát triển tín dụng cho khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ mang lại lợi ích cho chi nhánh mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung.
NH, cho DN mà còn cả nền kinh tế
2.2.5 Hệ số thu nợ các DNN&V
Hệ số thu nợ của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai cho thấy sự biến động qua các năm: 95,5% vào năm 2017, tăng lên 97,1% vào năm 2018, sau đó giảm xuống 88,2% vào năm 2019 Giai đoạn này chứng kiến sự tăng trưởng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết hợp với điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, dẫn đến doanh số thu nợ của ngân hàng đạt kết quả khả quan trong ba năm liên tiếp.
Bảng 2.8: Hệ số thu nợ cho vay DNN&V tại Agribank – Nam Đồng Nai Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
2.2.6 Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cho vay DNN&V
Bảng 2.9: Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu cho vay DNN&V tại Agribank – Nam Đồng Nai Đơn vị: tỷ đồng
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 0,78%x 0,48% 0,38%
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
Nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng tín dụng, phản ánh sự không lành mạnh của khoản vay và tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng Những khoản nợ này không chỉ kéo dài thời gian tín dụng mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính và kinh doanh của ngân hàng, có thể dẫn đến nguy cơ mất vốn và khả năng thanh toán, thậm chí gây ra tình trạng phá sản Tuy nhiên, nợ quá hạn không phải là tiêu chuẩn cứng nhắc để đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng Tình hình nợ quá hạn tại Chi nhánh Nam Đồng Nai đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện qua bảng 2.9.
Nhìn vào bảng 2.9 ta thấy nợ quá hạn đối với DNN&V qua các năm nhƣ sau: năm 2017:
Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) đã có xu hướng giảm trong những năm gần đây, cụ thể là 15 tỷ đồng, chiếm 0,78% vào năm 2020, so với 11 tỷ đồng (0,48%) năm 2018 và 9 tỷ đồng (0,38%) năm 2019 Những con số này cho thấy việc cho vay và mở rộng tín dụng đối với DNN&V là đáng tin cậy, khả quan và an toàn.
Trong những năm qua, Chi nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp hiệu quả để giảm nợ quá hạn, với tỷ lệ giảm từ 0,78% năm 2017 xuống 0,48% năm 2018 và chỉ còn 0,38% năm 2019 Thành tích này phản ánh nỗ lực trong công tác tín dụng của Chi nhánh, bao gồm việc chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp thông qua việc giảm lãi suất cho vay tùy thuộc vào thời gian và mức xếp hạng tín dụng Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn được cải thiện nhờ vào sự cố gắng của đội ngũ cán bộ trong việc thẩm định khách hàng, giám sát quản lý vốn vay, và phân tích các phương án dự án sản xuất kinh doanh, từ đó giảm thiểu rủi ro không trả nợ và nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
Tình hình nợ xấu đối với DNN&V tại Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai trong những năm 2017 đến 2019 giảm đáng kể.
Tỷ lệ nợ xấu của DNN&V tại Chi nhánh luôn duy trì ở mức thấp, chỉ 0,62% vào năm 2017, giảm xuống 0,39% năm 2018 và 0,25% năm 2019 Điều này chứng tỏ Chi nhánh đã nỗ lực cải thiện chất lượng tín dụng và tích cực thu hồi nợ xấu, nhằm tập trung phát triển tín dụng cho các khách hàng an toàn hơn.
Chất lượng cho vay tại Agribank được cải thiện nhờ vào việc áp dụng thành công hệ thống xếp hạng nội bộ trên toàn hệ thống Hệ thống này giúp phân loại khách hàng và từ đó xây dựng chính sách phù hợp cho từng đối tượng, nâng cao hiệu quả phục vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một nguyên nhân quan trọng khác là ngân hàng đã sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, nhằm làm sạch bảng cân đối kế toán.
2.2.7 Tỷ lệ cho vay có TSĐB
Theo bảng số liệu 2.10, tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa có tài sản đảm bảo luôn duy trì ở mức cao, cho thấy Chi nhánh rất thận trọng trong việc cho vay Đặc biệt, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn được chú trọng Cụ thể, năm 2017 tỷ lệ này đạt 98%, năm 2018 là 99% và năm 2019 giảm nhẹ xuống 98,5%.
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay DNN&V theo phương thức đảm bảo tại Agribank – Nam Đồng Nai Đơn vị: tỷ đồng
Dƣ nợ Tỷ lệ Dƣ nợ Tỷ lệ Dƣ nợ Tỷ lệ
Dƣ nợ cho vay DNNVV 1,923 100 2,257 100 2,359 100
Dƣ nợ không có TSĐB 39 2 23 1 36 1,5
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai[3]
ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DNN&V CỦA AGRIBANK –
Trong những năm qua, Chi nhánh Agribank – Chi nhánh Nam Đồng Nai đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động tín dụng nhờ vào các biện pháp điều hành chiến lược, năng động và hiệu quả của Ban lãnh đạo, cùng với sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Đặc biệt, tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) cũng ghi nhận sự phát triển tích cực.
+ Dƣ nợ và doanh số cho vay DNN&V gia tặng trong giai đoạn 2017 - 2019, hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt mức tăng trưởng cao (17,4% năm 2018; 4,5% năm
Năm 2019, Chi nhánh đã kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Điều này thể hiện nỗ lực của Chi nhánh trong việc phát triển tín dụng đối với DNN&V, đa dạng hóa cơ cấu khách hàng và giảm rủi ro trong danh mục tín dụng Chính sách khách hàng linh hoạt và hợp lý đã giúp Chi nhánh duy trì khách hàng truyền thống đồng thời thu hút nhiều khách hàng mới.
Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể trong tỷ trọng tín dụng ngắn hạn, từ 60% năm 2017 lên 65% năm 2019 Các khoản cho vay ngắn hạn không chỉ có chất lượng ổn định mà còn tăng trưởng mạnh mẽ so với cho vay trung và dài hạn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động và thu nhập từ cho vay của chi nhánh Điều này cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của chi nhánh ngày càng tốt hơn, đồng thời khả năng tiếp cận vốn ngắn hạn của doanh nghiệp cũng gia tăng, phản ánh năng lực tài chính và khả năng lập dự án, phương án vay vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng chất lượng, khả thi và thuyết phục hơn trong mắt các ngân hàng.
Thu nhập từ hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) đã tăng lên, chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập cho vay của các Chi nhánh Điều này cho thấy khả năng sinh lời từ các khoản cho vay cho DNN&V có xu hướng gia tăng và ổn định Nhờ đó, hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đã mang lại hiệu quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của chi nhánh trong tương lai.
Chất lượng cho vay tại Agribank – Chi nhánh Nam Đồng Nai đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa được kiểm soát tốt, với tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu rất thấp Điều này cho thấy Chi nhánh đã áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ trong việc cấp tín dụng và nâng cao năng lực thẩm định cho vay, từ đó lựa chọn các doanh nghiệp uy tín và các phương án vay vốn hiệu quả Kết quả là nợ quá hạn giảm đáng kể, nâng cao chất lượng và hiệu quả tín dụng của Chi nhánh.
Hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) giúp chi nhánh ngân hàng mở rộng thị phần, phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại, và nâng cao uy tín cũng như khả năng cạnh tranh Ngân hàng cam kết đa dạng hóa các thành phần kinh tế và đối xử công bằng với tất cả khách hàng, đặc biệt là các DNN&V chủ yếu nằm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Đây là nhóm khách hàng đông đảo, năng động và có tiềm năng nhưng thiếu vốn Cung cấp tín dụng cho họ nhằm khuyến khích thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả là mục tiêu hàng đầu của ngân hàng Đồng thời, ngân hàng cần tăng cường quản lý tín dụng, khắc phục tình trạng gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn nợ để giảm nợ quá hạn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNN&V.
Gia tăng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo điều kiện cho Chi nhánh nâng cao trình độ và khả năng tiếp cận khách hàng của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng.
Trong năm qua, Chi nhánh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và thực hiện đầy đủ các văn bản chỉ đạo của Agribank, giúp duy trì hoạt động hiệu quả của Tổ thu hồi nợ xấu Giám đốc Chi nhánh giữ vai trò tổ trưởng, cùng với lãnh đạo phòng kế hoạch - kinh doanh và các cán bộ tín dụng có nợ xấu cao tham gia vào quá trình này.
Định kỳ, Tổ thu hồi nợ tổ chức họp để phân tích thực trạng và nguyên nhân phát sinh nợ xấu, đánh giá kết quả thực hiện và xây dựng phương án thu hồi nợ xấu, nợ xử lý rủi ro, nợ lãi tồn đọng và nợ tiềm ẩn rủi ro Mục tiêu là thu hồi và hạn chế nợ xấu, đồng thời xử lý nợ bán cho VAMC và nợ lãi tồn đọng Kết quả phân tích và các giải pháp được tổng hợp bằng văn bản, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ liên quan để thực hiện hiệu quả.
Để đảm bảo mở rộng và tăng trưởng tín dụng hiệu quả, an toàn, cần tập trung vào việc tìm kiếm và lựa chọn khách hàng phù hợp Đặc biệt, chú trọng phát triển khách hàng là pháp nhân và cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chúng tôi quyết liệt thu hồi các khoản nợ tiềm ẩn và nợ xấu bằng cách áp dụng các biện pháp phù hợp với từng đối tượng khách hàng Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi sẽ khởi kiện để thu hồi nợ ngay khi khách hàng vi phạm hợp đồng, bao gồm cả vi phạm lãi suất theo phân kỳ.
Nhờ vậy nợ xấu của Chi nhánh đến 31/12/2019 chỉ chiếm tỷ lệ 0,25% tổng dƣ nợ.
Nợ nhóm 2 cũng ở mức thấp chiếm tỷ lệ 0,38 % trên tổng dƣ nợ.
Năm 2018, chi nhánh đã xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan tòa án và thi hành án nhằm xử lý nhanh chóng các khoản nợ tồn đọng Công tác thu hồi nợ qua khởi kiện đã đạt kết quả tích cực, trong đó chi nhánh đã phối hợp thành công với cơ quan thi hành án để cưỡng chế và bàn giao hai tài sản cho bên trúng đấu giá Hiện tại, chi nhánh đang chờ cơ quan thi hành án hoàn tất thủ tục chuyển tiền để thu hồi nợ.
Chi nhánh đã chủ động thực hiện các chủ trương và nhiệm vụ của NHNN, UBND tỉnh Đồng Nai và Agribank, nhằm xây dựng phương hướng và mục tiêu kinh doanh phù hợp Đồng thời, chi nhánh cũng triển khai hiệu quả các văn bản và quy định liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Để vượt qua những khó khăn và thử thách, Chi nhánh Agribank Nam Đồng Nai đã nhận thức rõ ràng về tình hình thực tế và đề ra các giải pháp hiệu quả Trong quá trình thực hiện, Chi nhánh liên tục điều chỉnh chỉ tiêu và giải pháp để khắc phục những tồn tại Đồng thời, Chi nhánh chủ động bám sát các chủ trương của Agribank và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, từ đó xây dựng mục tiêu và giải pháp kinh doanh phù hợp Đặc biệt, tổ chức hội nghị người lao động năm 2019 đã tạo ra sự đồng thuận trong toàn thể cán bộ, viên chức trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ kinh doanh.
Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện phương án kinh doanh năm 2019 tại các chi nhánh đã giúp thống nhất mục tiêu nhiệm vụ kinh doanh Qua đó, các giải pháp phù hợp được xác lập và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, mang lại hiệu quả cao Đồng thời, việc xây dựng và giao kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tài chính hàng quý cho các chi nhánh, phòng giao dịch và từng CBVC cũng được thực hiện kịp thời, giúp chủ động trong việc thực hiện kế hoạch kinh doanh.