1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM

121 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Tại Việt Nam
Tác giả Lê Đức Duy
Người hướng dẫn ThS. Võ Thị Ngọc Hà
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 790,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tínhcấpthiếtvàlý do chọnđềtài (13)
  • 1.2. Mụctiêunghiêncứu (13)
  • 1.3. Câuhỏinghiêncứu (13)
  • 1.4. Đốitƣợngvàphạmvinghiêncứu (14)
  • 1.5. Phươngphápvànộidungnghiêncứu (14)
  • 1.6. Đónggóp củađềtài (15)
  • 1.7. Bốcụcbàinghiêncứu (15)
  • 2.1. Cơsởlýthuyết (17)
    • 2.1.1. Ngânhàngthươngmại (17)
    • 2.1.2. Quanniệmvềhiệu quả hoạtđộng củangânhàng (17)
    • 2.1.3. Cácmôhìnhđánhgiáhiệuquảhoạtđộngcủacácngânhàngthươngmại 6 2.1.4. Lýthuyếtvềcácnhântốảnhhưởngđếnlợinhuậnngânhàng (18)
  • 2.2. Tổngquannghiêncứutrướcđây (28)
    • 2.2.1. Cácnghiêncứutrongnước (28)
    • 2.2.2. Cácnghiêncứunướcngoài (30)
  • 3.1. Phươngphápthuthậpdữliệu (33)
  • 3.2. Môhìnhnghiêncứu (33)
    • 3.2.1. Môhìnhnghiêncứu (33)
    • 3.2.2. Môtảbiếnvàthangđo (34)
    • 3.2.3. Giảthuyếtnghiêncứu (35)
  • 3.3. Phươngpháp xử lýsốliệu (50)
  • 3.4. Lýthuyếtmôhình (50)
    • 3.4.1. PoolOriginalLeastSquare(POLS) (50)
    • 3.4.2. RandomEffectModel(REM) (53)
    • 3.4.3. FixedEffectModel(FEM) (58)
    • 3.4.4. Matrậntrọngsố (60)
    • 3.4.5. Matrậnhiệpphương sai (62)
    • 3.4.6. Kiểmđịnhsự phùhợpcủamôhình (63)
  • CHƯƠNG 4:KẾT QUẢNGHIÊNCỨU VÀTHẢOLUẬN (66)
    • 4.1. Thốngkêbiếnvàkếtquảkiểmđịnh (66)
      • 4.1.1. Thốngkêbiến (66)
      • 4.1.2. Kiểmđịnh mốiquanhệtươngquancủabiến (68)
      • 4.1.3. Kiểmđịnhđacộngtuyến (68)
    • 4.2. KếtquảướclượngvàkiểmđịnhmôhìnhhồiquyROE (69)
      • 4.2.1. Kếtquảướclượng (69)
      • 4.2.2. Lựachọnmôhình (70)
      • 4.2.3. Kiểmđịnhviphạmcácgiảđịnhcủamôhình (72)
    • 4.3. KếtquảướclượngvàkiểmđịnhmôhìnhhồiquyROA (74)
      • 4.3.2 Lựachọnmôhình (76)
      • 4.3.3 Kiểmđịnhkhuyếttậtvàmô hìnhkhắcphục (76)
    • 4.4 Thảoluậnkếtquảcủamôhình (78)
    • 5.1. Kếtluận (81)
    • 5.2 Hạnchếcủakhóaluận (81)
    • 5.3. Hướngnghiêncứutiếptheo (83)
      • 5.3.1. Cảithiệnướclượngphươngsai (83)
      • 5.3.2. Mô hìnhREbetween-within (84)
    • 5.4. ĐềxuấtnhằmnângcaohiệuquảhoạtđộngcủacácngânhàngthươngmạiViệtN (85)
  • am 67 5.4.1. Đối vớicác nhàquảnlýcấpcaocủangânhàng (0)
    • 5.4.2 Đối vớicác nhàquảnlý,cácnhàlàmchínhsách (85)

Nội dung

NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT N[.]

Tínhcấpthiếtvàlý do chọnđềtài

Ngành ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy các tổ chức ngân hàng luôn tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường tính cạnh tranh và vị thế, nhằm cung cấp dòng vốn rẻ và hiệu quả cho khách hàng có nhu cầu vay vốn Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng thương mại, nhưng các bằng chứng thực nghiệm lại không đồng nhất về các yếu tố này cũng như chiều hướng tác động của chúng Thêm vào đó, các nghiên cứu được thực hiện ở từng quốc gia khác nhau với các giai đoạn kinh tế khác nhau, dẫn đến việc áp dụng kết quả từ các quốc gia đó chưa chính xác Do đó, tác giả đã chọn đề tài này để tìm hiểu rõ các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng được đánh giá qua tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên doanh thu (ROE) Nghiên cứu này nhằm củng cố độ tin cậy của các nghiên cứu trước đó bằng cách phân tích trong khoảng thời gian dài nhất và với nhiều đối tượng quan sát Đồng thời, đề tài cũng sử dụng tập hợp các nhân tố đã được nghiên cứu trước đây để tìm kiếm những yếu tố phù hợp ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam.

Mụctiêunghiêncứu

Thứ nhất,mục tiêu cuối cùng của đề tài nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệuquảhoạtđộngngânhàng

Câuhỏinghiêncứu

Thứ nhất,theo phạm vi của nghiên cứu thì mô hình nào phù hợp để xem xét cácnhântốảnhhưởngđến lợinhuậnngânhàng.

Thứ hai,các lý luận cơ sở về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại.

Thứba,cácýnghĩa từkếtquảmô hìnhnghiên cứu.

Đốitƣợngvàphạmvinghiêncứu

Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, tập trung vào lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HSX), sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn chứng khoán UpCom, bao gồm 24 ngân hàng thương mại cổ phần Phạm vi nghiên cứu kéo dài từ năm 2007 đến 2019, thời kỳ mà nhiều ngân hàng thương mại được cổ phần hóa và cấp phép bởi chính phủ, cho phép phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngành ngân hàng.

Phươngphápvànộidungnghiêncứu

Khóa luận áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu, sử dụng ma trận hệ số tương quan và phân tích hồi quy Kết quả thực nghiệm từ mô hình sẽ là cơ sở để chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết, đảm bảo tính phù hợp của mô hình Các mô hình nghiên cứu được xây dựng với các biến độc lập và biến phụ thuộc, sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng, cùng với dữ liệu vĩ mô từ Tổng cục thống kê Ngoài ra, khóa luận còn áp dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, suy luận và mô tả để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Phương pháp định lượng bao gồm nhiều bước quan trọng.

Bướcba,tácgiảthốngkêmôtảchungvềcácbiến,kiểmtramứcđộtươngquan,kiểm tramứcđộđacộngtuyếncủacácbiến.

Bước bốn,khóa luận sẽ chạy 3 mô hình nếu các điều kiện thỏa mãn: Pools

OriginalLeast Squares (mô hình bình phương tối thiểu), Fixed Effect Method (mô hình tácđộngcốđịnh),RandomEffectMethod(mô hìnhtácđộngngẫunhiên).

Đónggóp củađềtài

Khóa luận này tập trung vào lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng và đề xuất các tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động Đồng thời, bài viết cũng kết hợp với các lý thuyết của các mô hình hồi quy định lượng để làm rõ hơn các vấn đề nêu trên.

Năm 2019, việc có được bộ dữ liệu lớn hơn đã góp phần làm tăng độ tin cậy của nghiên cứu Điều này rất quan trọng trong bất kỳ nghiên cứu định lượng nào, vì bộ dữ liệu càng lớn thì độ chính xác càng cao, đồng thời giảm thiểu độ chệch và cải thiện tính đúng đắn của các dự đoán.

Đề tài nghiên cứu sử dụng các nhân tố phổ quát để đánh giá tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2009-2010 Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của biến giả trong thời kỳ khó khăn này đến lợi nhuận của các ngân hàng.

❏Đềt à iđ ƣ a r a c á c hạ n c hếc ủ a m ô h ì n h q u a đ ó mở r a c á c h ƣ ớ n g n g h i ên c ứ u t iếptheo

Bốcụcbàinghiêncứu

Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu;Đốitượngvà phạmvi nghiêncứu;Phươngphápvànộidungnghiên cứu;Đónggópcủađề tài.

Bài viết trình bày các lý thuyết liên quan đến khóa luận cùng với kết quả từ những nghiên cứu trước đó Những thông tin này tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.

Chương này trình bày cách lựa chọn nguồn dữ liệu, lựa chọn và mô tả các biếnsửdụngtrongmôhìnhhồiquy.

Khóa luận sẽ thực hiện phân tích thống kê mô tả và phân tích mối quan hệ giữa các biến Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ tiến hành phân tích hồi quy để xác định tác động của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc.

Chương này sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu ra những hạn chế của mô hìnhvàsauđóđưaracácphươngphápđể cảithiện

Cơsởlýthuyết

Ngânhàngthươngmại

TheoLuậtcáctổchứctíndụng2010,NHTMlàloạihìnhngânhàngđƣợcphépkinhdoanh tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác vì mục đích lợi nhuận.TheođóhoạtđộngcủacácNHTMViệtNamgồmbanghiệpvụchính.

Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hoạt động huy động vốn bằng cách thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ nhiều thành phần kinh tế thông qua các hình thức như tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu Ngoài ra, NHTM còn có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng (TCTD) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để tăng cường nguồn vốn Qua đó, ngân hàng có đủ vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh, cho vay và đầu tư.

Hoạt động sử dụng vốn là nguồn tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, bao gồm các hình thức như cho vay cá nhân và doanh nghiệp, đầu tư chứng khoán, và đầu tư vào công ty con, công ty liên kết Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, tín dụng đóng góp phần lớn vào thu nhập của ngân hàng.

Hoạt động trung gian: Đây là hoạt động nhằm mở rộngq u y m ô , l ĩ n h v ự c h o ạ t động với mục đích tối đa hóa lợi nhuận ngân hàng Các hoạt động bao gồm:

Hoạt độngthanhtoántrongnướcvàquốctế, bảolãnh,quảnlýtàis ả n , tƣvấnd o a n h n g h i ệ p , ….

Quanniệmvềhiệu quả hoạtđộng củangânhàng

Lợi nhuận của ngân hàng được xác định tương tự như một doanh nghiệp, tức là chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Tổng thu nhập chủ yếu từ hoạt động sử dụng vốn, trong khi tổng chi phí bao gồm chi phí huy động vốn, tiền lương và dự phòng rủi ro Tuy nhiên, các ngân hàng có sự khác biệt về cách sử dụng vốn, chi phí và quy mô hoạt động Để đánh giá hiệu quả lợi nhuận, hai lý thuyết phổ biến được áp dụng là lý thuyết cấu trúc hiệu quả và lý thuyết sức mạnh thị trường (Jeon và Miller, 2005).

Lý thuyết cấu trúc hiệu quả bao gồm hai giả thuyết chính: giả thuyết hiệu suất X và giả thuyết hiệu suất quy mô Giả thuyết hiệu suất X cho rằng các ngân hàng quản lý và thực hành tốt sẽ tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận Trong khi đó, giả thuyết hiệu suất quy mô cho rằng một số ngân hàng có quy mô hoạt động tốt hơn, dẫn đến chi phí thấp hơn Chi phí thấp hơn sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn và thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng cho các ngân hàng hoạt động hiệu quả về quy mô.

Lý thuyết sức mạnh thị trường bao gồm hai giả thuyết chính: giả thuyết hiệu quả cấu trúc truyền thống và quản lý, và giả thuyết sức mạnh thị trường tương đối Giả thuyết đầu tiên cho rằng sự tập trung thị trường dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn và lãi suất huy động thấp hơn do giảm cạnh tranh, từ đó gia tăng lợi nhuận Ngược lại, giả thuyết sức mạnh thị trường tương đối nhấn mạnh vai trò của các ngân hàng lớn với một số "nhận dạng thương hiệu" trong việc định hình thị trường tài chính.

Sự nổi bật trong nghiên cứu có thể tác động đến giá cả và gia tăng lợi nhuận Hai giả thuyết chính tập trung vào việc áp dụng lý thuyết để chứng minh cho một thị trường chung hoặc riêng biệt cho từng ngân hàng trong cùng một thị trường.

Cácmôhìnhđánhgiáhiệuquảhoạtđộngcủacácngânhàngthươngmại 6 2.1.4 Lýthuyếtvềcácnhântốảnhhưởngđếnlợinhuậnngânhàng

Phương pháp này cho phép đánh giá chỉ số hiệu quả tương đối của ngân hàng dựa trên đường biên hoạt động hiệu quả trung bình của ngành Hiện tại, có hai cách tiếp cận phổ biến là mô hình DEA phi tham số và mô hình SFA tham số.

Mô hình DEA (Phân tích bao dữ liệu) xây dựng đồ thị giới hạn sản xuất biên trung bình của ngành dựa trên thông tin đầu vào, bao gồm yếu tố hiệu quả trên quy mô và áp dụng phương trình tối ưu tuyến tính phi tham số để đo lường hiệu quả tương đối giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành Ngân hàng đạt đến điểm giới hạn biên sẽ được coi là hoạt động hiệu quả, trong khi ngân hàng không đạt đến điểm này sẽ được xem là không hiệu quả so với trung bình ngành Dữ liệu đầu vào của DEA có thể là biến định tính, cho phép phương pháp này áp dụng trong các lĩnh vực như y tế và giáo dục, đồng thời không yêu cầu phân phối đối với biến phí hiệu quả và sai số ngẫu nhiên, giúp dễ dàng xác định mức độ hiệu quả của ngành, đặc biệt là trong các ngành phức tạp như ngân hàng Hơn nữa, DEA cũng là mô hình so sánh mức độ hiệu quả của các doanh nghiệp cùng ngành với các quan sát thực, cho phép áp dụng cho các mẫu nghiên cứu nhỏ và đánh giá sâu hơn từ các khu vực như thành phố hoặc các phòng ban của công ty.

Mô hình SFA (Stochastic Frontier Analysis) xây dựng hàm biên sản xuất và xác định sai số ngẫu nhiên, bao gồm hai phần: sai số không quan sát được thuộc phân phối chuẩn và sai số đại diện cho yếu tố phi hiệu quả thuộc phân phối bán chuẩn Điều này khác với mô hình DEA, không yêu cầu hàm cụ thể và không có sai số ngẫu nhiên, dẫn đến khả năng so sánh hiệu quả giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra Tuy nhiên, mô hình DEA không thể hiện tác động của sai số đối với mức độ hiệu quả, trong khi mô hình SFA có khả năng cải thiện điều này thông qua việc xác định rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra.

Mô hình hồi quy dữ liệu bảng kết hợp dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu có dạng chéo, dựa trên một số giả định về hệ số hồi quy tự do, hệ số chặn, hệ số hồi quy riêng phần và các sai số ngẫu nhiên Phương pháp ước lượng này nhằm đánh giá tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc một cách chính xác.

Mô hình POLS (Pooled Ordinary Least Square) giả định rằng không có sự thay đổi theo thời gian và giữa các đơn vị chéo của các hệ số chặn, đồng thời sai số ngẫu nhiên đại diện cho sự khác biệt theo thời gian và từng đơn vị chéo Hạn chế của mô hình này là không xem xét các đặc điểm riêng biệt của hoạt động ngân hàng, dẫn đến việc các tham số ước lượng giống nhau Điều này có thể làm giảm hiệu quả và tính nhất quán của kết quả, vì không có hai ngân hàng nào hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, POLS là phương pháp dễ sử dụng và là nền tảng cho nhiều vấn đề kinh tế định lượng, và nếu dữ liệu bảng đủ lớn và ngẫu nhiên, có thể khắc phục một số vấn đề của mô hình này.

Mô hình FEM (Mô hình tác động cố định) giả định rằng hệ số hồi quy giữa các đơn vị là giống nhau, nhưng có các hệ số chặn khác nhau Mô hình này cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chung không quan sát được, có đặc điểm riêng cho từng ngân hàng mà không thay đổi theo thời gian Hạn chế của mô hình là giả định rằng các nhân tố cụ thể tác động giống nhau đến tất cả ngân hàng, dẫn đến tốc độ tăng trưởng đồng nhất Tuy nhiên, so với mô hình POLS, FEM đã cải tiến khả năng đo lường tác động của các yếu tố không quan sát lên hiệu quả hoạt động ngân hàng Việc áp dụng mô hình này cho các loại hình ngân hàng khác nhau có thể nâng cao hiệu quả phân tích.

Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) được phát triển từ mô hình tác động cố định (FEM) với hệ số chặn khác nhau cho từng đơn vị chéo và các hệ số hồi quy không thay đổi theo thời gian Điểm khác biệt chính của REM là hệ số chặn được cấu thành từ hai phần: một phần không thay đổi theo thời gian và đơn vị chéo, và phần còn lại là sai số ngẫu nhiên theo từng đơn vị và theo thời gian REM giả định không có sự tương quan giữa biến độc lập và hệ số chặn, điều này giúp loại bỏ vấn đề biến nội sinh, từ đó cải thiện độ chính xác của mô hình trong nghiên cứu kinh tế Với một mẫu ngân hàng lớn và các đặc điểm chung, mô hình REM sẽ rất hiệu quả trong việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động.

Quy mô tài sản là tổng tài sản trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại, bao gồm tiền gửi tại các tổ chức tài chính, khoản vay, đầu tư, chứng khoán, tiền mặt và các tài sản khác Theo Jan Schildbach và các cộng sự (2017), tổng tài sản chỉ là một thước đo danh nghĩa và không phản ánh đầy đủ sự khác biệt giữa các mô hình kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính khác Do đó, chỉ tiêu tổng tài sản đôi khi không đủ để thể hiện chính xác quy mô của ngân hàng.

Ngân hàng thương mại truyền thống thường cho khách hàng vay từ 50-70% tổng tài sản, dẫn đến gia tăng lợi nhuận Việc tăng tổng tài sản không chỉ thúc đẩy lợi nhuận mà còn giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đa dạng hóa sản phẩm tài chính và mở rộng kinh doanh Theo Master (2010), với tổng tài sản lớn, ngân hàng có thể phân bổ chi phí hiệu quả hơn, từ đó giảm chi phí bình quân Nhờ vào rủi ro thấp, các ngân hàng và tổ chức tài chính khác sẽ sẵn lòng cho vay với lãi suất thấp hơn, giúp ngân hàng giảm chi phí vốn.

Theo Kristin Regehr (2016), không có mối quan hệ nhân quả giữa việc gia tăng tổng tài sản và hiệu quả hoạt động kinh doanh Một ngân hàng có lợi nhuận cao có thể sở hữu tổng tài sản lớn, nhưng việc mở rộng quy mô không nhất thiết làm tăng hiệu quả hoạt động, đặc biệt khi các yếu tố khác không thay đổi Tăng trưởng tổng tài sản quá nhanh mà không có khả năng quản trị và chiến lược thích ứng có thể dẫn đến lãng phí nguồn vốn Quy mô lớn của ngân hàng cũng làm gia tăng các khoản đầu tư và phái sinh, từ đó làm tăng rủi ro thị trường và gây khó khăn trong việc định giá tài sản Áp lực sử dụng vốn hợp lý trở thành thách thức lớn đối với ngân hàng quy mô lớn, khi mà đồng vốn không chỉ cần tối đa hóa lợi nhuận mà còn phải duy trì thanh khoản và dự trữ an toàn Hơn nữa, chi phí quản lý và hoạt động cao có thể làm giảm lợi nhuận, do đó, việc gia tăng tổng tài sản mà không có quản lý và chiến lược hợp lý có thể đi ngược lại với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là nguồn vốn tự có bao gồm vốn ngân hàng được cấp, đóng góp của cổ đông, quỹ trích lập và lợi nhuận giữ lại Đây là nguồn vốn quan trọng và dài hạn, ít phụ thuộc vào cấu trúc hệ thống tài chính, mang tính độc lập cao hơn so với tổng tài sản Vốn chủ sở hữu cũng là chỉ tiêu hữu ích để đánh giá quy mô ngân hàng mà không phân biệt cấu trúc giữa các ngân hàng và tổ chức phi tài chính Hơn nữa, khác với tổng tài sản phụ thuộc vào tài sản rủi ro và vấn đề định giá, vốn chủ sở hữu gần như loại bỏ những yếu tố này, trở thành nguồn vốn dài hạn tốt nhất cho ngân hàng trong mọi tình huống kinh tế.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là một chỉ số quan trọng không chỉ phản ánh quy mô của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến các đòn bẩy tài chính khác Cấu trúc vốn của ngân hàng được phân tích trong các lý thuyết của Modigliani & Miller, đặc biệt là lý thuyết đánh đổi của Myers (1995).

Lý thuyết tín hiệu của Leland và Pyle (1977) đã được nhắc đến trong bối cảnh nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn, nhưng vẫn chưa có một lý thuyết chung nào áp dụng cho tất cả các tổ chức tài chính (Myers, 2003) Điều này dẫn đến nhiều quan điểm trái chiều về việc tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, với những ý kiến cho rằng đây là một chiến lược tích cực hay tiêu cực Admati cũng có những quan điểm đáng chú ý trong vấn đề này.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao giúp ngân hàng giảm chi phí huy động và đối mặt với rủi ro thấp hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động Thakor (2014) cũng nhấn mạnh rằng ngân hàng có vốn chủ sở hữu cao sẽ gia tăng tín dụng và thanh khoản, cải thiện hoạt động kinh doanh Ngược lại, ngân hàng với tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp dễ gặp rủi ro hệ thống cao hơn; tuy nhiên, việc tham gia hỗ trợ từ chính phủ có thể dẫn đến việc bán nợ cho chính phủ qua các công cụ tài chính, gây ra khủng hoảng nợ công.

Tác giả đề xuất rằng các tổ chức tài chính nên duy trì vốn chủ sở hữu lớn Tuy nhiên, Berger và Patti (2006) đã chỉ ra rằng chi phí đại diện vẫn có thể áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng Chi phí đại diện phát sinh khi có sự không đồng nhất giữa quyền lợi của cổ đông và quyền lợi của nhà quản lý do thiếu thông tin nội bộ cho các cổ đông bên ngoài Do đó, cấu trúc vốn thấp hoặc đòn bẩy tài chính cao có thể buộc các nhà quản lý thực hiện các hành động có lợi cho cổ đông, điều này cũng đồng nghĩa với lợi ích của chính họ (Jensen và Meckling, 1976) Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng, ngay cả khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp.

Tổngquannghiêncứutrướcđây

Cácnghiêncứutrongnước

Võ Minh Long (2019) đã nghiên cứu 20 ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2008-2017 bằng mô hình FEM và kết luận rằng bốn yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng qua hệ số ROE Thứ nhất, quy mô ngân hàng không có cùng xu hướng với ROE ở mức độ tin cậy 90%, mặc dù trái với kỳ vọng của tác giả, nhưng được một số nghiên cứu khác đồng thuận Thứ hai, tỷ lệ chi phí trên doanh thu càng thấp thì hiệu quả hoạt động càng cao Thứ ba, tỷ lệ vốn huy động trên dư nợ tín dụng có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động ngân hàng ở mức độ tin cậy 99%, cho thấy ngân hàng huy động nhiều vốn sẽ cho vay nhiều hơn, từ đó nâng cao lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản Cuối cùng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ảnh hưởng ngược chiều với ROE ở mức độ tin cậy 99%, cho thấy ngân hàng sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các khoản nợ cao, dẫn đến chất lượng nợ không đảm bảo và tăng dự phòng rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến lợi nhuận Tác giả cũng đề cập đến nợ xấu của ngân hàng, mặc dù có tác động ngược chiều nhưng độ tin cậy không cao, nên không đưa ra kết luận về mối quan hệ này.

Nghiên cứu của Phạm Thu Trang (2016) về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2006-2013 cho thấy rằng quy mô tài sản có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (ROA), do sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng mới thành lập Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có mối quan hệ thuận với ROA, cho phép ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn và giảm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản cũng ảnh hưởng tích cực đến ROA nhưng ở mức độ thấp, cho thấy các ngân hàng thương mại chỉ đối mặt với ít rủi ro khi gia tăng lợi nhuận Tình trạng sở hữu ngân hàng có tác động ngược chiều đến lợi nhuận, với các ngân hàng tư nhân thường có ROA cao hơn so với ngân hàng thuộc sở hữu chính phủ Cuối cùng, tốc độ tăng trưởng GDP có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, điều này được giải thích bởi khủng hoảng kinh tế 2009-2010 và sự không thống nhất trong phân loại nợ xấu sau năm 2011.

Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2018) đã thực hiện một nghiên cứu tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, với tổng số quan sát là 254 từ 26 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017 Nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy đa biến để hạn chế sai số và sử dụng ba tiêu chí ROA, ROE, NIM để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng Đặc biệt, tác giả đã sử dụng mô hình GMM, một phương pháp phù hợp cho các trường hợp có nhiều cá thể quan sát nhưng ít mốc thời gian, giúp tối ưu hóa việc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Biến nội sinh thường xuất hiện trong các mô hình kinh tế lượng và có thể dẫn đến thiên lệch nếu không sử dụng các ước lượng vững Tác giả kết luận rằng quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, vốn ngân hàng và rủi ro thanh khoản đều có tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng khi đo lường bằng ROA và ROE Ngược lại, cho vay, thu nhập ngoài lãi, tăng trưởng kinh tế và lạm phát lại có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận này Đối với biến NIM, quy mô ngân hàng và vốn chủ sở hữu có tác động tích cực, trong khi thu nhập ngoài lãi lại tác động tiêu cực đến NIM.

Cácnghiêncứunướcngoài

Ash Demirguc-Kunt và Harry Huizinga (1999) đã phân tích 7,900 ngân hàng thương mại tại 80 quốc gia trong giai đoạn 1988-1995, cho thấy sự khác biệt về tỷ suất lợi nhuận và khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, quy luật thuế và quy định bảo hiểm tiền gửi Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tài sản ngân hàng trên GDP cao và tỷ lệ tập trung thị trường thấp dẫn đến biên lợi nhuận và lợi nhuận tốt hơn, đồng thời kiểm soát sự khác biệt trong hoạt động ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài thường có tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngân hàng trong nước ở các nước đang phát triển, ngược lại ở các nước phát triển Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy gánh nặng thuế doanh nghiệp được chuyển hoàn toàn cho khách hàng ngân hàng, trong khi yêu cầu dự trữ cao hơn thì không, đặc biệt là tại các nước đang phát triển.

Kosmidou và các cộng sự (2005) đã tiến hành nghiên cứu 32 ngân hàng ở Anh từ năm 1995 đến 2002 bằng mô hình FEM và đưa ra một số kết luận quan trọng Thứ nhất, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản là yếu tố quyết định chính đến lợi nhuận của các ngân hàng, cho thấy rằng ngân hàng có vốn hóa tốt sẽ đối mặt với chi phí tài trợ bên ngoài thấp hơn, từ đó giảm chi phí và tăng lợi nhuận Thứ hai, tỷ lệ chi phí trên thu nhập và quy mô ngân hàng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận Cuối cùng, tác động của thanh khoản đến hoạt động ngân hàng không rõ ràng và phụ thuộc vào các thước đo khả năng sinh lời Ngoài ra, các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP và lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của ngân hàng, cùng với sự tập trung trong ngành và sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Nghiên cứu từ năm 2002 đến 2010 cho thấy quy mô tài sản và thu nhập ngoài lãi có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng, trong khi quy mô danh mục tín dụng lại tác động tiêu cực đến lợi nhuận Chỉ số lãi suất thực tế mới có tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng, trong khi tăng trưởng GDP thực và lạm phát không có ảnh hưởng đáng kể Kết quả cho thấy các ngân hàng có thể cải thiện lợi nhuận bằng cách tăng quy mô tài sản và thu nhập ngoài lãi, đồng thời giảm tỷ lệ tín dụng so với tài sản Lãi suất thực tế cao cũng có thể dẫn đến lợi nhuận ngân hàng cao hơn.

Evrim Turgutlu (2014)đã phân tích động lực quyết định đến lợi nhuận của ngânhàng

Bài viết phân tích lợi nhuận ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ thông qua hai giả thuyết: giả thuyết lợi nhuận và giả thuyết về môi trường cạnh tranh, sử dụng mô hình bảng động SGMM Các yếu tố như quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý, sự lành mạnh tài chính, cạnh tranh thị trường, chính sách tiền tệ và tự do kinh tế được xem xét Kết quả cho thấy lợi nhuận ngân hàng có tính bền vững cao, với các yếu tố như quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, tổng dư nợ, hiệu quả quản lý và cấu trúc tài chính tốt có tác động tích cực đến lợi nhuận khi xem xét mô hình ROE Trong khi đó, mô hình ROA chỉ cho thấy các yếu tố hiệu quả quản lý, nợ phải trả ngoại bảng, cấu trúc tài chính tốt và tăng trưởng kinh tế là có ý nghĩa.

Phươngphápthuthậpdữliệu

Dữ liệu trong bài viết được lấy từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán, nhằm đảm bảo độ chính xác cho các ngân hàng trên sàn chứng khoán HSX và HNX, cũng như các ngân hàng khác từ trang web finance.stock.vn và data.masvn.com Nghiên cứu này phân tích bảng cân đối kế toán và kết quả kinh doanh của 24 ngân hàng, dựa trên tổng số quan sát cho từng đơn vị là 312 trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2019 Các chỉ tiêu cụ thể được xem xét bao gồm tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, cho vay khách hàng, thu nhập thuần, tổng chi phí hoạt động, tổng thu nhập hoạt động, chi phí dự phòng rủi ro và lợi nhuận sau thuế.

Ngoài ra, dữ liệu về tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát được lấy từ Tổng cục Thống kê Dữ liệu thu được ở dạng thô chưa qua xử lý, và để thuận tiện cho việc tính toán khóa luận, đơn vị tính sẽ được chuyển đổi thành triệu đồng thay vì đồng, sử dụng phần mềm Eviews để xử lý.

Môhìnhnghiêncứu

Môhìnhnghiêncứu

Khóa luận này sẽ phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu ROE (Return on Equity) và ROA (Return on Assets), dựa trên lý thuyết và các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước Bên cạnh đó, các biến tác động khác cũng sẽ được đề cập trong mô hình nghiên cứu.

●  k làhệsố hồi quyriêng thứk củanhântốtácđộng X it thứk với k=1, 2,3,

Tại các thời điểm k = 1,2,…,8, các biến quan trọng được xem xét bao gồm quy mô tài sản Xit, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, biến dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, đa dạng hóa thu nhập, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát tại ngân hàng i trong năm t.

Khóa luận sẽ sử dụng dữ liệu bảng với 9 biến độc lập, bao gồm cả biến giả, và áp dụng ba mô hình định lượng: POLS, REM, và FEM Sau đó, nghiên cứu sẽ thực hiện các kiểm định để đánh giá mức độ phù hợp của các mô hình, từ đó lựa chọn mô hình tối ưu nhất cho phân tích.

Môtảbiếnvàthangđo

Khóa luận đã xác định 9 biến ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bao gồm 8 biến độc lập và 1 biến giả, cùng với 2 biến đo lường hiệu quả hoạt động Dưới đây là cách xác định từng biến theo thứ tự, bao gồm 10 biến giải thích và 2 biến phụ thuộc.

● Quy mô ngân hàng (ký hiệu là Size) là biến giải thích đƣợc lấy từ bảng cân đốivàđƣợctínhbằnglogarittổngtài sảnngânhàng.

● Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn( k ý h i ệ u l à E q ) l à b i ế n g i ả i t h í c h đƣợc lấy từ hai thành phần của bảng cân đối kế toán trong mục nguồn vốn vàđƣợctínhbằngtổng vốnchủsởhữu chiachotổngnguồnvốn.

Dự phòng rủi ro tín dụng (DDRR) là một chỉ số quan trọng trong bảng cân đối kế toán, thể hiện khả năng tài chính của ngân hàng trong việc đối phó với những khoản vay không thu hồi được Chỉ số này được tính toán bằng cách chia dự phòng rủi ro cho vay khách hàng cho tổng nợ gốc của khách hàng, từ đó giúp đánh giá mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang phải đối mặt.

DDRR=Chiphídựphòngrủiro tíndụng/Nợ gốccủakháchhàng* 100

● Tỷ lệ chi phí hoạt động (ký hiệu là CIR) là biến giải thích đƣợc lấy từ hai thànhphần của bảng kết quảkinh doanh của ngânh à n g v à đ ƣ ợ c t í n h b ằ n g t ổ n g c h i phíhoạtđộngchiachotổngthunhậpcủangânhàng.

Đa dạng hóa thu nhập (ký hiệu HHIDR) là một biến giải thích quan trọng, được tính toán từ các thành phần trong bảng kết quả kinh doanh của ngân hàng Biến này được xác định bằng tổng bình phương của thu nhập ngoài lãi và bình phương thu nhập thuận, sau đó chia cho tổng thu nhập bình phương.

HHIDR=(thunhậpngoàilãi/tổngthunhập) 2 +(thunhậpthuần/tổngthunhập) 2

Tăng trưởng tín dụng (TTTD) là chỉ số quan trọng trong bảng cân đối kế toán, được tính bằng cách chia tổng số cho vay khách hàng hiện tại trong năm t cho tổng số cho vay khách hàng của năm trước (năm t-1).

Tăng trưởng GDP (GGDP) là chỉ số quan trọng được lấy từ Tổng cục Thống kê, thể hiện sự thay đổi trong tổng sản lượng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia trong một năm Chỉ số này được tính bằng cách so sánh tổng sản lượng GDP của năm hiện tại với tổng sản lượng của năm trước đó và trừ đi 1.

Lạm phát, được ký hiệu là CPI, là một chỉ số quan trọng phản ánh sự thay đổi giá cả theo thời gian Chỉ số này được tính toán dựa trên dữ liệu từ Tổng cục Thống kê, bằng cách lấy chỉ số giá tiêu dùng của năm hiện tại chia cho chỉ số giá tiêu dùng của năm trước và sau đó trừ đi 1.

● Biến giả khủng hoảng năm 2009-2010 (ký hiệu là Crisis) là biến giải thích đạidiện cho khủng hoảng kinh tế toàn cầu Tại năm 2009,2010 sử dụng 1 nhƣ giátrịđạidiệnchonămkhủnghoảngvà0chocácnămcònlại.

Giảthuyếtnghiêncứu

Từ lý thuyết về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng đƣợc trìnhbàyởchươnghai,khóaluậnsẽđưaragiảđịnhvềsựảnhhưởngcủa10biếnnhântốđếnhoạtđộngk inhdoanhcủangânhàng.

● H1: Quy mô ngân hàng (Size) tác động cùng chiểu đến hiệu quả hoạt động củangânhàng.

Trong giai đoạn 2007-2019, quy mô ngành ngân hàng Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, với tổng tài sản của 24 ngân hàng khảo sát tăng hơn 6 lần so với năm 2007 Ngân hàng Sài Gòn (SCB) đã thay thế ngân hàng Á Châu (ACB) để trở thành ngân hàng tư nhân lớn nhất, trong khi bốn vị trí còn lại thuộc về các ngân hàng thương mại nhà nước như BIDV, VCB, CTG và AGR Tỷ trọng tổng tài sản của các ngân hàng thương mại nhà nước giảm từ hơn 67% vào năm 2007 xuống gần 56% vào cuối năm 2019, mặc dù hiệu quả hoạt động của họ vẫn cao hơn so với ngân hàng tư nhân, thể hiện qua chỉ số ROE Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của toàn ngành ngân hàng có xu hướng giảm trong giai đoạn này, đặc biệt từ 2007-2015, trước khi phục hồi nhẹ từ 2016-2019 Việc mở rộng quy mô ngân hàng thương mại tại Việt Nam có tác động tương đối đến hiệu quả hoạt động, nhưng quản lý một khối tài sản lớn luôn gặp khó khăn Từ năm 2016, các ngân hàng đã cải thiện hiệu quả nhờ vào chiến lược quản lý tài sản tốt hơn và cải cách khung pháp lý từ nhà nước Kết luận, quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng.

ROE BQ ROA BQ Size BQ

ROE BQ ROA BQ Eq BQ Đồthị3.1: Sosánhgiữahiệuquảvàquymôngânhàngbìnhquân

● H2: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (Eq) tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động củangânhàng.

Trong giai đoạn 2007-2019, tổng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt hơn 6,2 lần so với cuối năm 2007 Vốn chủ sở hữu của ngân hàng nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn ngân hàng, mặc dù tỷ trọng này đã giảm từ gần 53% vào năm 2007 xuống còn gần 46% vào năm 2018, và hiện tại đạt 47,4% Điều này cho thấy xu hướng giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2019.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân của các ngân hàng đã có sự biến động qua các năm, đạt đỉnh cao nhất vào năm 2008 với gần 14.2% và thấp nhất vào năm 2017 với chỉ 7.7% Hiện tại, tỷ lệ này đang ở mức 8% Đồ thị 3.2 dưới đây minh họa sự so sánh giữa hiệu quả hoạt động và tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân của tất cả các ngân hàng trong các năm qua.

Xu hướng chuyển động của ba chỉ số trong giai đoạn 2010-2015 cho thấy tác động tích cực của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việt Nam Điều này chứng tỏ rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao giúp ngân hàng cải thiện đòn bẩy tài chính, hỗ trợ thanh khoản và giảm rủi ro nợ xấu Đồng thời, không có mâu thuẫn lợi ích đáng kể giữa cổ đông và nhà quản lý trong giai đoạn này Thakor (2014) cũng đồng tình với quan điểm này và nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ thị trường ngân hàng khi rủi ro hệ thống xảy ra, như trường hợp thành lập Công ty Quản lý tài sản (VAMC) vào năm 2013 để xử lý nợ xấu Đến năm 2015, chính phủ đã nới lỏng các quy định liên quan đến mua nợ và định giá tài sản, nhằm hỗ trợ ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng.

Vấn đề nợ xấu đang dần được giải quyết, giúp ngân hàng cải thiện tình hình vốn bằng cách giảm bớt việc trích lập dự phòng, từ đó gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng.

● H3: Dự phòng rủi ro tín dụng (DPRR) tác động ngƣợc chiều đến hiệu quả hoạtđộngngânhàng.

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam đã tăng 5.66 lần từ năm 2007 đến cuối năm 2019, trong khi dư nợ gốc cho vay khách hàng tăng trưởng hơn 7.21 lần Ngân hàng thương mại nhà nước vẫn chiếm phần lớn trong sự tăng trưởng này, nhưng xu hướng đang giảm dần Lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng trong cùng thời gian tăng trưởng 6.35 lần, cho thấy tác động trực tiếp của chi phí dự phòng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Giai đoạn 2007-2011 cho thấy sự di chuyển ngược chiều trong tăng trưởng của ba chỉ số, với chi phí dự phòng rủi ro tăng nhanh do tăng trưởng tín dụng mở rộng Đến cuối năm 2011, chi phí dự phòng đã tăng gấp hai lần so với năm 2007, trong khi lợi nhuận sau thuế tăng gấp 2.6 lần, góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng.

2015,cácchỉsốhiệuquảvẫnhướngdichuyểnngượcchiềuvớitỷ lệ dự phòng rủi ro Các chỉ số hiệu quả ROE,

ROA bình quân giảm do các vấn đề liên quan đến nợ xấu và tăng trưởng tín dụng giảm so với giai đoạn trước, dẫn đến lợi nhuận sau thuế chỉ tăng khoảng 18,34% từ năm 2012 đến 2015 Sự giảm tín dụng cũng kéo theo chi phí dự phòng rủi ro giảm, tuy nhiên, tổng chi phí dự phòng tín dụng của các ngân hàng vẫn luôn cao hơn lợi nhuận sau thuế, cho thấy tác động nặng nề của nợ xấu từ những năm trước Giai đoạn 2016-2019 đánh dấu sự phục hồi, đặc biệt là lợi nhuận sau thuế của ngân hàng tăng trưởng hơn 33% vào cuối năm 2019 so với năm trước.

2015 là hơn 2.1 lần Trong cùng thời gian, tỷ lệ dự phòng cho thấy sự suy giảmsovớigiaiđoạntrước(1.22%bìnhquâncủa2016-2019sovới1.27%bìnhquâncủa2012-

Từ năm 2015, mặc dù tăng trưởng tín dụng vẫn ổn định, nhưng đã có sự suy giảm đều qua các năm, cho thấy dấu hiệu lo ngại trong ngành ngân hàng Tất cả các ngân hàng trong nghiên cứu đều là ngân hàng thương mại, với thu nhập từ lãi vay chiếm tỷ trọng lớn Việc gia tăng chi phí này được kỳ vọng sẽ cải thiện và ổn định lợi nhuận của ngân hàng, theo nghiên cứu của Greenawalt và Sinkey (1988) Tuy nhiên, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việt Nam.

ROE BQ ROA BQ DPRR BQ Đồthị3.3: Sosánhgiữahiệuquảvàdựphòng rủirongân hàngbình quân

Tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR) là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng CIR thấp cho thấy ngân hàng hoạt động hiệu quả, trong khi tỷ lệ cao ngược lại Trong giai đoạn 2007-2019, tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng Việt Nam rất biến động, cho thấy tác động ngược chiều với tình hình kinh doanh Từ 2007-2011, chỉ số CIR bình quân của các ngân hàng dao động khoảng 41-52%, với năm 2007 đạt 34.32%, phản ánh hiệu quả kinh doanh cao với ROE và ROA lần lượt là 13.88% và 1.43% Ngân hàng Kỹ Thương (TCB) nổi bật với ROE 23.93%, ROA 1.9%, và CIR 31.49% Trong khi đó, Ngân hàng Ngoại Thương (VCB) có ROE 19.24%, ROA 1.29%, và CIR 34.74% Giai đoạn 2012-2015 chứng kiến sự gia tăng chi phí hoạt động nhưng hiệu quả kinh doanh giảm sút, với ROE và ROA bình quân chỉ đạt 6.89% và 0.64%, trong khi CIR bình quân lên tới 57.47%.

Trong giai đoạn gần đây, các ngân hàng tư nhân đã gặp khó khăn trong hoạt động, điển hình là ngân hàng Nam Việt (NVB) với chỉ số CIR cao nhất lên tới 89.23% Mặc dù vậy, hiệu quả hoạt động của ngân hàng này lại rất hạn chế, với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) chỉ đạt 0.27% và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) chỉ đạt 0.03% Bên cạnh đó, ngân hàng Hàng Hải (MSB) cũng ghi nhận các chỉ số ROE, ROA và CIR lần lượt là 2.13%, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện hiệu quả hoạt động trong bối cảnh hiện tại.

ROE BQ ROA BQ CIR BQ

Trong giai đoạn hiện tại, các ngân hàng thương mại nhà nước như Ngân hàng Ngoại Thương (VCB) và Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển (BIDV) đang hoạt động hiệu quả với chỉ số CIR lần lượt là 39.72% và 40.69%, cùng với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 13.98% Thời kỳ 2016-2019 chứng kiến sự hồi phục của ngành ngân hàng, với CIR bình quân giảm xuống 53.87% và ROE, ROA bình quân đạt 10.47% và 0.81% Các ngân hàng tư nhân như Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) và TCB cũng ghi nhận sự phát triển ấn tượng với chỉ số ROE lần lượt là 24.38% và 21.17% Tuy nhiên, một số ngân hàng như Nam Việt và Bản Việt (BVB) vẫn đang đối mặt với khó khăn trong hiệu quả hoạt động Nhìn chung, chỉ số CIR phản ánh rõ nét năng suất hoạt động của ngân hàng, cho thấy rằng việc tối thiểu hóa chi phí có thể mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngành.

Kinh tế Việt Nam bắt đầu hội nhập với kinh tế thế giới từ khi gia nhập WTO năm 2007, dẫn đến sự liên kết mạnh mẽ của hệ thống tài chính, đặc biệt là hệ thống ngân hàng với các nước phát triển Ngân hàng thương mại Việt Nam không chỉ hoạt động trong lĩnh vực cho vay và gửi tiết kiệm mà còn mở rộng sang các sản phẩm tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán, và đầu tư Từ 2007 đến 2019, thu nhập ngoài lãi của ngân hàng đã tăng 4.6 lần, nhưng vẫn kém so với mức tăng 7.1 lần của thu nhập thuần Ngân hàng tư nhân đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ với mức tăng gần 15 lần, trong khi ngân hàng thương mại nhà nước chỉ tăng khoảng 3.5 lần Sự chênh lệch về thu nhập ngoài lãi giữa hai khối ngân hàng này đã giảm dần, và đến cuối năm 2019, thu nhập ngoài lãi của hai khối đã gần bằng nhau Chỉ số HHIDR cho thấy mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, với giá trị 0.5 biểu thị sự cân bằng giữa thu nhập thuần và thu nhập ngoài lãi Trong giai đoạn 2007-2011, hiệu quả hoạt động của ngân hàng có xu hướng tăng lên, mặc dù vẫn tập trung vào thu nhập thuần.

Kết quả phân tích ROE, ROA và HHIDR trong các năm 2007 và 2009 cho thấy hiệu quả hoạt động và thu nhập ngoài lãi của ngân hàng có sự tương đồng, nhưng có sự khác biệt rõ rệt trong biểu đồ Giai đoạn 2012-2016 cho thấy sự giảm sút của ba chỉ số này, với mức độ đa dạng hóa thu nhập chỉ đạt 74.61% do tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp, dẫn đến giảm thu nhập thuần Tuy nhiên, giai đoạn 2017-2019 lại cho thấy sự đối lập giữa chỉ số HHIDR và ROE, ROA trung bình, cho thấy tăng trưởng thu nhập ngoài lãi đã có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Trong giai đoạn này, chỉ số HHIDR đạt 66.92% nhờ vào sự tăng trưởng của thu nhập thuần, trong khi thu nhập ngoài lãi tăng trưởng ấn tượng hơn với mức tăng trung bình 39.4%.

● H6: Tăng trưởng tín dụng (TTTD) tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt độngcủangân hàng.

Trong thị trường ngân hàng Việt Nam, hoạt động cho vay truyền thống đóng vai trò quan trọng trong doanh thu và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Tăng trưởng cho vay hàng năm được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh Từ năm 2007 đến 2019, tăng trưởng tín dụng ngân hàng biến động mạnh, đặc biệt là giai đoạn 2007-2011 với chỉ số ROE và ROA đạt mức cao nhất là 13.88% và 1.43% Trong giai đoạn này, các ngân hàng nhà nước như VCB có hiệu quả hoạt động tốt, trong khi một số ngân hàng tư nhân như NVB lại không đạt hiệu quả tương tự dù có tăng trưởng tín dụng cao Giai đoạn 2012-2015 chứng kiến sự ổn định hơn trong tăng trưởng tín dụng nhưng hiệu quả hoạt động lại giảm, với ROE và ROA bình quân chỉ đạt 6.89%.

Trong giai đoạn 2012-2015, các ngân hàng như BID, CTG và MBB vẫn duy trì hiệu quả hoạt động với chỉ số ROE cao, tuy nhiên một số ngân hàng như AGR lại có hiệu suất kém hơn với ROE và ROA chỉ đạt 5.8% và 0.32% Nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn trong ngành ngân hàng là sự tăng trưởng tín dụng nóng trước đó, dẫn đến nợ xấu gia tăng và rủi ro cho toàn hệ thống Trong giai đoạn này, các ngân hàng đã tập trung vào việc cơ cấu và xử lý nợ xấu, đồng thời giảm chi phí để bảo vệ lợi nhuận, với sự hỗ trợ quan trọng từ chính phủ trong việc mua nợ xấu và thắt chặt quản lý tín dụng Giai đoạn 2016-2019 chứng kiến sự hồi phục và phân hóa trong ngành, với các chỉ số ROE, ROA và tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình lần lượt đạt 10.47%, 0.81% và 19.10%.

Lýthuyếtmôhình

QUẢNGHIÊNCỨU VÀTHẢOLUẬN

5.4.1 Đối vớicác nhàquảnlýcấpcaocủangânhàng

Ngày đăng: 28/04/2022, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định REMRandom Effect ModelMô hình tác động ngẫu - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
ixed Effect Model Mô hình tác động cố định REMRandom Effect ModelMô hình tác động ngẫu (Trang 10)
Đại suy thoái hình thành vào năm 2008 từ thị trƣờng thế chấp dƣới chuẩn của Hoa Kỳ. Thị trƣờng bất động sản của Mỹ khi đó là một quả bong bóng phình nó và nó chỉ đợi một mắt xích liên kết bị vỡ là bong bóng sẽ bị nổ tung - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
i suy thoái hình thành vào năm 2008 từ thị trƣờng thế chấp dƣới chuẩn của Hoa Kỳ. Thị trƣờng bất động sản của Mỹ khi đó là một quả bong bóng phình nó và nó chỉ đợi một mắt xích liên kết bị vỡ là bong bóng sẽ bị nổ tung (Trang 50)
 đƣợc lấy từ mô hình POLS (3.1) - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
c lấy từ mô hình POLS (3.1) (Trang 55)
để  có dạng nhƣ  và đạt đƣợc tính hiệu quả thì mô hình cần thêm giả định phƣơng - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
c ó dạng nhƣ  và đạt đƣợc tính hiệu quả thì mô hình cần thêm giả định phƣơng (Trang 59)
Mô hình tác động ngẫu nhiên yêu cầu một dạng biến ngoại sinh vì để giới hạn tƣơng quan  chuỗi  của  phần  dƣ  tổng  hợp  do  sự  xuất  hiện  của  biến  tác  động  không  quan  sát - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
h ình tác động ngẫu nhiên yêu cầu một dạng biến ngoại sinh vì để giới hạn tƣơng quan chuỗi của phần dƣ tổng hợp do sự xuất hiện của biến tác động không quan sát (Trang 62)
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
Bảng 4.1 Thống kê mô tả biến (Trang 72)
Bảng 4.2: Ma trận tƣơng quan của biến - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
Bảng 4.2 Ma trận tƣơng quan của biến (Trang 74)
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến VariableCentered VIF - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến VariableCentered VIF (Trang 74)
Kết quả của bảng trên cho thấy mức độ đa cộng tuyến theo chỉ số VIF đều có giá trị nhỏ hơn 3 - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
t quả của bảng trên cho thấy mức độ đa cộng tuyến theo chỉ số VIF đều có giá trị nhỏ hơn 3 (Trang 75)
4.2.2. Lựa chọn mô hình - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
4.2.2. Lựa chọn mô hình (Trang 76)
Likelihood Ratio với mô hình dữ liệu bảng với H0 là không có sự thay đổi trong phƣơng sai của phần dƣ. - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
ikelihood Ratio với mô hình dữ liệu bảng với H0 là không có sự thay đổi trong phƣơng sai của phần dƣ (Trang 80)
4.3. Kết quả ƣớc lƣợng và kiểm định mô hình hồi quy ROA 4.3.1.  Kết quả ƣớc lƣợng - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
4.3. Kết quả ƣớc lƣợng và kiểm định mô hình hồi quy ROA 4.3.1. Kết quả ƣớc lƣợng (Trang 81)
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy ROA - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy ROA (Trang 81)
Theo bảng kết quả hồi quy 4.10, kết quả hồi quy theo POLS cho thấy có 3 biến độc lập bao gồm EQ, DPRR, CIR và hệ số hồi quy chung (không thay đổi theo thời gian và đơn vị chéo) thể hiện sự thay đổi của các biến này sẽ tác động đến biến phụ thuộc với mức - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
heo bảng kết quả hồi quy 4.10, kết quả hồi quy theo POLS cho thấy có 3 biến độc lập bao gồm EQ, DPRR, CIR và hệ số hồi quy chung (không thay đổi theo thời gian và đơn vị chéo) thể hiện sự thay đổi của các biến này sẽ tác động đến biến phụ thuộc với mức (Trang 82)
4.3.2 Lựa chọn mô hình - CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN TẠI VIỆT NAM
4.3.2 Lựa chọn mô hình (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w