BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN ĐỀ BÀI So sánh và phân tích các nội dung quản lý nhà nước về thư viện giữa Pháp lệnh số 31/2000(Pháp lệnh thư viện) và Luật số 46/201[.]
Trang 1BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN
ĐỀ BÀI:
So sánh và phân tích các nội dung quản lý nhà nước về thư viện giữa Pháp lệnh
số 31/2000(Pháp lệnh thư viện) và Luật số 46/2019/QH14(Luật thư viện)
BÀI LÀM
Pháp lệnh số 31/2000(Pháp lệnh thư viện) và Luật số 46/2019/QH14(Luật thư viện) hai văn bản này đều thể hiện được các nội dung cần thiết cho hoạt động và phát triển của ngành thư viện và là cơ sở pháp lý để thực hiện sự quản lý của Nhà nước và tổ chức hoạt động về thư viện
Khi pháp lệnh ra đời để khẳng định tầm quan trọng của thư viện trong đời sống xã hội.Và từng bước được khẳng định vị thế của mình với các nghành nghề khác trong xã hội
Các chương trong pháp lệnh và luật thư viện đều có các chương và các điều giông nhau
Luật Thư viện gồm 06 Chương, 52 Điều So với Pháp lệnh Thư viện năm
2000 có 7 chương 31 điều thì Luật Thư viện lần này đã quy định cụ thể, rõ nét chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp thư viện Nhà nước đầu tư cho thư viện công lập các nội dung sau: ưu tiên đầu tư cho Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện cấp tỉnh và thư viện có vai trò quan trọng; hiện đại hóa thư viện; xây dựng thư viện số, tài nguyên thông tin dùng chung, tài nguyên thông tin mở; liên thông thư viện trong nước và nước ngoài; sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu cổ, quý hiếm, các bộ sưu tập tài liệu có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học; tổ chức dịch vụ thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên thông tin phục vụ khu vực biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực thư viện; nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong hoạt động thư viện
Luật cũng quy định Nhà nước hỗ trợ đầu tư các nội dung sau: cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực thư viện, phát triển văn hóa đọc; duy trì
và phát triển thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng không
vì mục tiêu lợi nhuận; cước vận chuyển tài liệu thư viện phục vụ nhiệm vụ chính trị, khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc
Trang 2biệt khó khăn; hợp tác Quốc tế về thư viện Bên cạnh đó, Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
Quản lý nhà nước về thư viện, Luật quy đinh Bộ Văn hóa Thể thao và
Du lịch và một số bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ chuyên gia và nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thư viện Vì vậy, việc ra đời Luật Thư viện ở nước ta sẽ góp phần thay đổi nhận thức và tư duy (cho cả cán bộ thư viện và người quản lý thư viện) trước ngưỡng cửa cách mạng công nghệ 4.0 Đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi nhất để các thư viện Việt Nam tiến hành nhanh và mạnh mẽ, chuyển từ hoạt động thư viện truyền thống sang hiện đại, đáp ứng nhu cầu phong phú của người dân trong xã hội hiện đại, văn minh
Luật Thư viện ra đời không những tạo cơ sở pháp lý mà còn định hướng tầm nhìn xa hơn về thư viện trong giai đoạn mới Vấn đề này thể hiện trong những điểm mới và những quy định về hiện đại hoá thư viện, ứng dụng khoa học công nghệ, lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm, tạo lập môi trường thân thiện từ đó nâng cao năng lực để thư viện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, tích cực góp phần phát triển văn hóa đọc và tạo môi trường học tập suốt đời cho Nhân dân, xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Luật Thư viện ra đời lần này đã có những điểm mới Cần thiết cho sự phát triển thư viện ở Việt Nam
Thứ nhất, đó là bổ sung loại hình thư viện ngoài công lập Pháp lệnh Thư viện năm 2000 quy định hệ thống thư viện gồm 2 loại hình: Thư viện công cộng và Thư viện chuyên ngành, đa ngành Luật Thư viện 2019 đã quy định, thư viện được tổ chức theo 2 mô hình: Thư viện công lập (do Nhà nước đầu tư) và Thư viện ngoài công lập (do tổ chức hoặc cá nhân thành lập) Như vậy là bên cạnh các thư viện công lập do Nhà nước đầu tư, thì Điều 9 của Luật Thư viện đã quy định loại hình thư viện ngoài công lập (do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thành lập) Đây cũng là điểm mới rất quan trọng trong chính sách xã hội hóa thư viện của Luật thư viện, để thu hút mọi nguồn lực (tổ chức và cá nhân trong xã hội) tham gia
Xây dựng, phát triển sự nghiệp thư viện nước ta hiện nay
1.Thư viện quốc gia Việt Nam
2.Thư viện công cộng
3.Thư viện chuyên ngành
Trang 34.Thư viện lực lượng vũ trang
5.Thư viện đại học
6.Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và cơ sở giáo dục khác
7.Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân phục vụ cộng đồng
8.Thư viện của tổ chức,cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt nam Thứ hai, lấy ngày 21/4 là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam Lần đầu tiên, ngày 21/4 hằng năm được đưa vào Luật Thư viện, trở thành ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam (tại Điều 50), nhằm hình thành thói quen đọc trong gia đình, trường học, cơ quan, tổ chức trong phạm vi cả nước Qua đó thúc đẩy phát triển văn hóa đọc ở nước ta
Thứ ba, mở rộng đối tượng được thành lập thư viện Theo Pháp lệnh Thư viện năm 2000, chỉ có tổ chức của Việt Nam có quyền thành lập thư viện Các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam có quyền tham gia vào các hoạt động do thư viện tổ chức Luật Thư viện lần này đã mở rộng, xã hội hóa việc thành lập thư viện Theo đó, mọi tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư (kể cả người nước ngoài) đều có quyền thành lập thư viện ngoài công lập, khi đáp ứng
đủ các điều kiện do luật thư viện quy định
Thứ tư, xây dựng và cung cấp dịch vụ thư viện số Thư viện số giữ dưới dạng số, mà người sử dụng truy cập, khai thác thông qua thiết bị điện tử và không gian mạng Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số là chức năng, nhiệm vụ của tất cả các loại hình thư viện Việc phát triển tài nguyên thông tin số được dựa trên cơ sở thu thập tài liệu số hoặc sổ hóa tài liệu của thư viện Người sử dụng được cung cấp quyền truy cập trực tiếp tới tài nguyên thông tin số và các dạng khác hướng tới phục vụ cách mạng công nghiệp lần thứ 4, là một trong những điểm sáng của Luật Thư viện Đây cũng là tiêu chí để đánh giá tính cập nhật, hiện đại của Luật thư viện Từ đó nhằm hướng tới việc điều chỉnh những vấn đề mà ngành thư viện Việt Nam đã và đang phải giải quyết, nếu không muốn tụt lại phía sau so với khu vực thế giới
Thứ năm, đẩy mạnh liên thông giữa các thư viện Liên thông thư viện là một trong những điểm mới của Luật Thư viện, nhằm bảo đảm hoạt động thư viện theo hướng hiện đại, chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin giữa các thư viện Liên thông giữa các thư viện được Nhà nước đầu tư với các thư viện khác, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thư viện, khai thác hiệu quả nguồn
Trang 4lực đầu tư từ ngân sách nhà nước Điều 5 quy định trách nhiệm Nhà nước đầu tư cho hoạt động liên thông Khoản 4, Điều 24 quy định thực hiện liên thông là nguyên tắc hoạt động chung của cả thư viện công lập và thư viện ngoài công lập Chương III, luật quy định về xây dựng tài nguyên thông tin, phát triển thư viện
số làm cơ sở cho việc liên thông Điều 29 nhấn mạnh, tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách Nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện, thư viện được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong hoạt động liên thông
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện liên thông thư viện Khoản 5, Điều 46 Luật quy định trách nhiệm tổ chức liên thông thư viện của cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý thư viện Đặc biệt, Luật Thư viện cũng đã nhấn mạnh liên thông giữa các thư viện phải phù hợp với quy mô và đối tượng phục vụ, nhằm bảo đảm sự liên thông trong tra cứu thông tin thay vì quy định chung chung như trước
Thứ sáu, định kỳ hằng năm đánh giá hoạt động thư viện Đây là quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh Thư viện 2000 Theo đó, việc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện đối với tất cả các loại thư viện (kể cả thư viện công lập và thư viện ngoài công lập), nhằm mục đích phục vụ công tác quản lý Nhà nước về thư viện và nâng cao hoạt động thư viện Như vậy, định kỳ hằng năm tất cả các thư viện đều phải được đánh giá hoạt động theo Tiêu chuẩn quốc gia về bộ chỉ số văn hóa hoạt động thư viện
Trong luật thư viện đưa ra những điều trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện của các cấp, cơ quan rất chặt chẽ rõ rang và cụ thể
* Phân tích nội dung quản lí của pháp lệnh thư viện với luật thư viện
- Thư viện là một thiết chế quan trọng của nghành văn hóa thông tin nhằm
phục vụ nhu cầu của người dân
- Luật thư viện khẳng định cần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong đó
yêu tiên các nước trong khu vực ASEAN và các nước có sự nghiệp thư viện phát triển tương đồng
- Nhà nước là người tổ chức và quản lí các hoạt động của thư viện, xã hội
càng phát triển đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành chủ thể ấy chính là nhà nước- vừa là người quản lí vừa là người điều hành vì thế nhà nước đã đề ra pháp luật,chính sách, chiến lược, kế hoạch…và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lí các hoạt động của thư viện
Trang 5- Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng để khuyến khích cán bộ thư viện
hoàn thành tốt công việc của mình
- Công tác thanh kiểm tra và sử lí sai phạm là một bộ phận rất nhỏ nhằm
giúp cho lãnh đạo nắm bắt được khả năng thực chất của nghành nhằm phát hiện sớm những sai sót để khắc phục kịp thời
- Luật thư viện quy định các điều kiện vật chất, tinh thần, nghĩa vụ và trách
nhiệm của nhà nước trong việc ngăn chặn, trừng trị những hành vi xâm phạm đến quyền của độc giả trong việc sử lí tài liệu