TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BỘ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Tiểu luận cuối kỳ TỪ VIỆC TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ DÂN TỘC LÀM RÕ SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM MÃ SỐ LỚP HP LLCT130105 22CLC GVHD TS TRẦN THỊ THẢO THỰC HIỆN NHÓM 02 HỌC KỲ 1 – NĂM HỌC 2021 – 2022 Tp Thủ Đức, tháng 01, năm 2021 DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2021 – 2022 Nhóm 02 ( Lớp LLCT130105 22CLC) Tên đề tài Từ việc tìm hiểu quan.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Tiểu luận cuối kỳ
***
TỪ VIỆC TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ DÂN TỘC LÀM RÕ SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2021 – 2022 Nhóm: 02 ( Lớp: LLCT130105_22CLC)
Tên đề tài: Từ việc tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc
làm rõ sự hình thành dân tộc Việt Nam
3 Nguyễn Thị Lan Chinh 21125215 100%
4 Nguyễn Thị Thùy Dương 21125221 100%
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Nội dung và đối tượng nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
B NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 3
1.1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc 3
1.2 Dân tộc - hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay 5
1.2.1 Khái niệm dân tộc 5
1.2.2 Các đặc trưng của dân tộc: 6
1.3 Quá trình hình thành dân tộc ở châu Âu: 9
1.4 Tính đặc thù của quá trình hình thành dân tộc ở châu Á 10
1.5 Mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại 11
1.5.1 Quan hệ giữa giai cấp với dân tộc trong lịch sử 11
1.5.2 Vấn đề dân tộc và quan hệ giữa giai cấp với dân tộc trong thời đại ngày nay 11
1.5.3 Nhân loại và quan hệ giai cấp với nhân loại 12
1.5.4 Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong cách mạng Việt Nam hiện nay 13
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM 14
2.1 Lịch sử và tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam 14
2.1.1 Qúa trình hình thành dân tộc Việt Nam 14
2.1.2 Tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam 14
2.2 Một số vấn đề của dân tộc Việt Nam hiện nay 16
2.2.1 Các vấn đề và giải quyết vấn đề dân tộc Việt Nam hiện nay: 16
2.2.2 Những biện pháp để khắc phục những yếu kém, hạn chế trong việc giải quyết vấn đề dân tộc: 18
C KẾT LUẬN 21
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia có một hay nhiều tộc người cả trong lịch sử và trong thế giới hiện đại Nó ảnh hưởng đến sự ổn định, tồn tại và phát triển của nhà nước, thể chế chính trị ở quốc gia đó nếu không được giải quyết đúng đắn Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu quan điểm Mác - Lênin, nghiên cứu vấn đề dân tộc là điều hết sức cần thiết
Ngay cả Việt Nam cũng vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng về vấn đề dân tộc Ngài cho rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng; tức độc lập
tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc Bởi ngài sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự chà đạp của ngoại bang lên tự do độc lập của đất nước Từ đó Hồ Chí Minh cũng ý thức rằng: một dân tộc mà bị mất đi sự tự do, mất đi khả năng lãnh đạo thì không còn gì tồn tệ hơn nữa Chính vì thế Hồ Chí Minh đã tiếp cận đến chân lý cứu nước, cứu quê hương máu thịt của mình
Ngoài ra người rất tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong”1 Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta Đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi Người cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lục lượng đoàn kết của nhân dân”2 Vậy ta có thể thấy, vấn đề dân tộc là một nội dung quan trọng của tư tưởng
Hồ Chí Minh, là cốt lõi để thúc đẩy xây dựng một nước Việt Nam XHCN hoà bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh
1 GS.TS Hoàng Chí Bảo, (Thứ Ba, 23/01/2018), Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân
liệu cũng xong, Truy xuất từ:
http://www.baohagiang.vn/Ke-chuyen-ve-bac/201801/de-tram-lan-khong-dan-cung-chiu-kho-van-lan-dan-lieu-cung-xong-718696/
2 Chủ tịch Hồ Chí Minh (8/12/1956), Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị, Truy xuất từ:
https://www.qdnd.vn/ho-so-su-kien/loi-bac-day-nam-xua/trong-bau-troi-khong-gi-quy-bang-nhan-dan-556519
Trang 5Vì vậy, nhóm chúng em quyết định tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này và đề tài của nhóm chúng em là : “Từ việc tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về dân tộc làm rõ sự hình thành dân tộc Việt Nam”
Dù đã rất cố gắng hoàn thành bài tiểu luận nhưng trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót nên nhóm chúng em kính mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của cô để bài thêm phần hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
2 Nội dung và đối tượng nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề dân tộc mà chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập đến
- Hiểu rõ hơn quá trình hình thành của dân tộc Việt Nam và những vấn đề hiện nay của dân tộc Việt Nam
- Nắm được sự ảnh hưởng của vấn đề dân tộc trong nền chính trị, kinh tế, văn hóa của một đất nước
3 Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu tài liệu, sách, giáo trình và nội dung đã được giảng dạy trên lớp tác giả làm việc nhóm cùng nhau tìm hiểu và làm rõ vấn đề đặt ra cô đọng lại và trình bày thành bài tiểu luận
- Tham khảo các bài tiểu luận khác về những khía cạnh có liên quan đến đề tài của nhóm tác giả từ đó làm sáng tỏ nội dung cần tìm hiểu
Trang 6B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1.1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc
Đặc điểm cơ bản của thị tộc là mọi người cùng làm việc và vai trò của các thành viên phụ thuộc vào địa vị của họ trong sản xuất sơ cấp Các thành viên cùng chung huyết thống và ngôn ngữ; có thói quen và tín ngưỡng chung; văn hóa nguyên thủy có một số yếu tố chung và mỗi thị tộc có tên riêng Về tổ chức xã hội, thị tộc bầu
ra các tù trưởng, trưởng bản và các cố vấn để quản lý các công việc của thị tộc Người đứng đầu thị tộc được các thành viên kính trọng, phục tùng một cách tự nhiên và tự nguyện Đây là hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử loài người, các tù trưởng và quân trưởng do các thành viên trong thị tộc bầu ra và có thể bị bãi nhiệm nếu họ không thực hiện nhiệm vụ của mình Quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mọi thành viên đều bình đẳng
1.1.2 Bộ lạc
Bộ lạc là một xã hội bao gồm các thị tộc có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Bộ lạc được phát triển từ thị tộc, và thị tộc là tập thể được hình thành bởi sự hợp nhất của nhiều người và các thị tộc có cùng tổ tiên Ph.Ăngghen viết: “một thị tộc đã được coi là một đơn vị cơ sở của xã hội, thì toàn bộ chế độ thị tộc, bào tộc và bộ lạc đều phát triển từ cái đơn vị ấy với một sự tất yếu hầu như không thể ngăn cản nổi - bởi
vì đó là điều hoàn toàn tự nhiên”4
3 C.Mác và Ph.Ăngghen,Toàn tập,t.21,Nxb.CTQG,H.1995,tr.130
4 C.Mác và Ph.Ăngghen,Toàn tập,t.21,Nxb.CTQG,H.1995,tr.146-147
Trang 7Bộ lạc có những đặc điểm sau: Kinh tế bộ lạc là sở hữu công cộng về ruộng đất
và công cụ sản xuất, các thành viên trong bộ lạc cùng làm, quan hệ giữa các thành viên trong lĩnh vực sản xuất vật chất là bình đẳng Ví dụ: mỗi thị tộc có tên riêng; các thành viên nói cùng một ngôn ngữ, có phong tục tập quán và tín ngưỡng chung Nhưng lãnh thổ bộ lạc ổn định hơn lãnh thổ thị tộc, về mặt tổ chức xã hội, bộ lạc do các tộc trưởng quản lí và có một thủ lĩnh tối cao Tất cả các vấn đề quan trọng của bộ lạc đã được thảo luận và thông qua tại cuộc họp này Trong quá trình phát triển, một bộ lạc có thể tách thành nhiều bộ lạc khác nhau, hoặc nhiều bộ lạc có thể hợp nhất lại để tạo thành một liên minh bộ lạc
1.1.3 Bộ tộc
Bộ tộc là hình thức cộng đồng người hình thành bằng cách phân chia xã hội thành giai cấp Các bộ tộc được hình thành từ sự hợp tác của nhiều bộ lạc sống trên một lãnh thổ nhất định Nếu như thị tộc và bộ lạc chủ yếu bao gồm hầu hết là những người cùng huyết thống thì bộ tộc là sự liên kết của nhiều bộ lạc không cùng huyết thống Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Do việc mua bán ruộng đất, do sự phát triển hơn nữa của phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thương nghiệp và hàng hải, và những thành viên của các thị tộc, bào tộc và bộ lạc, chẳng bao lâu đã phải sống lẫn lộn với nhau.Và lãnh thổ của bào tộc và bộ lạc đã phải thu nhận những người tuy cũng là đồng bào nhưng lại không thuộc các tập đoàn ấy, tức là những người lạ xét về nơi ở”5
Bộ tộc hình thành cùng chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc trong những cộng đồng
bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, thì bộ tộc hình thành cùng với chế độ phong kiến Sự hình thành và phát triển của bộ lạc do chế độ phong kiến hình thành rắc rối hơn thị tộc,
bộ lạc ở các quốc gia và thời đại khác nhau, bộ lạc có sự đặc biệt riêng Là một cộng đồng chính thức trong lịch sử, bộ tộc có các yếu tố đặc trưng sau: mỗi bộ tộc có tên riêng, có lãnh thổ riêng, ngôn ngữ thống nhất Nhưng do các kết nối cộng đồng chưa phát triển nên tiếng nói chung này không đáng tin cậy lắm Ngoài ngôn ngữ chung, phương ngữ bộ lạc vẫn được sử dụng rộng rãi Trong bộ lạc có những yếu tố tâm lý
và văn hoá phổ biến, về mặt tổ chức xã hội, việc quản lý công tác xã hội thuộc về nhà
5 C.Mác và Ph.Ăngghen,Toàn tập,t.21,Nxb.CTQG,H.1995,tr.166
Trang 8nước Nhà nước là công cụ do giai cấp thống trị tổ chức để phục vụ lợi ích của giai cấp
đó Với sự ra đời của các bộ tộc, một dạng cộng đồng người không tồn tại đã được hình thành lần đầu tiên trong lịch sử loài người Mối quan hệ giữa lãnh thổ và văn hóa, mặc dù những mối quan hệ này vẫn chưa được phát triển đầy đủ
1.2 Dân tộc - hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay
1.2.1 Khái niệm dân tộc
Dân tộc là hình thức cộng đồng người phát triển nhất trong lịch sử Khái niệm dân tộc có hai nghĩa Nghĩa đầu tiên chỉ các nước (Việt Nam, Campuchia, Anh, Pháp ) Nghĩa thứ hai dùng để chỉ các dân tộc đa số và thiểu số trong cùng một quốc gia (dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Hmông, Vân Kiều, Êđê, Khme )
Mặc dù C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa đưa ra một định nghĩa đầy
đủ về dân tộc, nhưng họ đã vạch ra những đặc điểm cơ bản của dân tộc, phân tích một cách khoa học sự hình thành và phát triển của dân tộc và đồng thời chỉ rõ thực trạng của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: giai cấp tư sản đã từng bước xóa bỏ
sự phân tán đối với tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư và đã tạo ra những “dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một pháp luật thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất”6 J.Xta - lin đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển lý luận về vấn
đề dân tộc: “ Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm
lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hoá ”7 Vì thế, những nhà theo chủ nghĩa cổ điển nói về dân tộc theo nghĩa là quốc gia dân tộc và đồng thời nhấn mạnh đến sự
thống nhất và ổn định của các cộng đồng dân tộc Từ góc nhìn của những người
theo chủ nghĩa Cổ điển, có thể tóm tắt như sau:
Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được phát triển hình thành dựa trên cơ
sở lãnh thổ thống nhất, ngôn ngữ thống nhất, kinh tế thống nhất, cùng chung một
6 C.Mác và Ph.Angghen, Toàn tập, T.4, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.603
7 J Xta-lin, Toàn tập, NXB sự thật, Hà Nội, 1976, T.2, tr.357
Trang 9nền văn hóa, tâm lý và tính cách với quy luật thống nhất, với đó là cùng một nhà nước và pháp luật thống nhất
1.2.2 Các đặc trưng của dân tộc:
* Dân tộc là một cộng đồng người hay còn gọi là một nhóm người ổn định
cùng sống trên một lãnh thổ thống nhất
Lãnh thổ là khu vực của dân tộc để tồn tại và phát triển, đồng thời đó cũng
là khu vực mà các cộng đồng loài người đã được hình thành một cách ổn định từ trước đến nay Dân tộc nào cũng có lãnh thổ của họ, do được hình thành lâu đời
và vượt qua nhiều thử thách trong lịch sử nên vùng lãnh thổ này là một thể thống nhất và không thể chia cắt Theo đó, sự thống nhất của lãnh thổ còn được củng cố bởi sự thống nhất của các nhân tố kinh tế, chính trị khác Lãnh thổ thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc Không có lãnh thổ thì cũng sẽ không có khái niệm Tổ quốc hay quốc gia Nếu như trong bộ tộc, lãnh thổ vẫn bị các lãnh chúa phân phân chia thì lãnh thổ của dân tộc đã không còn sự chia cắt và đã ổn định hơn rất nhiều Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng không thể thiếu và được xem là rất quan trọng của mỗi dân tộc Mọi quốc gia dân tộc đều có một lãnh thổ rõ ràng, được coi là vùng đất thiêng liêng mà các thành viên của dân tộc phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ bằng mọi giá Lãnh thổ ngày nay không chỉ được hiểu
là mãnh đất mà còn bao quát cả vùng biển, vùng trời, hải đảo và thềm lục địa được thể chế hoá bằng luật pháp quốc gia và quốc tế Chủ quyền lãnh thổ quốc gia lúc nào cũng là vấn đề thiêng liêng và cấp bách đối với mỗi dân tộc
* Dân tộc là một cộng đồng thống nhất về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là đặc trưng cơ bản của một dân tộc Ngôn ngữ không chỉ là công
cụ giao tiếp liên kết các thành viên trong cộng đồng các dân tộc, mà còn là phương tiện giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Mọi thành viên của một dân tộc có thể giáo tiếp bằng nhiều ngôn ngữ Tuy nhiên dân tộc nào cũng có ngôn ngữ chung thống nhất Tính thống nhất của các ngôn ngữ dân tộc thể hiện ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và vốn từ vựng cơ bản Quốc ngữ là ngôn ngữ phát triển Sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc điểm chính của dân tộc Ngày nay, với
sự mở rộng giao tiếp và hội nhập quốc tế, ngôn ngữ của một quốc gia có thể được
Trang 10nhiều nước sử dụng nhưng ngôn ngữ đó vẫn được công nhận (tiếng mẹ đẻ) là ngôn
ngữ chính mà dân tộc đã sản sinh ra nó
* Dân tộc là một cộng đồng thống nhất về kinh tế
Với dân tộc, kinh tế là nhân tố vô cùng quan trọng Kinh tế đó là cách thức
để dân cư sinh sống gắn kết các tộc người thành cộng đồng dân tộc Tuy vậy, khi dân tộc quốc gia được tạo ra thì kinh tế được hiểu là một nền kinh tế thống nhất của một quốc gia có tính độc lập và tự chủ
Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng, nhân tố cơ bản dẫn đến quá trình chuyển đổi từ hình thức cộng đồng người trong lịch sử sang hình thức dân tộc là kinh tế Các mối liên hệ kinh tế thường xuyên và bền chặt, đặc biệt là quan hệ thị trường, làm tăng tính thống nhất, ổn định và bền vững của các cộng đồng người đông đúc sống trên một lãnh thổ to lớn Dân tộc có tính điển hình là dân tộc tư sản, dân tộc này bao gồm các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau Các giai cấp và tầng lớp xã hội này có quan hệ kinh tế chặt chẽ trong một hệ thống kinh tế thống nhất hình thành trên địa bàn dân tộc, đó là hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa
Trong xã hội ngày càng phát triển, sự hội nhập kinh tế quốc tế được nâng cao, song mỗi quốc gia dân tộc vẫn có một nền kinh tế độc lập, không dựa dẫm vào quốc gia khác Vấn đề chủ quyền kinh tế quốc gia là thực trạng mà các nước hiện nay rất quan tâm
* Dân tộc là một cộng đồng bền vững về văn hóa và tâm lý, tính cách
Văn hoá là yếu tố đặc biệt quan trọng của sự kết nối cộng đồng, nó được coi là “bộ gen”, là “căn cước” của mỗi cộng đồng dân tộc Văn hoá dân tộc tuy mang nhiều màu sắc của các địa phương, các sắc tộc v.v nhưng nó vẫn là nền văn hoá thống nhất Sự thống nhất về mọi mặt là đặc điểm của văn hoá dân tộc Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang sắc thái của riêng mình, tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Ngoài các yếu tố văn hoá khác nhau của các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong cộng đồng dân tộc v.v các thành viên của cộng đồng còn
có sự tham gia vào sinh hoạt văn hoá chung của dân tộc Đặc điểm chủ yếu văn hóa của dân tộc thể hiện ở phong tục tập quán, tín ngưỡng và các sinh hoạt văn
Trang 11hoá khác của những người trong cộng đồng dân tộc ấy Vì có quá trình hình thành
và phát triển dài lâu, do đó văn hoá dân tộc không dễ dàng bị đồng hoá
Thế giới càng phát triển, giao lưu văn hóa càng lớn mạnh, nhu cầu văn hoá càng cao, văn hóa hài hòa nhưng hầu hết các dân tộc đều giữ được sắc thái văn hóa riêng Hơn nữa, văn hoá còn là bước đệm tinh thần, là động lực để phát triển,
là một công cụ giữ gìn và bảo vệ độc lập và chủ quyền của mỗi quốc gia Lịch sử các cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giữ gìn bản sắc văn hóa, ngăn chặn nguy cơ bị đồng hoá về văn hoá Trong môi trường hội nhập quốc tế hiện nay, các quốc gia hiện đại đều nhận thức rằng muốn bảo vệ, giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc thì cần phải hội nhập chứ không được
“hòa tan”
Mỗi dân tộc cũng có tâm lý, tính cách riêng và được thể hiện qua sinh hoạt vật chất và tinh thần của dân tộc ấy, nhất là các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống văn hoá Đây là một đặc điểm quan trọng của mỗi dân tộc Yếu tố này được hình thành bởi những đặc điểm của một cộng đồng Là nơi hội tụ các yếu tố sinh học và xã hội của các dân tộc Nó trở thành ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc, để dù phải rời xa lãnh thổ của dân tộc để để đến nơi khác sinh sống nhưng đặc trưng văn hóa, tính cách vẫn được lưu giữ lâu dài
* Dân tộc là một cộng đồng người có một nhà nước và pháp luật thống
nhất
Đây là một đặc điểm của dân tộc - quốc gia, nó phân biệt với dân tộc với nghĩa là một nhóm dân tộc (đa số hay thiểu số) Chính Mác và Ăngghen đã chú ý đến yếu tố này ngay từ đầu và phân tích nó trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Dưới góc độ động lực của sự phát triển kinh tế, với vai trò tích cực của giai cấp tư sản trong quá trình hình thành ở hầu hết các nước châu Âu, nên các quốc gia dân tộc đã hình thành ở khắp châu Âu Vì nhu cầu của thị trường và sự phát triển của lưu thông hàng hoá, giai cấp tư sản đã xoá bỏ sự phân chia, sự “cát cứ” về kinh tế và chính trị, tạo nên các mối quan hệ “liên minh” về lợi ích, do đó
đã hình thành “một chính phủ thống nhất”, “một luật pháp thống nhất”, “một thuế quan thống nhất” Vì vậy, nhà nước và pháp luật thống nhất là một đặc điểm của
Trang 12dân tộc và cũng là nhân tố quan trọng trong thế giới hiện nay Dân tộc - quốc gia
- nhà nước là thống nhất không thể ngăn chia Bất cứ dân tộc nào cũng có một nhà nước nhất định và nhà nước nào cũng có một dẫn tộc nhất định Các đặc điểm của dân tộc đã chỉ ra rằng dân tộc hoàn toàn khác biệt với các hình thức cộng đồng người đã hình thành từ đời trước như thị tộc, bộ lạc Đồng thời các tộc người cũng khác với bộ tộc Dân tộc có thể do một bộ tộc phát triển lên và cũng có thể do nhiều bộ tộc hợp lại Tuy nhiên, các mối liên hệ giữa các thành viên trong bộ tộc còn non yếu, mối quan hệ giữa các tộc người với cộng đồng ngày càng ổn định và bền vững Cộng đồng bền vững này tạo nên sức mạnh của mỗi dân tộc và cam kết cho một dân tộc có thể tồn tại, phát triển trong những điều kiện lịch sử khác nhau
kể cả trong điều kiện có giặc ngoại xâm hoặc có sự giao lưu, mở rộng quốc tế Sự kết hợp những đặc trưng cơ bản về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hóa, tâm lý, tính cách, nhà nước và pháp luật thống nhất làm cho cộng đồng dân tộc trở thành hình thức phát triển và bền vững nhất trong lịch sử Trong tương lai, dù giai cấp không còn thì dân tộc vẫn trường tồn
1.3 Quá trình hình thành dân tộc ở châu Âu:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc được xem như là hình thức cộng đồng liên kết với xã hội có tầng lớp giai cấp, có hệ thống nhà nước và các chế độ chính trị Xuyên suốt lịch sử thể hiện rằng, dân tộc được định hình từ một bộ tộc có thể phát triển lên thành một dân tộc rồi từ đó hình thành nên một quốc gia, nhưng thực tế đã cho thấy nó hình thành từ việc thống nhất các dân tộc
từ những bộ lạc với các quốc gia khác nhau
Cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen chứng minh, ở châu Âu đường lối dẫn đến sự ra đời của bộ máy nhà nước chủ yếu là mối liên kết với sự hình thành và
tư bản chủ nghĩa phát triển Trước hết là về phương pháp thứ nhất, dân tộc ra đời
từ nhiều bộ tộc khác nhau trong một quốc gia Quá trình ra đời dân tộc ở đây không chỉ là quá trình thống nhất lãnh thổ mà còn là quá trình thống nhất thị trường Đây, cũng là một quá trình chuyển hóa để có sự nhất quán giữa các dân tộc không giống nhau thành một dân tộc duy nhất, một quốc gia, dân tộc độc lập, như là ở các nước Đức, Italia, Pháp, v.v Tiếp đến là phương pháp thứ hai, vì
Trang 13những điều này mà chế độ phong kiến vẫn chưa bị thủ tiêu, chủ nghĩa tư bản phát triển không mạnh, dân tộc được định hình thành từ một bộ tộc Ở đây không có quá trình về sự đồng hóa các bộ tộc mà chỉ có những quá trình thống nhất các lãnh thổ phong kiến và thành lập một quốc gia bao gồm nhiều dân tộc, trong đó mỗi dân tộc hình thành từ một bộ lạc riêng, như trường hợp ở các nước Nga, Áo, Hunggari, v.v
Quá hình thành xây dựng và tổ chức, phát triển các dân tộc diễn ra hết sức lâu dài, đa dạng và phức tạp Ở nước châu Âu, sự hình thành và phát triển dân tộc trải dài trong thời kỳ chính gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản làm giai cấp
tư sản; gắn liền với những cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc; xã hội chủ nghĩa ra đời Sự xuất hiện các dân tộc trong suốt bề dài lịch
sử của khắp các nước trên thế giới tùy vào các điều kiện và hoàn cảnh sử dụng cụ thể của mỗi quốc gia, khu vực Sự hình thành ra đời của các quốc gia, dân tộc đến
từ mảnh đất ở phương Đông có những phẩm chất đặc thù riêng Thực tiễn lịch sử
đã cho thấy, ở các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… dân tộc đã được định hình thành rất sớm, không gắn kết với văn bản chủ nghĩa ra đời
1.4 Tính đặc thù của quá trình hình thành dân tộc ở châu Á
Lịch sử cho thấy: một quốc gia có thể được hình thành từ một bộ tộc đang
phát triển
Quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đa dạng và phức tạp
Được hình thành từ giai đoạn đầu của lịch sử, có liên quan đến nhu cầu xây
dựng và bảo vệ đất nước
Các chủng tộc của Châu Á rất đa dạng và phong phú: Châu Á là lục địa lớn nhất, đông dân nhất, đa sắc tộc, tôn giáo và tôn giáo trên thế giới Nó được coi là cái nôi của nền văn minh độc đáo của nhân loại, và một số lượng lớn các kiệt tác văn hóa còn được lưu giữ
Sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, không gian địa lý và khí hậu ở châu
Á đã tạo nên sự hòa nhập chặt chẽ giữa văn hóa và lối sống của các quốc gia này Tuy nhiên, mỗi quốc gia, dân tộc nơi đây đã tạo cho mình một bản sắc văn hóa riêng, tạo nên một cảnh quan văn hóa Á Đông phong phú và đa sắc màu Chính