THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN 12 2.1.. Thực trạng phát huy vai trò của sinh vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN
LỚP L01 - NHÓM 05 - HK212 NGÀY NỘP: 19/02/2022
Giảng viên hướng dẫn: THS ĐOÀN VĂN RE Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Điểm số
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC (MSMH: SP1035)
Nhóm/Lớp: L01 Tên nhóm: 05 HK 212 Năm học 2022
Đề tài:
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG XÂY
DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên nhóm trưởng: Nguyễn Công Hoan , Số ĐT: 0353091602 Email: hoan.nguyen0506@hcmut.edu.com
Nhận xét của GV:
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên)NHÓM TRƯỞNG
Trang 3MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 3
II PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 6
1.1 Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ 6
1.1.1 Quan niệm về dân chủ 6
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của dân chủ 7
1.2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa 8
1.2.1 Quá trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 8
1.2.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 9
Tóm tắt chương 1 11
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN 12 2.1 Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 12
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 12
2.2.2 Thành tích đạt được 13
2.2 Thực trạng phát huy vai trò của sinh viên trong xây dựng trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia thành phố HCM vững mạnh thời gian qua 15
2.2.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 15
2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 21
2.3 Giải pháp phát huy vai trò của sinh viên trong xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển thời gian tới 23
Trang 42.3.1 Giải pháp về phía sinh viên 23
2.3.2 Giải pháp về phía nhà trường 24
2.3.3 Giải pháp về phía các tổ chức đoàn thể 25
Tóm tắt chương 2 26
III KẾT LUẬN 27
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 5I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là sản phẩm tinh thần đỉnh cao của văn hóa nhân loại,
minh thật sự được điều hành bởi hệ thống pháp luật chặt chẽ và
chủ Trong xã hội có giai cấp, dân chủ trở thành mục tiêu đấu tranh
hội, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính thức được xác lập, là dân
động được hình thành và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn
nhân loại Đó là kết quả đấu tranh không ngừng của giai cấp công
động ngay từ khi giai cấp công nhân được hình thành, và chỉ có thể
vai trò sứ mệnh của đội tiên phong là Đảng Cộng sản
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, không xây dựng và
chủ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị trong đó có Nhà nước xã hội
thể thực hiện quyền lực, quyền dân chủ, quyền làm chủ và mọi lợi
động trên các lĩnh vực thực tế của đời sống xã hội Ở nước ta từ năm
việc khởi xướng và lãnh đạo các công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản
Trang 6Việt Nam đã tiếptục thể hiện năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm của mình trước những
của nhân dân, của đất nước Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
quan tâm hàng đầu trong những chiến lược, hành động của Đảng
các lĩnh vực đời sống xã hội luôn được Đảng ta khẳng định là một
học vấn, tiềm năng sáng tạo, là những người đóng vai trò chủ chốt
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là
chuyên ngành kỹ thuật lớn ở Việt Nam, thành viên của hệ thống Đạihọc Quốc gia, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm quốc gia của
thuật Quốc gia thành lập vào năm 1957, chính thức mang tên Đại
Trang 7tặng các danh hiệu
và huân chương và còn là đơn vị có số lượng chương trình đạt chuẩn
nhiều nhất trên toàn quốc Tuy nhiên để có được một kết quả đánh
việc dựa vào các tiêu chuẩn giáo dục, thì không thể bỏ qua vai trò
việc tham gia tích cực vào việc xây dựng trường, trường có thể phát
vững hay không đều phụ thuộc phần lớn vào thái độ và ý thức phát
viên
Đặc trưng của trường Đại học Bách Khoa là các hoạt động sáng
khoa học và tinh thần xung kích tình nguyện trên các mặt trận của
mà ở đó mỗi cá nhân sinh viên đều phát huy tối đa năng lực chuyên
huyết, tính tiên phong, sáng tạo, … Trường luôn tạo điều kiện tổ
Trang 8có giá trị đồng thời có các bài báo khoa học được đăng trên các tạp
giới Tinh thần học tập và tình nguyện của sinh viên Bách Khoa cũng
thông qua những thành tựu đạt được trong quá trình hình thành và
góp phần xây dựng và phát triển một Đại học Bách khoa vững mạnh
những mặt tích cực thì cũng có mặt hạn chế khi sinh viên chưa chủ
tập và tham gia phong trào, trong việc đóng góp ý kiến xây dựng về
gây ra các khó khăn trong việc liên kết giữa công tác quản lý của
của sinh viên Ngoài ra, một bộ phận nhỏ sinh viên vẫn chưa hoàn
đức, kỷ cương, nề nếp trong quá trình học tập tại trường
Nhóm cần bổ sung và nhấn mạnh thêm một số nội dung trongphần đánh giá vai trò ở trên (mặt đạt được và hạn chế của SV trong:học tập; NCKH; phục vụ cộng đồng; tham gia các phong trào vănhoá, văn nghệ, thể dục thể thao; giáo dục chính trị, tư tưởng; thamgia xây dựng các tổ chức đoàn thể)
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm chọn đề tài: “Dân chủ
chủ nghĩa Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của sinh viên
Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh vững
để nghiên cứu
Trang 9Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhóm chọn đề tài: “Dân chủ
và dân chủ xã hội chủ nghĩa Thực trạng và giải pháp phát huy vaitrò của sinh viên trong xây dựng trường Đại học Bách khoa thànhphố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển” để nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của sinh viên
trong xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh
ngày càng phát triển
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát huy vai trò củasinh viên trong xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí
Minh ngày càng phát triển
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, làm rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân
chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa; Khái quát về trường Đại học Báchkhoa thành phố Hồ Chí Minh
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát huy vai trò của sinh viên trong
xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh ngàycàng phát triển thời gian qua
Thứ ba, đề xuất giải pháp phát huy vai trò của sinh viên trong
xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh ngàycàng phát triển thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất làcác phương pháp: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp;phương pháp lịch sử - logic;…
Trang 106 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đềtài gồm 2 chương:
Chương 1: Dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của sinh viêntrong xây dựng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minhngày càng phát triển
Trang 11II PHẦN NỘI DUNG Chương 1 DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1 Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ
1.1.1 Quan niệm về dân chủ
Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỉ VII – VI trước Công Nguyên Cácnhà tư tưởng Lạp cổ đại đã dừng cụm từ “demoskratos” để nói đến dân chủ, trong đó,
“demos” là nhân dân và “kratos” là cai trị Theo đó, dân chủ được hiểu là nhân dân cai
trị và sau này được các nhà chính trị gọi giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân
Việc nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử và thực tiễn lãnh đạo cáchmạng xã hội chủ nghĩa, các nhà thành lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng dân chủ làsản phẩm và là thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộcủanhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, là một trongnhững nguyên tắc hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội
Tựu chung lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ có một sốnội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về phương diện quyền lực, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân,
nhân dân là chủ nhân của đất nước Quyền nhân dân được hiểu theo nghĩa rộng
Thứ hai, trên phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị, dân chủ là
một hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ
Thứ ba, trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội, dân chủ là một nguyên tắc
- nguyên tắc dân chủ Nguyên tắc này kết hợp với nguyên tắc tập trung để hình thànhnguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và quản lý xã hội
Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin và điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng dân chủ trước hết là một giá trị
nhân loại chung Và khi coi dân chủ là một giá trị mang tính xã hội mang tính toàn
nhân loại, Người đã khẳng định: Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ Người nói:
Trang 12“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”1 Khi coi dân chủ là
một chế chính trị, một chế độ xã hội, Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhândân”2 Rằng, “chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ”; vàmột khi nước ta đã trở thành một nước dân chủ, “chúng ta là dân chủ” thì dân chủ là
“dân làm chủ” và “dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này
khác làm đầy tớ Làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải quan cách mạng”3
Từ những cách tiếp cận trên, dân chủ có thể hiểu: Dân chủ là một giá trị xã hội
phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của gia cấp cầm quyền; có quá trình ra đời, phát triển cùng với lịch sử xã hội nhân loại.
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Nhu cầu về dân chủ xuất hiện từ rất sớm trong xã hội tự quản của cộng đồng thịtộc, bộ lạc Trong chế độ cộng sản nguyên thủy đã xuất hiện hình thức manh nha của
dân chủ mà Ph Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay còn gọi là “dân chủ quân
sự”
Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển dẫn tới sự ra đời của chế độ tưhữu và sau đó là giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dânchủ chủ nô ra đời Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành nhà nước với đặc trưng làdân tham gia bầu ra Nhà nước
Cùng với sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, lịch sử xã hội loàingười bước
vào thời kỳ đen tối với chế độ độc tài chuyên chế phong kiến Khi đó, ý thức về dân
chủ và đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người dân đã không có bước tiếnđáng kể nào
Cuối thế kỷ XIV – XV, giai cấp tư sản với những tư tưởng tiến bộ về tự do,
công bằng, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản.
1 Hồ Chí Minh Toàn tập Nxb CTQG H.1996, tập 6, trang 515.
2 Hồ Chí Minh Toàn tập Nxb CTQG H.1996, tập 7, trang 499.
3 Hồ Chí Minh Toàn tập Nxb CTQG H.1996, tập 6, trang 365; tập 8, trang 375 Chú thích footnote chưa đúng quy định (Xem lại phần hướng dẫn chú thích trong video hướng dẫn thực hiện BTL) Đồng thời sửa lại tất cả các chú thích footnote ở phía sau cho thống nhất.
Trang 13Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), một thời đạimới mở ra – thời đại quá độ từ tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thiết lập Nhà nước công –
nông (nhà nước xã hội chủ nghĩa), thiết lập nền dân chủ vô sản (dân chủ
xã hội chủ nghĩa) để thực hiện quyền lực của đại đa số nhân dân Đặc trưng cơ bản củanền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dân – tức là xây dựngnhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại
đa số nhân dân
Như vậy, với tư cách là một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì lịch sử
nhân loại, cho đến nay có ba nền (chế độ) dân chủ: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và
dân chủ vô sản Nền dân chủ chủ nô gắn liền với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ
tư sản gắn liền với chế độ tư sản chủ nghĩa; nền dân chủ vô sản gắn liền với chế độ xã hội chủ nghĩa.
1.2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Quá trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phôi thai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ởPháp
và công xã Paris năm 1871, tuy nhiên chỉ tới khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917),nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập Sự ra đời của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưahoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó,trước hết là nền dân chủ tư sản Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa làkhông ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người laođộng, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội Tuynhiên, khi xã hội đã đạt tới trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn có sự phânchia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dânchủ xã hội chủ nghĩa sẽ tự tiêu vong
Từ những phân tích trên, có thể hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ
cao
hơn về chất so với nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật
Trang 14nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
1.2.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Như mọi loại hình dân chủ khác, dân chủ vô sản, theo V.I Lênin, không phải là chế độ dân chủ cho tất cả mọi người; nó chỉ là dân chủ đối với quần chúng lao động
và bóc lột; dân chủ vô sản là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số Rằng, dân chủ trong chủ nghĩa xã hội bao quát tất cả các mặt cảu đời sống xã hội, trong đó, dân chủ trên
lĩnh vực kinh tế là cơ sở; dân chủ đó càng hoàn thiện bao nhiêu, càng nhanh đến ngàytiêu vong bấy nhiêu
Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ xã
hội chủ nghĩa có bản chất cơ bản sau:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công
nhân (đảng Mác – Lênin) mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực củanhân dân, thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, thõa mãn ngàycàng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là những người làm chủnhững quan hệ chính trị trong xã hội Quyền được tham gai rộng rãi vào công việcquản lý nhà nước của nhân dân chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ của đại đa sốdân cư, của những người lao động bị bốc lột, là chế độ mà nhân dân ngày càng thamgia nhiều vào công việc Nhà nước Với ý nghĩa đó, V.I Lênin đã diễn đạt một cáchkhái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa rằng: đó là nền dânchủ “gấp triệu lần dân chủ tư sản”4
Xét về bản chất chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bảnchất giai cấp công
nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc Dovậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về chất so với nền dân chủ
tư sản ở bản chất giai cấp (giai cấp côngnhân và giai cấp tư sản), ở
4 V.I, Lênin Toàn tập Nxb Tiến bộ Matxcơva 1980, tập 35, trang 39.
Chú thích footnote phải lặp lại theo từng trang Nhóm điều chỉnh lại các chú thích ở phía sau tương tự như vậy.
Trang 15cơ chế nhất nguyên và cơ chế đa nguyên, một đảng hay nhiều đảng,
ở bản chất nhà nước (nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhànước pháp quyền tư bản)
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội
về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng caocủa lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại nhằm thõa mãnngày càng cao những nhu cầu vật chất tinh thần của toàn thể nhân dân lao động
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân
phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu
Bản chất tư tưởng, văn hóa xã hội: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng
Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái
ý thức xã hội khác trong xã hội mới Đồng thời nó kế thừa, phát huy nhứng tinh thầnvăn hóa truyền thống của dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng – văn hóa, văn minh,tiến bộ xã hội mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc Trong nền dânchủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ giá trị văn hóa tinh thần; được nâng caotrình đô văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân Dưới góc độ này
dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng
tự do được sáng tạo và phát triển con người
Với những bản chất nêu trên, dân chủ xã hội chủ nghĩa trước hết và chủ yếuđược thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là kết quả hoạt động tự
giác của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dân chủ xã
Hình thức: canh đều lại mục 1.1 và 1.2
Trang 16Tóm tắt chương 1
Dân chủ là một khái niệm đã có từ xa xưa trong xã hội tự quảncủa cộng đồng thị tộc, bộ lạc, là khát vọng của con người vươn lênthoát khỏi áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội nơi người lao độngđược nắm quyền điều hành nhà nước Theo quan điểm của chủ nghĩaMác – Lênin, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân làchủ nhân của nhà nước; là hình thái nhà nước, chế độ và là mộtnguyên tắc tồn tại với tư cách là một giá trị nhân loại chung Cho đếnnay, xã hội loài người đã trải qua ba chế độ dân chủ và nền dân chủđược đánh giá gần như hoàn thiện nhất là nền dân chủ xã hội chủnghĩa Sự ra đời của dân chủ xã hội chủ nghĩa là kết quả của thắnglợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa giai cấp công nhân từ thân phận
bị áp bức bóc lột lên làm chủ nhà nước
Dân chủ xã hội chủ nghĩa mang những bản chất chính trị, bảnchất kinh tế và bản chất tư tưởng – văn hóa – xã hội với hệ tư tưởngcủa giai cấp công nhân là chủ đạo Quá trình phát triển của dân chủ
xã hội chủ nghĩa đi từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoànthiện hơn, có sự kế thừa một cách chọn lọc các giá trị của nền dânchủ trước đó Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn vềchất so với các nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, nền dân chủ
mà ở đó, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, dân là chủ và dânlàm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng;được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trang 17Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN 2.1 Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Bách Khoa (Ho Chi Minh City University of Technology)
là trường đại học chuyên ngành kỹ thuật lớn của Việt Nam, thành viên của hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, được xếp vào nhóm đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam.
Lịch sử trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua 64 năm Tiền thân của trường là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được thành lập vào ngày 29/6/1957 với nhiệm vụ “đào tạo thanh niên các ngành học Cao đẳng Kỹ thuật cần thiết cho nền Kinh Tế và Kỹ Nghệ Quốc Gia” Đến năm 1972, Trung tâm Quốc gia kỹ thuật được đổi tên thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật, là cơ sở duy nhất đào tạo kỹ sư và cán sự tại miền Nam lúc bấy giờ Năm 1974 Học viện Quốc gia kỹ thuật được sát nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức và đổi tên thành Trường Đại học Kỹ thuật Sau ngày thống nhất đất nước, Trường được mang tên Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
Là một trong ba Trường Đại học Bách Khoa trên cả nước, Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ đào tạo các kỹ sư thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản, công nghiệp, thăm dò khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ yếu phục vụ vùng phía Nam của đất nước Trường có 10 trung tâm nghiên cứu, 11 xưởng thực tập, 180 phòng thí nghiệm, 8 phòng máy tính chuyên
đề, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Bách Khoa trực thuộc Phòng Đào tạo và 240 phòng học bao gồm các khoa: Khoa Cơ khí, Khoa Công nghệ Vật liệu, Khoa Điện - Điện tử, Khoa Khoa học Ứng dụng, Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Khoa Kỹ thuật Giao thông, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Khoa Môi trường và Tài nguyên, Khoa
Trang 18Quản lý Công nghiệp, Trung tâm Đào tạo Bảo dưỡng Công nghiệp với gần 26.000 sinh viên đang theo học Tính đến năm 2020, trường có trên 930 giảng viên Trong đó có 11 giáo sư, 130 phó giáo sư, gần 400 tiến sĩ, trên 443 thạc sĩ
và 99 giảng viên có trình độ đại học.
2.2.2 Thành tích đạt được
Trường Đại học Bách khoa đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập hạng Ba (2002), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007) và Huân chương Độc lập hạng Nhất (2012) cùng với nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành, đoàn thể.
Bên cạnh đó, trường còn đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước Trong
10 năm gần đây đã đạt 208 giải Olympic trong đó có 31 giải nhất, 29 giải nhì, 72 giải ba Đặc biệt sinh viên trường Đại học Bách khoa đã ba lần đạt chức vô địch Robocon châu Á - Thái Bình Dương năm 2002 (Nhật Bản, năm đầu tiên tổ chức), 2004 (Hàn Quốc) và 2006 (Malaysia).
Năm 2014, trường đạt tiêu chuẩn kiểm định ABET ở 2 ngành Khoa học Máy tính và Kỹ thuật Máy tính Trở thành trường đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đạt chuẩn kiểm định ABET Năm 2017, trường đạt tiêu chuẩn AUN-QA do Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) đánh giá Bộ tiêu chuẩn đánh giá cấp trường của AUN-QA được các chuyên gia hàng đầu trong ASEAN xây dựng gồm 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí, bao quát tất cả các lĩnh vực của một trường đại học như quản lý chiến lược, hệ thống, chức năng và kết quả hoạt động Bộ tiêu chuẩn này tương thích với bộ tiêu chuẩn của Hoa Kỳ và châu Âu Đây là trường đại học thành viên đầu tiên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và là trường thứ hai trong cả nước được đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn AUN-QA, trường thứ tư được đánh giá trong toàn khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, trường còn là đơn vị có số lượng chương trình đạt chuẩn kiểm định
Trang 19quốc tế nhiều nhất trên phạm vi toàn quốc với 29 chương trình đạt chuẩn quốc tế (HCERES, ABET, CTI, FIBAA, ).
Trường Đại học Bách Khoa đã thực hiện hiệu quả nhiều đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước, cấp tỉnh và nhiều dự án phối hợp với các doanh nghiệp và
các đối tác quốc tế Cán bộ nhà trường không chỉ đạt thành tích học thuật với hơn 200 công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín mỗi năm mà còn hoàn thành nhiều dự án chuyển giao công nghệ với các địa phương và các doanh nghiệp Nhà trường cũng là đối tác có uy tín không chỉ trong khu vực châu Á mà cả châu
Âu, châu Mỹ, là một thành viên tích cực của các dự án quốc tế nổi bật như AUN/SEED-Net, ERAMUS, JICA, BUILD-IT,… Ngoài ra, trường Đại học Bách Khoa là đơn vị đi đầu trong hệ thống các trường đại học Việt Nam trong việc hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm tạo môi trường sáng tạo, hỗ trợ các hoạt động Khởi nghiệp – Đổi mới sáng tạo không những trong cộng đồng sinh viên và cán bộ của nhà trường mà cho cả sinh viên và thanh niên của TP.
Hồ Chí Minh.
Hình thức: chỉnh lại size chữ cho đúng quy định (size 13)
2.2 Thực trạng phát huy vai trò của sinh viên trong xây dựng trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia thành phố HCM vững mạnh thời gian qua
Đối với các mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân, nhóm chia rõ ra thành từng mục để làm rõ các mặt sau (không gộp lại): học tập; NCKH; phục vụ cộng đồng; tham gia các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; giáo dục chính trị,
tư tưởng; tham gia xây dựng các tổ chức đoàn thể).
2.2.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1 Những mặt đạt được
Bên cạnh những điều kiện, tác nhân bên ngoài, vai trò của sinhviên muốn được phát huy một cách hoàn chỉnh nhất thì phụ thuộcrất lớn vào sự tham gia tích cực của toàn thể sinh viên Sinh viên