Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẠCH ĐẰNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TÍCH HỢP – TÍCH CỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở LỚP 81 TRƯỜNG THCS BẠCH ĐẰNG” Người thực hiện LÊ THỊ THANH Tổ Xã Hội Năm học 2017 2018 MỤC LỤC I ĐẶT VẤN ĐỀ 3 1 Lý do chọn đề tài 3 2 Mục tiêu của đề bài 5 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4 Phương pháp nghiên cứu 5 5 Thời gian nghiên cứu 6 II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6 1 Cơ sở lý l.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẠCH ĐẰNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC
TÍCH HỢP – TÍCH CỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở LỚP 8/1 TRƯỜNG THCS BẠCH ĐẰNG”
Người thực hiện: LÊ THỊ THANH
Tổ: Xã Hội Năm học 2017 - 2018
Trang 2MỤC LỤC
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
- Theo suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, nền văn học nước ta đã cùng tồn tại và phát triển, chung lòng với đất nước và nhân dân Mỗi chặng đường lịch sử, đều có những tác phẩm có giá trị mang đậm dấu ấn của lịch sử, đã đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam và nền văn học thế giới và sự tiến bộ của loài người Đặc biệt, các tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn đã ghi lại những dấu ấn của nước ta suốt một thờigian dài, ghi lại những trang lịch sử hào hùng, ghi dấu sự phát triển của đất nước, sự thay đổi của các vương triều và sự đi lên con đường chủ nghĩa xã hội của nước ta Được thể hiện rõ nhất là các tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn THCS
- Ngữ Văn tự bản thân nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lýthuyết gắn với đời sống Xuất phát từ những căn cứ đó, chương trình đã nêu mục tiêu tổng quát của môn Ngữ Văn: Môn Ngữ Văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phố thông cơ sở, chuẩn bị cho họ tiếp tục học lên bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tự bồi dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải sự công bằng, lòng căm ghét các ác, cái xấu xa Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụcác giá trị chân, thiện, mỹ cho nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực hình thành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó cũng
là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tương lai để hướng con người tới mục tiêu trên thì đối vớicác môn khác, vấn đề tên gọi môn học có lẽ không cần đặt ra, nhưng đối với môn này tên gọi ấy thể hiện một cách nổi bật một trong những điểm cải tiến căn bản của việc xây dựng chương trình lần này là quan điểm tích hợp ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làmvăn được sáp nhập làm một Cho nên việc giảng dạy theo quan điểm tích hợp không phủđịnh việc dạy các tri thức, kĩ năng riêng từng phân môn Vấn đề là làm thế nào phối hợp nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Ngữ Văn
- Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp đi vào cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau:
+ Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam – phù hợp với trình
Trang 4độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhậnvăn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học,năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
+ Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinhthần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại
- Mục tiêu của việc dạy học các tác phẩm văn học là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc – hiểu cũng như tạo lập văn bản Chính vì thế, chương trình được tạo dựng theo hai trục tích hợp: Đọc văn và Làm văn” (Đỗ Ngọc Thống) [8, tr.10] Phân môn Văn học có chức năng cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại
về văn học Việt Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị Chân – Thiện – Mỹ Học sinh không chỉ được rèn
luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức
+ Thấy và phân tích được đặc sắc nghệ thuật của truyện như tạo tình huống
nghịch lý, trần thuật qua dòng nội tâm nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu đầy chất suy tư,hình ảnh giàu tính biểu tượng;
+ Rèn luyện kĩ năng phân tích truyện có sự kết hợp các kiểu loại tự sự, trữ tình, triết lý
- Các tác phẩm của văn học Việt Nam cũng như văn học thế giới đều mang những
tư tưởng, tình cảm vô cùng sâu sắc và ý nghĩa, là bài học cho học sinh suy ngẫm và học tập Thế nhưng một điều đáng buồn là học sinh gần như đang không nắm được những nét hay, nét đặc sắc đó của các tác phẩm mà nguyên nhân là do các em đang gặp rất nhiều khókhắn trong việc đọc – hiểu văn bản cũng như việc các em tìm cho mình những phương pháp đọc – hiểu văn bản một cách có hiệu quả nhất, để rồi từ đó các em không thể nào tự phân tích, cảm thụ được văn bản nếu không có giáo viên giảng dạy
Trang 5- Trường THCS Bạch Đằng là một ngôi trường nằm trên đảo Trí Nguyên – thuộc địa phận phường Vĩnh Nguyên Chính vì địa lý như vậy nên ở đây việc giáo dục còn gặp rất nhiều khó khăn chứ chưa nói đến việc học sinh học môn Ngữ văn rồi tìm hiểu văn bản Mặc dù đã được các thầy cô bộ môn hết sức quan tâm, giúp đỡ nhưng việc học môn Văn đối với các em còn rất nhiều khó khăn, cộng với việc phải dành thời gian đọc – tìm hiểu văn bản vì các em còn bận việc gia đình, thậm chí có em còn phải đi biển phụ giúp gia đình, càng không có thời gian để đọc văn bản.
Việc học sinh không chịu đọc văn bản khiến cho giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc giúp các em tiếp nhận kiến thức từ văn bản Vì vậy, tôi nhân thấy cần có những phương pháp giúp các em vượt qua những khó khăn này để việc học môn Ngữ văn trở nên
có hiệu quả hơn, đặc biệt là giúp các em có những phương pháp đọc – hiểu văn bản có hiệu quả tốt nhất có thể
2 Mục tiêu của đề bài:
- Tìm ra được một quy trình khoa học hợp lý để thực hiện tốt hướng dạy và học
theo phương pháp đọc – hiểu văn bản, đảm bảo nguyên tắc tích hợp – tích cực trong giờhọc, giúp cho quá trình nhận thức của học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn ngày càng tốthơn
- Giúp học sinh tiếp nhận văn bản và cảm thụ văn bản một cách sâu sắc vày đầy
đủ nhất, nắm được tư tưởng của tác giả và nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh
- Phạm vi thực hiện: Học sinh lớp 8/1 trường THCS Bạch Đằng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
+ Tìm hiểu một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, một số tài liệuliên quan đến việc phân tích, tìm hiểu tác phẩm và một số tài liệu về phương pháp họcmôn Ngữ Văn
+ Tìm hiểu nguyên nhân gây ra việc nhàm chán của học sinh trong việc đọc –hiểu các văn bản có trong sách
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Trực tiếp trò chuyện, trao đổi với học sinh vềsuy nghĩ của các em trong quá trình đọc – hiểu và tiếp nhận văn bản
- Phương pháp quan sát thực tiễn
- Phương pháp điều tra tình hình học sinh
- Phương pháp phân loại, phân tích tình hình học sinh học phân môn Văn
Trang 6- Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy.
5 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian thực hiện: từ tháng 01/09/ 2016 – 30/05/2017
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Cơ sở lý luận:
- Tích cực hưởng ứng Nghị quyết 40 của Quốc hội, chỉ thị 14 của Thủ tướng Chínhphủ về: Ngành giáo dục thực hiên dạy sách giáo khoa mới theo phương pháp dạy họcmới
- Thực hiện nhiệm vụ: “Hai không”: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnhthành tích trong giáo dục và xây dựng mô hình trường học mới: “Trường học thân thiện– Học sinh tích cực”, “Lấy học sinh làm trung tâm trong dạy học”
- Sách giáo khoa mới được biên soạn theo hướng tích hợp giữ 3 phân môn: Văn –Tiếng Việt – Tập làm văn, vận dụng kiến thức liên môn vào bài học
- Sách giáo khoa là công trình khoa học sư phạm của tập thể các nhà nghiên cứuđầu tư công sức biên soạn, thực nghiệm sửa chữa, hoàn thiện và được hội đồng thẩmđịnh đánh giá thông qua Vì thế chúng ta cần trân trọng công trình nghiên cứu này
- Dạy Ngữ văn theo phương pháp đọc – hiểu văn bản, đảm bảo nguyên tắc tích hợp– tích cực để phát huy được hết khả năng suy nghĩ tập thể… của mọi đối tượng học sinhđược thể hiện khả năng tích cực của bản thân đóng góp ý kiến trong giờ học
- Thực hiện dạy sách giáo khoa theo phương pháp mới là nhiệm vụ chủ yếu củagiáo dục trong giai đoạn hiện nay
2 Cơ sở thực tiễn
- Bản thân tôi là một giáo viên trẻ mới ra trường, thời gian công tác chưa đượcnhiều nên kinh nghiệm đứng lớp còn non trẻ, thời gian tiếp xúc thực tế với học sinh vàcông tác dự giờ rút kinh nghiệm còn hạn chế do trường còn thiếu giáo viên môn Văn,thường xuyên có sự thay đổi giáo viên
- Giáo viên còn quen với lối dạy văn bản theo kiểu truyền thống là giảng nhiều,giáo viên làm việc nhiều, học sinh chỉ tiếp nhận kiến thức từ giáo viên theo kiểu vấnđáp, cô cho bao nhiêu thì biết bấy nhiêu
- Về phương pháp dạy Ngữ văn theo phương pháp đọc – hiểu văn bản đảm bảonguyên tắc tích hợp – tích cực trong dạy học còn nhiều lúng túng Một là gò bó, gượng
ép, hai là lạm dụng tích hợp mà không đi sâu vào phân môn – tiết học đang thực hiện
- Nhiều giáo viên nhận thức tốt bản chất của phương pháp này, rèn cho học sinh
kỹ năng đọc – hiểu văn bản, nhận thức tốt bản chất của hướng tích cực – tích hợp mong
Trang 7muốn thực hiện vấn đề này một cách tốt nhất nhưng chưa có một quy trình khoa học,hợp lý để vận dụng trong giảng dạy
- Thực tế SGK Ngữ văn mới tiếp tục được biên soạn theo hướng tích cực đã cótruyền thống trong việc giảng dạy và học văn, giúp học sinh nhận thức được giá trị tácphẩm văn chương đích thực Tránh xa vào phương pháp xã hội học dung tục, giản đơn.Đặc biệt phải coi trọng nhận thức tác phẩm ở một cấp độ bản chất, chỉnh thể
- Đối với học sinh việc học tập, tiếp thu SGK mới, các em cũng chưa định rõ vấn
đề phương pháp học tập đổi mới, để theo kịp sự đổi mới trong chương trình SGK mới
3 Thực trạng của vấn đề.
Năm học 2016 – 2017, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy bộ môn Ngữ Văn khối 8trường THCS Bạch Đằng Trên thực tế, các em đều là những học sinh đã quen với môitrường học tập tại trường nên đã khá quen thuộc với việc học môn Ngữ Văn Tuy nhiênvẫn còn một số tồn tại ở các em, đặc biệt là các em học sinh cá biệt, các em học sinh cóhoàn cảnh khó khăn trong việc học tập, mặc dù đã cố gắng thay đổi phương pháp họcmôn Ngữ Văn nhưng vẫn chưa có hiệu quả và cần được khắc phục Cuộc khảo sát thực
tế tình hình học tập môn Ngữ văn của các em lớp 8/1 năm học 2016 – 2017 thông quabài khảo sát chất lượng đầu năm sau một tháng học đã có kết quả như sau:
Sĩ số Từ 8 trở lên Từ 5 – 7,9 Từ 3 – 4,9 Từ 3 trở xuống
Từ kết quả trên, ban đầu đã thu nhận được một số kết quả nhất định Các em đa phần nằm ở mức trung bình khá, số lượng giỏi còn ở mức độ thấp trong khi ở mức yếu kém vẫn còn khá cao, chiếm đến Yêu cầu bước đầu đặt ra cần giúp các em cần cố gắng hơn nữa trong việc thay đổi phương pháp học tập để nâng cao chất lượng khá giỏi, giảm chất lượng yếu kém
Việc dạy học theo hướng đổi mới trong các giờ học là những yêu cầu quan trọng của việc đánh giá, xếp loại giờ đạt loại giỏi Bởi nó là như cầu cấp thiết, cơ bản quan trọng của phương pháp dạy và học theo SGK mới
Tiếp tục cuộc khảo sát mới theo hai phương pháp: có đổi mới và không đổi mớiphương pháp dạy học thu được kết quả tại lớp như sau:
Số giờ đã
dạy
Số giờ không
áp dụng phương pháp
Tỷ lệ
%
Số giờ áp dụng đúng mức
Tỷ lệ
%
Số giờ đạt yêu cầu tốt
Trang 8Số học sinh nắmđược phương phápdạy học mới
Số học sinh vậndụng tốt
Từ đó có thể thấy được các giờ dạy thành công của các giáo viên giỏi, các giáoviên yêu nghề, của những người có tâm huyết và nghiên cứu SGK, SGV, các tài liệu, tạpchí giáo dục, báo văn học tuổi trẻ
4 Tìm hiểu về phương pháp đọc – hiểu văn bản theo hướng đảm bảo nguyên tắc
tích hợp – tích cực trong dạy học.
4.1 Phương pháp đọc – hiểu văn bản là như thế nào?
Đây là điều giáo viên còn lúng túng nhất
- Trước đây dạy văn học chủ yếu là nhằm làm cho học sinh thấy được cái hay, cáiđẹp của những tác phẩm văn chương Những các cái hay, cái đẹp đó là do chính giáoviên cung cấp, cảm nhận và phân tích hộ học sinh Các giờ văn chủ yếu thuyết trình,giảng giải cho học sinh nghe những điều thầy cô hiểu và cảm nhận được về tác phẩm ấy.Còn bản thân học sinh hiểu và cảm nhận như thế nào thì chưa được chú ý đúng mức
- Học sinh không cần đọc tác phẩm cũng được, đi thi miễn là nói đã nghe học ghichép được trên lớp hoặc học thuộc những tài liệu tham khảo… Đây là một hạn chế khiếncho học sinh bị động, thiếu tính sáng tạo
Với chương trình và SGK Ngữ văn THCS mới, dạy văn thực chất là dạy cho họcsinh phương pháp đọc văn Đọc văn cần được hiểu một cách toàn diện Đó là quá trìnhbao gồm việc tiếp xúc văn bản, thông hiểu cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩncũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ,
Trang 9các thông điệp, tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả giá trị tự thân của hìnhtượng nghệ thuật.
Đọc văn thao tinh thần đó thực chất là toàn bộ quá trình tiếp nhận mà văn bản (kể
cả hiểu và cảm thụ)
Muốn thế, các em học sinh phải được trang bị trên hai phương diện: những kiếnthức để đọc văn và phương pháp đọc văn Những kiến thức và phương pháp này chỉ cóthể có được qua việc thựn hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản, tác phẩm
cụ thể tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học
Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Ngữ văn THCS làtập trung hình thành cho học sinh cách đọc văn, phương pháp đọc văn theo thể loại, đểdần dần các em có thể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúngđắn
Điều này phải thông qua hệ thống văn bản – tác phẩm tiêu biểu (như những vănliệu, ngữ liệu) và trang bị cho học sinh các kiến thức Việt Ngữ với tất cả các đơn vị vàcấp đọc ngôn từ như: từ, câu, đoạn văn, văn bản…
Bởi chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng của tác phẩmvăn học Do đó việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học thông qua các đơn vị ngônngữ trong mỗi tác phẩm đó Các kiến thức này là chìa khóa giúp các em đọc – hiểu tácphẩm văn học có hiệu quả hơn
Dạy học chính là trang bị cho học sinh văn hóa đọc văn Ngược lại qua việc dạyhọc, đọc văn mà hình thành và củng cố những tri thức Ngữ văn liên quan, cũng qua đó
mà thực hiện nhiệm vụ cao cả của môn học là giáo dục tâm hồn, tư tưởng, óc thẩm mỹ,lòng nhân ái, xây đắp những tình cảm, lối sống tốt đẹp cho học sinh
Chính vì thế, một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Ngữ Văn là tập trunghình thành cho học sinh cách đọc văn, để phục vụ nhu cầu đọc văn trong cuộc sống hằngngày của các em Dạy đọc – hiểu văn bản không đối lập việc dạy theo kiểu giảng vănnhưng có nhiều điểm khác nhau
Đó là những điểm khác nhau sau đây:
Giảng văn Đọc – hiểu văn bản
- Nghiêng về công việc của thầy
- Thầy nói cái hay mà thầy cảm nhận
được cho học sinh nghe
- Nghiêng về khai thác nội dung, tư
tưởng của văn bản
Trang 10-Nhiều khi học sinh không cần đọc văn
bản
- Học sinh hiểu biết các văn bản được
học trong trường
- Học sinh bắt buộc phải đọc văn bản
- Học sinh có phương pháp đọc – hiểucác tác phẩm văn học trong và ngoàinhà trường
Chính vì có sự khác nhau trên mà các bước chuẩn bị giáo án, hệ thống câu hỏi cácbước lên lớp (tổ chức hoạt động dạy và học) cần có những thay đổi phù hợp với phươngpháp đọc - văn bản
4.2 Đảm bảo nguyên tắc tích hợp – tích cực dạy học:
a Tích hợp:
- Ngay tên môn học: Ngữ văn đã thể hiện quan điểm tích hợp và chương trình đã
khẳng định: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp”.
- Ba phân môn (Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn) phải hướng vào một là Ngữ Văn
và môn Ngữ Văn hàm chưa cả ba phân môn trên
Vì thế việc giảng dạy theo quan điểm tích hợp không phủ định việc dạy các trithức, kĩ năng riêng của từng phân môn Vấn đề là làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩnăng thuộc từng phân môn thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của mônNgữ Văn
- Làm sao kết hợp thật tốt việc hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bìnhgiảng và cảm thụ văn học với việc hình thành kĩ năng: Nghe – nói – đọc – viết, vốn làquá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực
- Vì thế giáo viên trực tiếp giảng dạy phải thực hiện mọi yêu cầu một cách linhhoạt, sáng tạo Mấu chốt của sự sáng tạo đó là luôn luôn suy nghĩ về mục tiêu của bộmôn Ngữ văn để tìm ra những yếu tố đồng quy giữa ba phân môn, tích hợp trong từngthời điểm, theo từng vấn đề Tích hợp theo từng thời điểm (là tiết học, bài học là tíchhợp ngang giữa ba phân môn
VÍ DỤ:
- Khi dạy bài “Tức nước vỡ bờ” (Ngữ văn 8 tập 1), giáo viên cần phải giúp họcsinh đọc – hiểu văn bản lưu loát, rành mạch, thông qua việc đọc hiểu để nhận biết đượctính cách của từng nhân vật qua hành động, cử chỉ, lời nói Ngoài ra giáo viên còn phảitích hợp được với phân môn Tiếng Việt, sử dụng một số chi tiết trong bài để giảng dạytiết “Chỉ từ” và áp dụng vào việc viết bài văn tự sự có sự kết hợp các yếu tố miêu tả vàbiểu cảm
Trang 11- Khi dạy bài “Lão Hạc” (Ngữ Văn 8 tập 1), giáo viên hướng học sinh đến việcđọc – hiểu văn bản để hiểu được chiều sâu nội tâm nhân vật lão Hạc cũng như tính cáchcủa các nhân vật như ông giáo, vợ ông giáo thông qua lời nói, suy nghĩ và hành độngcủa họ Giáo viên tích hợp được cho học sinh kiến thức về dấu ngoặc kép và hướngdẫn học sinh viết bài tập làm văn có sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm nhân vật.
Tích hợp là hợp lại để thống nhất các mặt riêng lẻ thành một tổng thể, phối hợptối ưu các hoạt động dạy học khác nhau, các kĩ năng phương pháp của môn học khácnhau nhằm mục tiêu, mục đích cụ thể, theo một nguyên tắc “đồng tâm”, “đồng quy”hướng tới một nội dung bao hàm cao hơn, sâu hơn, kĩ năng kiến thức của lớp học
Tích hợp (theo từng vấn đề) là tích hợp dọc, là tích hợp về nội dung đang giảngdạy của một phân môn có liên hệ đến nội dung khác hoặc sẽ học ở phân môn kia hoặcchính vì ở phân môn đó nhằm củng cố kiến thức đã học, để giới chí tò mò, tạo hứng thúhọc tập cho học sinh Là tích hợp trên một vấn đề ở một kiến thức và kĩ năng của mộtbài học, một chương học ở một cấp học hướng đến một trình độ cao hơn, sâu hơn trước.Biết khái niệm (đơn vị kiến thức) – Phân biệt kiến thức – Tạo lập văn bản Biết so sánh
mở rộng, khắc sâu kiến thức này với kiến thức khác có liên quan trong bài học, trongchương với nhau
Tích hợp ngang là tích hợp trong từng thời điểm của bài học từ kiến thức bài họccủa phân môn này liên hệ đến các phân môn khác (Văn về Tiếng Việt – Văn về Tập làmvăn hoặc ngược lại) hoặc liên hệ môn Ngữ Văn với các môn học khác với các lĩnh vựctrong cuộc sống để làm nổi bật, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy của học sinh Tíchhợp ngang là hướng ngoại nội dung kiến thức về nhiều lĩnh vực nhằm bổ sang và nângcao Giáo viên phải biết lựa chọn nội dung kiến thức cụ thể, có hướng sắp xếp nội dung
để giảng dạy (lựa chọn phương pháp – công việc để tích hợp) nên chú trọng chiều nganggiữa phân môn văn và Tập làm văn Tránh làm dụng tích hợp ngang quá nhiều để gâytiết học rời rạc nặng nề đối với học sinh
+ Khi dạy bài “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ:
Nội dung của mỗi phần thể hiện điều gì? Thực hiện nội dung đó bằng phươngpháp nào? Vai trò chủ yếu của yếu tố tự sự - miêu tả để bộc lộ tình cảm của nhàthơ Làm rõ chủ đề của tác phẩm
Câu thơ nào trong bài văn thể hiện việc miêu tả - tự sự, mỗi phần bằng những biệnpháp nghệ thuật gì? Thể hiện được nội dung của mỗi phần và làm rõ ý nghĩacủa tác phẩm
+ Khi dạy bài “Vượt thác” của Võ Quảng trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 6 tập 2
giáo viên cần triệt để khai thác mỗi liên hệ giữa văn bản là hai vấn đề đang dạy ở phần