Lời mở đầu Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiến vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Kiểm toán được coi là một công cụ để giám sát, kiểm tra với mục đích nâng cao hiệu quả kế toán, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện nay. Trước xu thế hội nhập như ngày nay, các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểm toán nước ngoài .
Trang 2Lời mở đầu
Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiến vị trí quan trọng trongnền kinh tế Việt Nam Kiểm toán được coi là một công cụ để giám sát, kiểm tra vớimục đích nâng cao hiệu quả kế toán, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ trọng lớntrong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện nay Trước xu thế hội nhập nhưngày nay, các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải đặt ra yêu cầukhông ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể đáp ứng được nhucầu của khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểm toán nước ngoài
Công ty Cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát là một công ty lớn vớirất nhiều công ty con việc kiểm toán báo cáo tài chính là một việc rất quan trọngđối với công ty trong nền kinh tế thị trường hiện nay Một trong những lý luận cơbản trong kiểm toán đó là đánh giá xác định tính trọng yếu Vấn đề này sẽ đượcnhóm trình bày trong tiểu luận ‘Xác định mức trọng yếu tổng thể và phân bổ mứctrọng yếu cho từng khoản mục khi kiểm toán Báo cáo tài chính Công ty Cổ phầnNhựa và Môi trường xanh An Phát’
I Giới thiệu công ty Cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát
Giới thiệu: Công ty Cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát
Địa chỉ: Lô CN11 + CN12, Cụm Công nghiệp An Đồng, Huyện Nam Sách,Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 02203.755.998 Fax 02203.755.113
Trang 3- Tháng 3/2007 Hội đồng thành viên của công ty TNHH Anh Hai Duy thống nhấtphương án chuyển đổi Công ty thành Công ty Cổ phần Nhựa và Bao bì An Phát(nay là Công ty Cổ Phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát), với vốn điều lệ 30 tỷđồng.
- Công ty Cổ Phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát (Tên đối ngoại là An PhatPlastic and Green Environment Joint Stock Company, viết tắt là An Phat.; JSC)được thành lập với vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ theo Giấy phép đăng ký kinh doanhlần đầu được sở Kế hoạch đầu tư Tỉnh Hải Dương cấp ngày 09 tháng 03 năm 2007
- Ngày 06/04/2007, Công ty quyết định tăng vốn điều lệ lên 60 tỷ đồng Phần vốngóp thêm 30 tỷ được phát hành cho các cổ đông cá nhân mới Ngày 13/12/2007,Công ty quyết định tăng vốn điều lệ lên 66 tỷ đồng Phần vốn góp thêm 6 tỷ đượcphát hành cho Beira Limited, nâng tổng số cổ phần của Beira Limited trong Công
ty lên 800.000 cổ phần
- Ngày 17/04/2010, Đại hội đồng cổ đông của Công ty quyết định tăng vốn điều
lệ lên 99 tỷ đồng thông qua việc phát hành cho cổ đông hiện hữu với giá 37.000đồng/cổ phiếu Việc phát hành được hoàn tất vào ngày 15/05/2010
- Tháng 07/2010, Công ty chính thức niêm yết cổ phiếu tại Sở giao dịch chứngkhoán Hà Nội, mã chứng khoán là AAA
- Tháng 10/2010, Nhà máy sản xuất CaCo3 của Công ty chính thức đi vào hoạtđộng, sản lượng trung bình đạt 450 tấn sản phẩm/tháng Trong năm 2011, Công tytiếp tục đầu tư dây chuyền sản xuất số 2, nâng công suất của Nhà máy đạt 10.000tấn sản phẩm/năm, đồng thời xúc tiến xin phép khai thác đá làm nguyên liệu sảnxuất tại mỏ đá Mông Sơn tỉnh Yên Bái
- Tháng 08/2011 Nhà máy sản xuất số 2 mở rộng của An Phát đi vào hoạt động,nâng công suất của nhà máy 2 lên 1.500 tấn sản phẩm/tháng
- Tháng 8/2012, An Phát nộp hồ sơ xin phát hành 9.900.000 cổ phiếu cho cổđông hiện hữu với tỷ lệ 1:1 lên Ủy ban chứng khoán Nhà nước
- Tháng 11/2012, An phát hoàn tất đợt ơhats hành cổ phiếu tăng vốn Điều lệ lên198.000.000.000 đồng
Trang 4- Tháng 12/2012, An Phát hoàn tất việc lưu ký và niêm yết bổ sung cổ phiếu pháthành lên Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội.
- Tháng 12/2013, Nhà máy sản xuất số 5 (Nhà máy 1 mở rộng theo Hồ sơ xinphát hành 2012) hoàn thành và đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm Toàn bộ sảnphẩm của nhà máy sẽ được xuất khẩu sang Nhật Bản
- Tháng 7/2014, An Phát nộp hồ sơ xin phát hành 19.800.000 cổ phiếu cho cổđông hiện hữu với tỷ lệ 1:1 lên Ủy ban chứng khoán Nhà nước
- Tháng 10/2014, An Phát hoàn tất đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn Điều lệ lên396.000.000.000 đồng
- Tháng 11/2014, An Phát hoàn tất việc lưu ký và niêm yết bổ sung cổ phiếuphát hành thêm lên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
- Tháng 9/2015, An Phát thực hiện phát hành 9.899.988 cổ phiếu chi trả cổ tứcnăm 2014 cho cổ đông, tăng vốn điều lệ lên 494.999.880.000 đồng
- Tháng 11/2015, An Phát hoàn tất việc lưu ký và niêm yết bổ sung số cổ phiếu
số cổ phiếu phát hành thêm trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh:
- Mua bán máy móc, thiết bị vật tư, nguyên liệu sản phẩm nhựa, bao bì các loại;
- Sản xuất sản phẩm nhựa (PP, PE);
- In và các dịch vụ quảng cáo trên bao bì;
- Xây dựng công trình dân dụng;
- Lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng;
- Kinh doanh bất động sản;
- Mua bán hàng may mặc;
- Mua bán máy móc thiết bị và phụ tùng thay thế;
- Chuyển giao công nghệ;
Trang 5- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hànghóa;
- Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng ô tô và các hoạt động phụ trợ cho vậntải;
- Hoạt động thu gom, xử lý tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu;
- Xử lý ô nhiễm và hoạt động quản lý chất thải khác;
- Sản xuất máy móc thiết bị phục vụ ngành nhựa
Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh Hoạt động
Bao bì nhựa An Phát là một trong những doanh nghiệp tiên
phong tại Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất bao
bì nhựa tự phân huỷ
Bên cạnh các dòng sản phẩm truyền thống trongnhững năm qua, công ty đã và đang không ngừngnghiên cứu, thí nghiệm sản xuất thành côngnhững dòng sản phẩm bao bì chất lương, thânthiện và phù hợp với nhu cầu của thị trường
Sản phẩm của An Phát được tiêu thụ trên các thịtrường lớn của thế giới như: EU, Mỹ, Châu Phi,Singapo, Nhật…
Hạt nhựa Bên cạnh việc nhập khẩu hạt nhựa cho hoạt động
sản xuất của mình, An Phát cũng chú trọng tớilĩnh vực kinh doanh thương mại hạt nhựa cho cácnhà máy của Việt Nam Hàng năm hoạt động nàycũng tạo doanh thu đang kể cho An Phát
Trang 6Địa bàn kinh doanh: Hiện công ty xuất khẩu 95% tổng sản lượng ra nướcngoài với các thị trường chủ yểu: Đức, Anh, Pháp, Italy…
Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính tại ngày
31 tháng 12 năm 2017XTài sản Mã số
Thuyếtminh 31/12/2017
A TÀI SẢN NGẮN HẠN 100 2,142,715,548,893
I.Tiền và các khoản tương đương
2 Các khoản tương đương tiền 112 388,728,001,564
II ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH NGẮN
1 Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn 123 5.2 50,000,000,000
III CÁC KHOẢN PHẢI THU
2 Thuế GTGT được khấu trừ 152 65,917,582,112
3 Thuế và các khoản khác phải thu
2 Tài sản cố định vô hình 227 5.10 96,512,473,476
Trang 7- Nguyên giá 228 103,445,820,433
- Giá trị hao mòn lũy kế 229 (6,933,346,957)
II Tài sản dở dang dài hạn 240 98,121,103,897
1 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 242 5.11 98,121,103,897III Đầu tư tài chính dài hạn 250 -
1 Đầu tư vào công ty liên doanh,
1 Chi phí trả trước dài hạn 261 5.12 35,612,756,095
2 Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 262 220,148,762
1 Vay và nợ thuê tài chính dài hạn 338 5.17 959,926,578,352
2 Thuế thu nhập hoãn lại phải trả 341 456,553,423
1 Vốn góp của chủ sở hữu 411 835,999,880,000
- Cổ phiếu phổ thông có quyền
3 Chênh lệch tỷ giá hối đoái 417 158,818,819
5 Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu 420 13,177,404,323
6 Lợi nhuận sau thuế chưa phân
Trang 8- LNST chưa phân phối lũy kế
- LNST chưa phân phối năm nay 421b 193,717,667,746
7 Lợi ích cổ đông không khiểm
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2017
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 4,076,763,652,003
3.Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch
15 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 328,054,307,275
18 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 263,364,105,95618.1 Lợi ích của cổ đông thiểu số 40,021,444,21018.2 Lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ 223,342,661,746
19 Lãi suy giảm trên cổ phiếu
Trang 9II Cơ sở xác định mức độ trọng yếu
1 Cơ sở xác lập mức trọng yếu
Trong bước lập ké hoạch kiềm toán KTV cần xác lập mức trọng yếu cho tổng thểBCTC và mức trọng yếu cho từng khoán mục để từ đó có thể ước tính sai lệch cóthể chấp nhận được của BCTC cùng như từng khoán mục phục vụ cho việc kiểmtra chi tiết Mức trọng yếu cho tổng thể BCTC (PM) được xác định tùy thuộc vàotừng loại hình doanh nghiệp, thực trạng hoạt động tài chính, mục đích cùa người sừdụng thông tin Kiêm toán viên thường căn cứ vào các chi tiêu tài chính sau để xácđịnh:
- Doanh thu được áp dụng khi đơn vị chưa có lãi ồn định nhưng đã có doanh
thu ổn định và doanh thu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giáhiệu quà hoạt động Tỉ lệ được các công ty kiêm toán lựa chọn thường là0.5% - 3% doanh thu
- Lợi nhuận trước thuế được áp dụng khi đơn vị có lãi ổn định Lợi nhuận là
chi tiêu được nhiều KTV lựa chọn vì đó là chi tiêu được đông đảo người sửdụng báo cáo tài chính quan tâm Nhất là cổ đông của các công ty Tỉ lệ đượclựa chọn thường từ 5% - 10% lợi nhuận truớc thuế
- Tống tài sàn được áp dụng khi đối với các công ty có khả năng bị phá sản,
có lỗ lũy kế lớn so với vốn góp Người sử dụng có thể quan tâm nhiều hơn
về khả năng thanh toán thì việc sử dụng chi tiêu tồng tài sản là hợp lý Tỉ lệđược lựa chọn thường năm trong khoảng từ 0.5% - 1% tổng tài sản
- Vốn chủ sở hữu được áp dụng khi đơn vị mới thành lập; doanh thu lợi
nhuận chưa có hoặc có nhưng chưa ổn định Tỉ lệ được lựa chọn từ 1% -2%vốn chủ sở hữu
Mức trọng yếu phân bồ cho từng khoán mục: là mức sai lệch tối đa của khoán mục
đó Khi phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục KTV căn cứ vảo phương phápphân bổ của công ty mình, kinh nghiệm cùa KTV về khoản mục đó, bản chất củakhoản mục, các đánh giá về rùi ro tiềm tàng và rùi ro kiểm soát cũng như thời gian
và chi phí kiêm tra khoán mục đó để phân bổ cho hợp lý
Trang 101.1 Tầm quan trọng của việc xác định mức trọng yếu đổi với tổng thể BCTC
Một trong những giới hạn của việc đưa ra quyết định là việc xác định thông tin nhưthế nào thì được trình bày trên BCTC Nếu tầt cả các thông tin tài chính, sự kiệnkinh tế đều được đưa vào BCTC thì BCTC sẽ chứa đựng rầt nhiều thông tin baogồm cả những thông tin không cần thiết, điều này gây khó khăn cho người sử dụngBCTC trong việc chọn lọc thông tin để đưa ra các quyết định của mình Mặt khác,nếu BCTC trình bày thiếu, trình bày sai hay không trình bày một thông tin tàichính quan trọng nào đó, thi điều này cùng gây ảnh hường tới người sử dụngBCTC trong việc ra các quyết định kinh tế Do đó, việc xác định một mức trọngyếu để xác định thông tin nào cần trình bày trên BCTC là rất cần thiết
1.2 Phương pháp xác định mức trọng yếu đối vối tổng thể BCTC
Mức trọng yếu = Tiêu chí X Tỷ lệ %
a Xác định tiêu chí lựa chọn
Xác định tiêu chí (Benchmark) lựa chọn là điểm khởi đầu trong việc xác định mứctrọng yếu đối với tổng thể BCTC:
Các tiêu chí phù hợp thông thường được lựa chọn có thể là:
- Lợi nhuận trước thuế
Xác định tiêu chí phụ thuộc vào nhu cầu thông tin của đại bộ phận đối tượng
sừ dụng thông tin tài chính (nhà đẩu tư, ngân hàng, công chúng, nhà nước )
Xác định tiêu chí còn ảnh hường bời các yếu tố như:
Trang 11- Các yếu tố của BCTC (ví dụ: tài sản, các khoản nợ nguồn vốn doanh thu.chi phí) và các thước đo hoạt động theo các quy định chung về lập và trìnhbày BCTC (ví dụ: tình hình tài chính, kết quà hoạt động, dòng tiền).
Các khoản mục trên BCTC mà người sử dụng có xu hướng quan tâm.
- Đối với các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, người sừdụng BCTC quan tâm chủyếu đến tổng tiền tài trợ hoặc tổng chi phí
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiêm toán, đặc điểm ngành nghề mà đơn vị đang hoạt động.
- Khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vựcc công, tổng chi phí hoặc chi phíthuần (chi phí trừ thu nhập) có thể là tiêu chí phù hợp cho hoạt động củatừng chương trình Khi đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công có quàn lý tài
Trang 12sán công, tài sản có thể là tiêu chí phù hợp đề xác định mức trọng yếu Hoặcđối với những đơn vị mà doanh thu được xác định trên cơ sở tỳ lệ % xácđịnh trên tồng chi phí thực tế thì tổng chi phí phát sinh sẽ là cơ sở phù hợp
Khả năng thay đổi tương đối của tiêu chí đã được xác định: thông thườngKTV nên lựa chọn những tiêu chí mang tính tương đối ổnđịnh qua các năm
- Khi xác định mức trọng yếu, KTV cần phải cân nhắc đến các số liệu về kếtquả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của các kỳ trước, các số liệu
về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính lũy kế đến kỳ này và
kế hoạch hay dự đoán cho kỳ hiện tại, được điều chỉnh khi có biến động lớntheo từng trường hợp cùa đơn vị được kiêm toán (ví dụ một giao dịch hợpnhất kinh doanh lớn: các khoản thu nhập/chi phí bất thường: các khoản tiềnthưởng cho Ban Giám đốc dựa trên lợi nhuận trước thưởng.v.v ) và nhữngthay đổi liên quan trong ngành nghề hay môi trường kinh doanh mà đơn vịđang hoạt động
b Xác định tỉ lệ % cho tiêu chí lựa chọn
KTV phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỉ lệ % áp dụng chotiêu chí đã lựa chọn Tỉ lệ % và tiêu chí được lựa chọn thường có mối liên hệ vớinhau, như tỉ lệ % áp dụng cho mức lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanhliên tục thường cao hơn tỉ lệ % áp dụng cho doanh thu do số tuyệt đối của doanhthu là lợi nhuận trước thuế thường chênh lệch nhau đáng kể và KTV có xu hướngcân băng mức trọng yếu cho từng bộ phận trên BCTC dù áp dụng bất kì tiêu chínào
Trang 13Xác định tỉ lệ % cao hay thấp sẽ ảnh hường đến khối lượng công việc kiểmtoán được thực hiện mà cụ thể số mẫu cần phải kiểm tra, phụ thuộc vào đánh giá vềrùi ro có sai sót trọng yếu của KTV.
Tỉ lệ % xác định tùy thuộc vào tiêu chí lựa chọn Chuẩn mực kiêm toán ViệtNam và Chuẩn mực kế toán quốc tế không đưa ra quy định cụ thể Tuy nhiên, trênthế giới, dựa trên kinh nghiệm hoạt động kiểm toán BCTC hơn 100 năm, có những
tỉ lệ % sau đây được thừa nhận chung trong ngành kiềm toán trên thế giới, trên cơ
sở các số liệu thống kê và quan điểm của đại bộ phận các nhà đầu tư, những ngườitrực tiếp sử dụng BCTC, và được áp dụng rộng rài ờ các nước:
- 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế
Trang 14trước thuế) Ở đây chỉ có tỉ lệ % tối đa, không có tỷ lệ % tối thiểu (0%) vì rùi ro
kiểm toán không bao giờ bằng 0 KTV và Công ty kiểm toán có thể lựa chọn tỷ lệ
% phù hợp với thực tế hoạt động kiểm toán của mình và chính sách quản lý rùi ro
và kiểm soát chất lượng Tuy nhiên, dù áp dụng tỷ lệ % nào, mỗi Công ty cần cóchính sách xác định mức trọng yếu cụ thể để đám bào sự tiện dụng nhất quán trongtất cả các cuộc kiêm toán
Tất nhiên KTV có thể cho rằng vì không có quy định cụ thể về bao nhiêu %
là trọng yếu nên có thể tự lựa chọn cho mình tỳ lệ riêng, ví dụ 20% lợi nhuận trướcthuế Tuy nhiên điều này có nghĩa là KTV và Công ty kiểm toán đã không tuântheo thông lệ chung về mức trọng yếu cũng như quan điểm chung của người sửdụng BCTC tự chấp nhận BCTC có thể xảy ra sai sót trọng yếu ở mức độ rất cao
Có thể dần đến hậu quả là báo cáo kiểm toán không còn đủ độ tin cậy đối vớinhững người sử dụng BCTC.Rùi ro kiềm toán cao, do đó có thể ảnh hướng đến uytín nghề nghiệp của KTV và công ty kiêm toán
Việc xác định tỷ lệ cụ thể trong khoảng tỷ lệ % nêu trên phụ thuộc vào xét đoánchuyên môn của KTV
Ví dụ:
Nếu dựa trên tống tài sản, KTV có thể xác định một sai sót thấp hơn 1%tồng tài sản là không trọng yếu bầt kì sai sót nào lớn hơn 2% tồng tài sản là trọngyếu, còn sai sót nẳm trong khoáng từ 1 % đến 2% tống tài sản có thể là trọng yếuhoặc không trọng yếu tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn và kinh nghiệm củaKTV Người sừ dụng BCTC luôn mong muốn tỷ lệ % mức trọng yếu càng nhỏ, tỷtrọng sai sót càng ít thì càng tốt
Thông thường, trong thực tế kiểm toán, có 4 cách thức áp đụng tỷ lệ % đểtính toán mức trọng yếu như sau:
- Áp dụng một tỷ lệ đơn nhất
KTV sử dụng một tỷ lệ đơn nhất để tính mức trọng yếu Một công ty kiểmtoán có thể quy định 3 hoặc 4 quy tắc như vậy và cho phép KTV trong mỗi cuộckiểm toán có quyền lựa chọn quy tắc phù hợp