Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công: đối với người lao động, doanh nghiệp và nhà nước8 CHƯƠNG 2: TIỀN LƯƠNG CỦA GIÁO VIÊN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI 2.1.. Tiền công thường được sử dụng tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI
TIỀN CÔNG VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA GIÁO VIÊN
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LỚP: L13 - NHÓM: L132.3 - HK211
GVHD: THS VŨ QUỐC PHONG SINH VIÊN THỰC HIỆN
STT MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM BTL ĐIỂM BTL CHÚ GHI
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3STT Mã số SV Họ Tên Nhiệm vụ được phân
1.1 đến 1.4
3 2011833 Nguyễn Trọng Phú đầu, chương 2Mục 2 phần mở
mục2.2 đến 2.3
Mục 3 phần mởđầu, chương 2mục 2.1.2
Mục 4 phần mởđầu, chương 1mục
1.5 chương 2mục 2.1.1
Trang 4MỤC LỤC
1.3 Các hình thức cơ bản của tiền công 51.4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 61.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công: đối với người lao động, doanh
nghiệp và nhà nước8
CHƯƠNG 2: TIỀN LƯƠNG CỦA GIÁO VIÊN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI
2.1 Thực trạng chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta thời gian qua 132.1.1 Khái niệm tiền lương và chính sách tiền lương 132.1.2 Chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta trong thời gian qua 132.1.2.1 Lương của giáo viên của từng cấp bậc giảng dạy 15
Trang 52.1.2.3 Các loại phụ cấp giáo viên được hưởng trong 242.1.2.4 Chính sách mới về tiền lương và thưởng tết của giáo viên 262.1.3 Đánh giá về chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta 272.1.3.1 Lương giáo viên vẫn còn tương đối thấp 272.1.3.2 Thay đổi tích cực về lương giáo viên khi thực hiện Luật giáo dục 282.1.3.3 Chính sách tiền lương hiện này tác động đến giáo viên 302.1.3.4 Lương giáo viên có những cải thiện trong năm 2021 302.2 Những yếu tố cơ bản tác động đến tiền lương của giáo viên ở nước ta hiện nay 31
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tiền công là một tên gọi khác của tiền lương Tiền công gắn liền với các thỏathuận về việc mua bán sức lao động Tiền công thường được sử dụng trong các lĩnhvực dịch vụ, sản xuất kinh doanh, theo các hợp đồng sử dụng lao động có thời hạn.Tiền lương là thuật ngữ chỉ chung cho các khoản tiền thù lao, phí sử dụng sức laođộng, chi phí cho nhân sự… được người sử dụng lao động trả công cho người nhânviên để đổi lấy một nhiệm vụ, một công việc được hoàn thiện, hoàn thành Tiền lương
có thể được tính cố định theo cho mỗi nhiệm vụ, công việc được hoàn thành, hoặc trảtheo định kỳ hàng tháng, hàng tuần, hàng quý… tùy theo thỏa thuận giữa người laođộng và người sử dụng lao động Trong chủ nghĩa tư bản tiền lương là giá cả hàng hóasức lao động chứ không phải giá trị sức lao động Vậy bản chất của tiền lương trongchủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cảcủa sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động Trong bốicảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực và toàn cầu, cácchính sách và thực tiễn điều chỉnh tiền lương cần được cải thiện để tạo sự cân bằnggiữa thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và giúp người lao động cũng được hưởngthành quả công bằng từ tăng trưởng năng suất của doanh nghiệp Xác lập tiền lươngcần dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, phản ánh nhu cầu của người lao động và giađình họ, cũng như nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động nói chung
Chính sách tiền lương và thu nhập là một bộ phận quan trọng trong hệ thốngchính sách kinh tế - xã hội của đất nước và có liên quan đến động lực phát triển vàtăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, khai thác cáckhả năng tiềm tàng của mỗi người lao động
Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá phải gắn liền với phát triển kinh tế tri thức Đó là đòi hỏi tất yếu, kháchquan của sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay Trong kinh tế tri thức, trithức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, là lợi thế của cạnh tranh, là chất lượng của nguồn
Trang 7nhân lực, là sức mạnh của nội lực và là sức hút chủ yếu của ngoại lực Chất lượngnguồn nhân lực, tri thức con người phải thông qua giáo dục và đào tạo mới có được.
Do vậy, nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người ViệtNam trên cơ sở phát triển giáo dục và đào tạo là động lực của sự phát triển kinh tế trithức, là vấn đề có ý nghĩa sống còn trước xu thế toàn cầu hoá Trong những năm gầnđây, Đảng ta coi “phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàngđầu” Để thể hiện giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu thì vấn đề đặt ra là phải đảmbảo những điều kiện vật chất cần thiết để phát triển, nâng cao chất lượng dạy - học của
cả thầy và trò, góp phần thúc đấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Trong đó cải cách chính sách tiền lương mang lại thu nhập cao hơn cho giáo viên luôn
là vấn đề được Chính phủ, Đảng và các Bộ, Ngành, địa phương và chính bản thân giáoviên cũng chú trọng và quan tâm Nhiều chính chánh về tiền lương của đội ngũ giáoviên được đưa ra có hiệu quả đáng kể, tuy nhiên thực tế mối quan hệ tiền lương với chitiêu cuộc sống của giáo viên chưa thay đổi nhiều và phần lớn giáo viên đều chưa thểsống bằng đồng lương hàng tháng Bên cạnh đó, tiền lương được trả của giáo viênchưa gắn liền với công sức bỏ ra khiến hiệu quả làm việc chưa đạt được như mongmuốn Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng giảng dạy do giáo viênchưa toàn tâm toàn ý cho việc dạy học vì cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn Trảlương đúng là đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, tạo động lực chonhà giáo yên tâm cống hiến, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Góp phần quantrọng thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và đổi mới giáo dục.Trước tình hình đó, nhóm em xin làm đề tài tiểu luận bàn về chính sách tiềnlương của đội ngũ giáo viên ở Việt Nam hiện nay
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu chính sách và giải pháp thực hiện chế độ tiền lương của đội ngũ giáoviên ở Việt Nam hiện nay Tìm ra thực trạng, nguyên nhân, phân tích những tác động,ảnh hưởng của những chính sách tiền lương đối với giao viên
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Không gian: Việt Nam
Thời gian: Trong năm 2021 (Chỉ áp dụng đến ngày 20/3/2021)
Trang 84 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Phân tích bản chất hình thái, tiền công danh nghĩa, tiền công thực tế, và ýnghĩa của việc nghiên cứu tiền công đối với người lao động, doanh nghiệp và nhà
nước
- Khái niệm tiền lương, chính sách tiền lương
- Đánh giá thực trạng chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta thời gian
ngủ giảng viên trong thời gian tới
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp biện chứng duy vật, trừu tượng hóa khoa học và cácphương pháp khác như logic, lịch sử, phân tích thống kê, thống kê mô tả, mô hình hóa
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
Chương 2: TIỀN LƯƠNG CỦA GIÁO VIÊN Ở VIỆT NAM TRONG GIAIĐOẠN HIỆN NAY
Trang 9CHƯƠNG 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
1.1 Định nghĩa tiền công.
Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả củahàng hóa sức lao động.
Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền công là giá cả của lao động.
Bởi vì: thứ nhất, nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động
để sản xuất ra hàng hóa; thứ hai, tiền công được trả theo thời gian lao động (giờ, ngày,tuần, tháng), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được. Cái mà nhà tư bản muacủa công nhân không phải là lao động, mà là sức lao động. Tiền công không phải làgiá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động.
1.2 Bản chất kinh tế của tiền công.
Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bảnmột thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số côngviệc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định gọi là tiền công.
Hiện tượng đó làm người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động.Sự thật làtiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động không phải là hànghóa.Sở dĩ như vậy là vì:
Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hìnhthức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được phải có tư liệu sản xuất.
Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sảnxuất ra, chứ không phải bán “lao động”.
Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luậnsau đây:
Trang 10Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bảnkhông thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế củaquy luật giá trọ thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang giá để có giá trịthặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị. Nhưng lao động làthực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động thì không có giá trị. Cái
mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động, mà là sức lao động. Vì thế,lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sứclao động.Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.
Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩ tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiềncủa giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoàithành giá cả của lao động.
1.3 Các hình thức cơ bản của tiền công.
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tínhtheo sản phẩm.
Tiền công tính theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít haynhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng).
Tức là muốn đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công màphải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.Giá cả của một hànghóa lao động là thước đo chính xác tiền công tính theo thời gian.
Tiền công tính theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụthược cào số lượng sản phẩm đã làm ra hay số lượng những bộ phận của sản phẩmhoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thợ gian nhất định. Mỗi sản phẩmđược trả công theo một đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền công. Đơn giá tiền côngđược xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngàyvới số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày.Thực
Trang 11chất thì tiền công tính theo sản phẩm là biến tướng của tiền công tính theo thời giannhưng nó lại tạo động lực mạnh mẽ, kích thích người lao động tích cực lao động, tạothuận lợi cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát lao động của công nhân.
1.4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế.
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức laođộng của mình cho nhà tư bản.
Tiền công danh nghĩa là khoản tiền mà người lao động thỏa thuận với chủ doanhnghiệp khi kí hợp đồng giữa hai bên.
Ví dụ: một công nhân được 10 triệu đồng/ tháng từ tổ chức/công ty của mình đểđổi lấy dịch vụ lao động do công nhân ấy cung cấp. Hoặc một công ty/tổ chức tuyểndụng công dân với mức lương là 10 triệu đồng/tháng.
Tiền công danh nghĩa không vạch rõ được đầy đủ mức sống của công nhân. Tiềncông danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳtheo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường.
Ví dụ: tiền lương công nhân nhận được 10 triệu đồng/ tháng. Nhưng giá cả hànghóa tiêu dùng tăng lên, chi tiêu của công nhân cũng phải tăng lên.Do đó tiền lương 10triệu/tháng là không đủ. Vì thế tiền lương của công nhân sẽ được tổ chức/ công ty củamình điều chỉnh tăng lên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình do giá cả hàng hóatăng.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêudùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
Ví dụ: công dân dùng số tiền lương hàng tháng để trả tiền thuể nhà, tiền điện nước
và tiền ăn uống, sinh hoạt,…
Mối quan hệ giữa tiền công thực tế và tiền công danh nghĩa:
Thứ nhất, trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên,nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế
Trang 12giảm xuống hoặc tăng lên(tiền công thực tế và giá cả tiêu dùng và dịch vụ tỉ lệ nghịchvới nhau).
Thứ hai, nếu các điều kiện khác không đổi (giá cả, sức mua của đồng tiền) khi tiềncông danh nghĩa tăng thì tiền công thực tế tăng.
Tiền công là giá cả sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổicủa giá trị sức lao động. Gía trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngươcchiều nhau.
Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động.
Ví dụ: nâng cao trình độ chuyên môn người lao động, sự tăng lên của nhu cầu cùngvới sự phát triển của xã hội, sự tăng cường độ lao động. Khoa học kĩ thuật phát triển,chi phí đào tạo tăng, giá trị sức lao động tăng, tiền công tăng.
Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động.
Ví dụ: tăng năng suất lao động làm giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ, giá trị sức lao độnggiảm, tiền công giảm.
Sự tác động qua lại lẫn nhau của các nhân tố dẫn tới quá trình phức tạp của sự biếnđổi giá trị sức lao động dẫn đến sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế.
Tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khikhông theo kịp mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ; đồng thời thất nghiệp làhiện tượng thường xuyên, khiến cho cung lao động về làm thuê vượt qua cầu về laođộng, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó, vì vậy tiềncông thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp.
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có nhữngnhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công. Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân đòi tăng tiền công. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngàynay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nên nhu cầu về sức laođộng có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ
Trang 13chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng làmột nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công.
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công: đối với người lao động, doanh
nghiệp và nhà nước
1.5.1 Đối với người lao động
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động.Do đó khi người laođộng quan tâm đến chính sách tiền lương, họ sẽ biết được những lợi ích mà mình có,những bất lợi, những tiêu chí, chính sách của nhà nước, của đơn vị, tổ chức về tiềncông, điều kiện chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc. Một người qua nhiều năm công tác
sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra trongcông việc, nâng cao kĩ năng và trách nhiệm của mình trước công việc đạt năng suấtchất lượng cao vì thế mà thu nhập của họ sẽ ngày càng tăng lên.
Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đềuảnh hưởng ngay đến tiền lương của người lao động.
Thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến tiền công của người lao động: nếu thịtrường có cầu vượt cung, tiền công của người lao động có thu nhập do tăng ca; hànghóa bán ra thị trường tăng lên, nguồn thu của các doanh nghiệp tăng, do đó kéo theotiền công của người lao động tăng. Nhưng nếu cầu thấp hơn cung dẫn đến sản xuất dưthừa, chi phí sản xuất cao hơn chi phí bán hàng, hàng hóa bán ra thị trường giảm,
Trang 14nguồn thu của các doanh nghiệp giảm, do đó kéo theo tiền công của người lao độnggiảm.
Điều kiện thực hiện công việc: tức là để thực hiện công việc cần xác định phầnviệc phải làm, tiêu chuẩn cụ thể để thực hiện công việc, cách thức làm việc với máymóc, môi trường thực hiện khó khăn hay dễ dàng đều quyết định đến tiền lương.
Đối với cán bộ, công chức, những người hưởng lương trong lực lượng vũ trang,công chức, viên chức nhà nước chủ yếu lấy từ thuế, phí, lệ phí, là khoản phân phối lạicủa quá trình sản xuất, kinh doanh trong thu nhập quốc dân. Họ phải biết đước chínhsách tiền công của Nhà nước đối với công nhân, viên chức.
1.5.2 Đối với doanh nghiệp
Có thể nói tiền công và tiền lương là vấn đề khá phức tạp đối với tất cả các doanhnghiệp nói chung, chi phối nhiều mặt hoạt động của cán bộ công nhân viên trong cácdoanh nghiệp, nhưng mặt khác nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố.Do đó muốn thựchiện tốt công tác quản lý tiền công và tiền lương thì đòi hỏi sự quản lí của doanhnghiệp phải nghiên cứu đầy đủ các yếu tố:
Tiền lương được coi là một bộ phận của chi phí sản xuất. Vì vậy, chi cho tiềnlương là chi cho đầu tư phát triển- một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp.Tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng
và hợp lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình.
Các chính sách của doanh nghiệp: các chính sách lương, phụ cấp, giá thành sảnphẩm bán ra, giá thành nguyên vật liệu mua vào để sản xuất phải cải tiến, tính toán thuchi hợp lí vì khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương, phải
có những quyết sách đúng đắn và phải được áp dụng triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy laođộng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, trực tiếp tăng nguồn thu, đem về lợinhuận cho doanh nghiệp, qua đó thu nhập của người lao động sẽ được cải thiện
Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền lương cho ngườilao động sẽ thuận tiện dễ dàng.Còn ngược lại nếu khả năng tài chính không vững thì
Trang 15tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh. Do đó doanh nghiệp nên có nhữngchính sách hợp lí để giải quyết tiền công cho người lao động.
Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương. Việcquản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát, quản
lí và đề ra những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động
để tăng hiệu quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương.
Ngoài ra công việc có sức hấp dẫn cao thu hút được nhiều lao động, khi đó doanhnghiệp sẽ không bị sức ép tăng lương, ngược lại với công việc kém hấp dẫn để thu hútđược lao động doanh nghiệp phải có biện pháp đặt mức lương cao hơn.
1.5.3 Đối với nhà nước
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế
- xã hội của đất nước, có liên quan trực tiếp đến đời sống của hàng triệu ngườilao động. Thực hiện chính sách tiền lương đúng không chỉ trở thành động lực phát huynhân tố con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội mà còn thực hiện tốt hơncông bằng, tiến bộ xã hội, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước,phát triển thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập quốc tế.
“ Đảng và Nhà nước ta không ngừng chỉ đạo ban hành nhiều văn bản điều chỉnh,
bổ sung, từng bước hoàn thiện chính sách tiền lương, hoàn thiện cơ chế quy định mức lương tối thiểu vùng và chế độ tiền lương của khu vực doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ sở và ban hành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi
đã bố trí đủ nguồn lực, không ban hành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, bước đầu triển khai xây dựng danh mục vị trí việc làm để làm cơ sở cho việc trả lương…” 1
Trang 16Chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh được ban hành và ngày cànghoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụ thể là:
- Người sử dụng lao động có quyền xây dựng thang lương, bảng lương, địnhmức lao động theo các quy định do Chính phủ quy định và quyết định hình thức chế độtrả lương một cách hợp lí cho người lao động đảm bảo tuân thủ các quy định trongchính sách tiền lương theo pháp luật
“Tiếp tục hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu; quy định mức lương tối thiểu theo giờ; định kỳ xem xét, thay đổi, công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở mức sống tối thiểu của người lao động, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị trường lao động, khả năng của nền kinh tế; rà soát, phân vùng áp dụng mức lương tối thiểu phù hợp với sự phát kinh tế xã hội và thị trường lao động của từng vùng.” 2
- Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nhà nước) có quyền tự chủ, quyết địnhchính sách tiền lương ( thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương gắn vớinăng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với từng loại hình doanh nghiệp, loại hình kinh doanh, nhà nước có nữngchính sách phù hợp, chẳng hạn như:
- Đối với doanh nghiệp do nhà nước sở hữu, Nhà nước quy định các tiêu chí,điều kiện xác định, quyết định tiền lương và tiền thưởng gắn với năng suất lao động trảcho người lao động gắn với năng suất lao động lợi nhuận theo nguyên tắc năng suấtlao động, lợi nhuận tăng thì tiền lương tăng, năng suất lao động, lợi nhuận giảm thìtiền lương giảm và hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Tạo thuận lợi cho doanh nghiệpsắp xếp tổ chức lao động, nâng cao năng suất lao đọng đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinhdoanh, cải thiện đời sống người lao động.
“Đối với doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước: Nhà nước quy định nguyên tắc xác định quỹ lương gắn với năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: để người đại diện phần vốn nhà nước tham gia biểu quyết, quyết định trong Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên.
Trang 17Đối với doanh nghiệp làm nhiệm vụ bình ổn thị trường theo nhiệm vụ được Nhà nước giao thì tính toán, xác định để loại trừ làm cơ sở xác định tiền lương, tiền thưởng của người lao động và người quản lý doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp dịch vụ công ích, Nhà nước tính đủ chi phí tiền lương phù hợp với mặt bằng thị trường vào chi phí, đơn giá sản phẩm, dịch vụ công ích.” 3
Nhà nước điều chỉnh tiền lương, thu nhập thông qua các chính sách qui định vềtiền lương của Nhà nước để đảm bảo hài hòa, không có sự chênh lệch quá lớn lợi íchgiữa người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước, hướng tới công bằng xãhội.
3Vũ Thị Giang, & Đỗ Doãn Tú (Trường Đại học Công đoàn) (07/08/2019).Tiền lương và vai trò của tiền lương
trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Truy cập từ: tapchicongthuong.vn
Trang 18CHƯƠNG 2: TIỀN LƯƠNG CỦA GIÁO VIÊN Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Thực trạng chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta thời gian qua.
2.1.1 Khái niệm tiền lương và chính sách tiền lương.
Tiền lương là một nội dung quan trọng, nhưng khá phức tạp, liên quan đến nhiềuchính sách kinh tế - xã hội khác. Trong quá trình nghiên cứu hoạch định, cải cáchchính sách tiền lương nếu các quan điểm, nhận thức và các nội dung về tiền lươngkhông được làm rõ, hiểu và nhận thức thống nhất thì các chương trình, dự án, đề ánkhó có thể đạt được chất lượng mong muốn.
Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sáchkinh tế- xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường laođộng và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn,trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm
1985, năm 1993 và năm 2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về Đề án cảicách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn
2003 - 2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉđạo của Đại hội Đảng các khoá X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá X,đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 vàKết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI.Nhờ đó,tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, gópphần nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, chính sách tiềnlương từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
2.1.2 Chính sách tiền lương của giáo viên ở nước ta trong thời gian qua
Luật Giáo dục năm 2019 có nhiều điểm tác động đến tiền lương của giáo viên.
Trang 19Năm 2019, Quốc Hội đã thông qua quyết định điều chỉnh mức lương cơ sở của cán
bộ giáo viên từ 1,49 triệu/ tháng lên 1,6 triệu/ tháng. Như vậy, mức lương của giáoviên tăng thấp nhất là 165.000 đồng và cao nhất là 880.000 đồng.
Tiền lương của giáo viên sẽ không còn thêm phụ cấp thêm niên.
Luật Giáo dục quy định mức lương được phù hợp với từng vị trí, cấp bậc của giáoviên.
“Ông Nguyễn Hữu Độ, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho biết quan điểm chỉ đạo củaĐảng tại Nghị quyết số 27 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành T.Ư khóa XII về cảicách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang vàngười lao động trong doanh nghiệp là xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mớitheo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo thay hệ thống bảng lương hiện hành,bảo đảm không thấp hơn mức lương hiện hưởng”.
Chính sách mới sẽ xóa bỏ những chênh lệch lớn giữa giáo viên cũ, lâu năm và giáoviên trẻ mới ra trường.
Tuy nhiên, dịch COVID-19 bùng phát mạnh mẽ vào nửa đầu năm 2020 làm mức
độ tăng trưởng kinh tế đất nước giảm sút. Chính vì lí do đó, vào tháng 6/2020, QuốcHội đồng ý với đề xuất hoãn tăng mức lương cơ sở cho giáo viên vào 1/7/2020.
Mức lương cơ sở không tăng kéo theo lương và phụ cấp vẫn không thay đổi.
Mức lương của giáo viên được tính theo công thức:
Lương + Phụ cấp = Hệ số x Mức lương cơ sở
Cách tính lương giáo viên:
Lương = Hệ số lương x 1.490.000 Phụ cấp ưu đãi = Lương x 30%
Đóng bảo hiểm xã hội = Lương x 10.5%
Thực nhận = Lương + Phụ cấp ưu đãi – Đóng bảo hiểm xã hội
Trang 202.1.2.1 Lương của giáo viên của từng cấp bậc giảng dạy (Chỉ áp dụng đến ngày 20/3/2021)
2.1.2.1.1 Bảng lương giảng viên đại học công lập
Đối tượng này vừa được Bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn cách xếp lương theoĐiều 10 Thông tư 40/2020/TT-BGDĐT sẽ có hiệu lực từ ngày 12/12/2020. Trongnăm 2021 , giảng viên đại học sẽ được xếp lương theo quy định của thông tư này.Cụthể :
- Giảng viên cao cấp hạng I : áp dụng hệ số lương của viên chức loại A3, nhómA3.1 từ 6,2 -8,0;
- Giảng viên chính hạng II : áp dụng hệ số lương của viên chức A2 , nhóm A2.1
từ 4,4 – 6,78;
- Giảng viên chính hạng III , Trợ giảng hạng III : áp dụng hệ số lương của viênchức loại A1 từ 2,34 – 4,98
Nguồn : Nguyễn Hương (13/11/2020) , Bảng lương giáo viên mới nhất (chỉ áp
dụng đến ngày 20/3/2021). Truy câp từ : luatvietnam
2.1.2.1.2 Bảng lương giáo viên trung học phổ thông (cấp 3) công lập
Trang 21Giáo viên cấp 3 được xếp lương theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 23/2015 /TTLT-BGDĐT-BNV.Cụ thể:
Giáo viên cấp 3 hạng I: Áp dụng hệ thống lương của viên chức loại A2, nhómA2.1 từ 4,40 - 6,78;
Giáo viên cấp 3 hạng II: Áp dụng hệ thống lương của viên chức loại A2, nhómA2.2 từ 4,0 - 6,38;
Giáo viên cấp 3 hạng III: Áp dụng hệ thống lương của viên chức loại A1 từ 2,34 4,98.
-Nguồn : Nguyễn Hương (13/11/2020) , Bảng lương giáo viên mới nhất (chỉ áp
dụng đến ngày 20/3/2021). Truy câp từ : luatvietnam
2.1.2.1.3 Bảng lương cho giáo viên trung học cơ sở (cấp 2) công lập
Giáo viên cấp 2 được xếp lương theo quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch số 22/2015 /TTLT-BGDĐT-BNV.Cụ thể:
Giáo viên cấp 2 hạng I: Áp dụng số lương loại A2, nhóm A2.2 từ 4,0 - 6,38;
Giáo viên cấp 2 hạng II: Áp dụng số lương loại A1 từ 2,34 - 4,98;
Trang 22Giáo viên cấp 2 hạng III: Áp dụng số lương loại A0 từ 2,10 - 4,89.
Nguồn : Nguyễn Hương (13/11/2020) , Bảng lương giáo viên mới nhất (chỉ áp
dụng đến ngày 20/3/2021). Truy câp từ : luatvietnam
2.1.2.1.4 Bảng lương cho giáo viên tiểu học công lập
Giáo viên tiểu học được xếp lương theo quy định tại Điều 2 và Điều 9 Thông tưliên tịch số 21/2015 / TTLT-BGDĐT-BNV.Cụ thể:
Giáo viên tiểu học hạng II: Áp dụng số lương loại A2, nhóm A2.2 từ 2,34 – 4,98;Giáo viên tiểu học hạng III: Áp dụng số lương loại A1 từ 2,1 - 4,89;
Giáo viên tiểu học hạng IV: Áp dụng số lương loại A0 từ 1,86 - 4,06.