Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với các tên gọi khác nhau: ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, ở Thụy Điển gọi là thuế đặc biệt. Ở nước ta tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951. Đến năm 1990 Bộ tài chính soạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế hàng hóa thành thuế tiêu thụ đặc biệt và được Quốc Hội thông qua ngày 3061990. Sau đó được sửa đổi bổ sung tại kì họp thứ 3 Quốc hội khóa 9 và thông qua ngày 571993. Đến tháng 101995 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt lại được sửa đổi, bổ sung lần nữa. Để phát huy vai trò của luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong điều tiết săn xuất, tiêu dùng xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách nhà nước một cách hợp lí, tăng cường quản lý sản xuất kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ; ngày 2051998 Quốc hội đã thông qua luật thuế tiêu thụ đặc biệt và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 111999 thay thế luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 và hai đạo luật sửa đổi, bổ sung ban hành năm 1993 và năm 1995.
Trang 1Bài thuyết trình
Nhóm 3 (Group 1)
Nội Dung:Tổng quan về thuế tiêu thụ đặc biệt.
Danh sách thành viên nhóm
Hồ Thu Hằng (nhóm trưởng) 592149 9,5
Nguyễn Quang Trường 605147 9,5
Trang 2THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
A Nguồn gốc hình thành thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với các tên gọi khác nhau: ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, ở Thụy Điển gọi là thuế đặc biệt Ở nước ta tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951 Đến năm 1990 Bộ tài chính soạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế hàng hóa thành thuế tiêu thụ đặc biệt và được Quốc Hội thông qua ngày 30/6/1990 Sau
đó được sửa đổi bổ sung tại kì họp thứ 3 Quốc hội khóa 9 và thông qua ngày 5/7/1993 Đến tháng 10/1995 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt lại được sửa đổi, bổ sung lần nữa Để phát huy vai trò của luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong điều tiết săn xuất, tiêu dùng xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách nhà nước một cách hợp lí, tăng cường quản lý sản xuất kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ; ngày 20/5/1998 Quốc hội
đã thông qua luật thuế tiêu thụ đặc biệt và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1999 thay thế luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 và hai đạo luật sửa đổi, bổ sung ban hành năm
1993 và năm 1995
Sau đó Quốc hội lại ban hành luật 08/2003/QH11 sửa đổi bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt 05/1998/QH10 Vào ngày 14/11/2008 quốc hội ban hành luật số 27/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 1/4/2009 thay thế hoàn toàn luật 08/2003/QH11 và luật sửa đổi bổ sung 05/1998/QH10
Vào ngày 26/11/2014 quốc hội tiếp tục ban hành luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 sửa đổi bổ sung một số điều 27/2008/QH12
⇨ Như vậy hiện nay 2 luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới nhất có luật thuế đối với thuế tiêu thụ đặc biệt đó là luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 71/2014/QH13 và luật số 27/2008/QH12
B Tổng quan thuế tiêu thụ đặc biệt
1 Khái niệm
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ
2 Ðặc điểm của Thuế tiêu thụ đặc biệt
Là một loại thuộc tiêu dùng, song Thuế tiêu thụ đặc biệt có những đặc điểm giống như sau :
Trang 3- Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước qui định hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng ; kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc
- Mức thuế suất Thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước quy định rất cao vì thuế đánh vào một số hàng hóa dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người và có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người trong xã hội
- Cách thu Thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước cũng giống nhau, tức là nhà nước chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt
3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt
Tầm quan trọng của thuế tiêu thụ đặc biệt:
Xuất phát từ đặc điểm chung đã được trình bày ở phần trên, do đó Thuế tiêu thụ đặc biệt có tầm quan trọng như sau:
- Thông qua chế độ thu Thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước
- Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẩn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội
- Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó
- Việc ban hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh,lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này
4 Mối liên hệ giữa thuế tiêu thụ đặc biệt với các loại thuế khác
Mối liên hệ giữa thuế tiêu thụ đặc biệt với các loại thuế khác trong quá trình lưu thông hàng hóa, thực hiện dịch vủ (chủ yếu là thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, nhập khẩu ) :
Các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt không phải chịu thuế giá trị gia tăng đối với số lượng hàng hóa, dịch vụ đã kê khai nộp Thuế tiêu thụ đặc
Trang 4biệt Chẳng hạn, cơ sở trực tiếp sản xuất khi bán ra những mặt hàng thuộc diện chiụ Thuế tiêu thụ đặc biệt thì cơ sở này chỉ kê khai nộp Thuế tiêu thụ đặc biệt mà không phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng đối với số hàng hoá đã chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt
Trường hợp cơ sở sản xuất có tổ chức chi nhánh, cửa hàng tiêu thụ sản phẩm trực thuộc thì cơ sở sàn xuất phải kê khai và nộp Thuế tiêu thụ đặc biệt tại nơi sản xuất Các chi nhánh, cửa hàng tiêu thụ sản phẩm phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo thuế suất đối với hoạt động kinh doanh thương nghiệp
Các hàng hóa, dịch vụ đã chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt, khi lưu thông trên thị trường, tức là được chuyển qua khâu thương nghiệp thì các cơ sở kinh doanh các mặt hàng này không phải nộp Thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng phải nộp thuế giá trị gia tăng theo biểu thuế ngành kinh doanh thương nghiệp
Cơ sở nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp Thuế tiêu thụ đặc biệt cùng với thuế nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu, khi bán hàng hóa này thì cơ sở phải nộp thuế giá trị gia tăng
5 Nguyên tắc thiết lập thuế tiêu thị đặc biệt
Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định trong phạm vi hàng hoá,dịch
vụ đặc biệt cần điều tiết cao
Thuế tiêu thụ đặc biệt được thiết lập thép nguyên tắc không phân biệt hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu
Thuế xuất thuế tiêu thụ đặc biệt được thiết kế cao hơn thuế tiêu dùng thông thường
và phân biệt chi tiết cho từng đối tượng
Thuế tiêu thụ đặc biệt phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ ,liên hoàn với các sắc thuế tiêu dùng khác trong hệ thống thuế đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
6 Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Là những loại hàng hoá, dịch vụ không thật cần thiết, có hại cho con người hoặc ảnh hưởng đến tiêu dùng (Theo quy định tại điều 2 luật thuế tiêu thụ đặc biệt, điều 2 Nghị định 26)
- Hàng hóa: Là các sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh, không bao gồm bộ linh kiện để lắp ráp các hàng hoá này
Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu;Bia
Trang 5- Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng;
Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3;
Tàu bay, du thuyền (là loại sử dụng cho mục đích dân dụng)
- Xăng các loại
- Đối với mặt hàng điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB: trường hợp cơ sở sản xuất bán hoặc cơ sở nhập khẩu nhập tách riêng từng bộ phận là cục nóng hoặc cục lạnh thì hàng hóa bán ra hoặc nhập khẩu (cục nóng, cục lạnh) vẫn thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB như đối với sản phẩm hoàn chỉnh (máy điều hoà nhiệt độ hoàn chỉnh)
- Bài lá;
- Vàng mã, hàng mã (không bao gồm hàng mã là đồ chơi trẻ em, đồ dùng dạy học) Lưu ý: Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa quy định là các sản phẩm hàng hóa hoàn chỉnh, không bao gồm bộ linh kiện để lắp ráp các hàng hóa này
- Dịch vụ:
- Kinh doanh vũ trường;
- Kinh doanh mát-xa (massage), karaoke
- Kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự; kinh doanh đặt cược (bao gồm: đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật)
- Kinh doanh đặt cược bao gồm: Đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật
- Kinh doanh golf bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi golf
- Kinh doanh xổ số
Trang 67 Đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
1 Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công chế biến trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu bao gồm:
a Hàng hóa do các cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu ra nước ngoài bao gồm
cả hàng hóa bán, gia công cho doanh nghiệp chế xuất, trừ ô tô dưới 24 chỗ ngồi bán cho doanh nghiệp chế xuất
- Cơ sở có hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế TTĐB theo quy định này phải có
hồ sơ chứng minh là hàng đã thực tế xuất khẩu:
- Hợp đồng bán hàng hoặc hợp đồng gia công cho nước ngoài
- Hóa đơn bán hàng hóa xuất khẩu hoặc trả hàng, thanh toán tiền gia công
- Tờ khai hàng hóa xuất khẩu
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng
b Cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB nếu tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu theo giấy phép tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu, trong thời hạn chưa phải nộp thuế xuất nhập khẩu thì khi tái nhập khẩu không phải nộp thuế TTĐB, nhưng khi cơ sở sản xuất xuất bán hàng hóa này phải nộp thuế TTĐB
Trang 7c Hàng hóa do cơ sở sản xuất bán hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế
- Đối với hàng hóa cơ sở xuất khẩu mua, nhận ủy thác xuất khẩu để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước, cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải kê khai, nộp thuế TTĐB đối với hàng hóa này khi tiêu thụ bán trong nước
d Hàng hóa mang ra nước ngoài để bán tại hội chợ triển lãm ở nước ngoài
2 Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp sau
a Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng, quà biếu bao gồm:
- Hàng viện trợ nhân đạo và hàng viện trợ không hoàn lại, bao gồm cả hàng nhập khẩu bằng nguồn viện trợ không hoàn lại được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; hàng trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh
- Quà tặng của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân
- Quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo định mức quy định của pháp luật
b Hàng hóa quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu, bao gồm:
- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu
ra khỏi Việt Nam
- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
- Hàng quá cảnh, mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cơ sở Hiệp định
đã ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài hoặc giữa cơ quan, người đại diện được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài ủy quyền
Trang 8- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam
c Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, nếu thực tái xuất khẩu trong thời hạn không phải nộp thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì không phải nộp thuế TTĐB tương ứng với số hàng thực tái xuất khẩu
- Hàng hóa tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu, nếu thực tái nhập khẩu trong thời hạn không phải nộp thuế xuất khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì không phải nộp thuế TTĐB tương ứng với số hàng thực tái nhập khẩu
d Hàng tạm nhập khẩu để dự hội chợ, triển lãm, nếu thực tái xuất khẩu trong thời hạn chưa phải nộp thuế nhập khẩu theo chế độ quy định
- Hết thời gian hội chợ, triển lãm mà tổ chức, cá nhân không tái xuất hàng tạm nhập khẩu thì phải kê khai, nộp thuế TTĐB; nếu tổ chức, cá nhân không kê khai mà bị kiểm tra, phát hiện thì ngoài việc truy thu thuế TTĐB còn bị xử phạt theo quy định của pháp luật
e Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về miễn trừ ngoại giao
f Hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế nhập khẩu của cá nhân người Việt Nam và người nước ngoài khi xuất, nhập cảnh qua cửa khẩu Việt Nam
g Hàng nhập khẩu để bán miễn thuế tại các cửa hàng bán hàng miễn thuế theo quy định của pháp luật
h Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ
- Chú ý:Cơ sở nhập khẩu các mặt hàng thuộc các trường hợp không phải chịu thuế TTĐB khi nhập khẩu theo quy định trên, nếu dùng vào mục đích khác thì phải kê khai, nộp thuế TTĐB khâu nhập khẩu với cơ quan hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản
lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
3 Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách và kinh doanh du lịch
Trang 94 Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông;
5 Nap-ta (naphtha), condensate, chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác do cơ sở sản xuất ra nap-ta (naphtha), condensate, chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác trực tiếp bán ra cho cơ sở sản xuất khác để
sử dụng làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm (trừ sản xuất xăng)
6 Điều hoà nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU trở xuống, theo thiết kế của nhà sản xuất chỉ để lắp trên phương tiện vận tải, bao gồm ô tô, toa xe lửa, tàu, thuyền, tàu bay
Trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu; uỷ thác nhập khẩu hệ thống điều hoà trung tâm trên 90.000 BTU hoặc cơ sở kinh doanh nhập khẩu ký hợp đồng với nhà thầu lắp đặt thiết bị trong nước về việc cung cấp hệ thống điều hòa trung tâm trên 90.000 BTU; việc giao hàng tùy thuộc vào tiến độ thi công công trình (hệ thống điều hòa này được nhập khẩu thành nhiều lần nhiều chuyến) để không phải tính nộp thuế TTĐB đối với từng lần nhập khẩu là các chi tiết của thiết bị nhập khẩu như cục nóng hoặc cục lạnh
8 Cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt
- Giá tính thuế TTĐB là giá bán của cơ sở sản xuất chưa có thuế GTGT và chưa có thuế TTĐB, được xác định cụ thể như sau:
Giá tính thuế TTĐB = Giá bán chưa có thuế GTGT / 1 +thuế suất thuế TTĐB
Ví dụ :
- Cơ sở sản xuất X sản xuất sản phẩm A (A là hàng hóa chịu thuế TTĐB), giá bán 1 sản phẩm A chưa thuế GTGT là 130.000 đồng/sản phẩm, thuế suất thuế TTĐB là 30% thì:
Giá tính thuế TTĐB = 130.000 / (1+ 30%) = 100.000 đồng
Thuế TTĐB phải nộp = 100.000 * 30% = 30.000 (đồng)
- Trường hợp cơ sở sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB bán hàng qua các chi nhánh, cửa hàng, cơ sở phụ thuộc thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá do các chi nhánh, cửa
Trang 10hàng, cơ sở phụ thuộc bán ra chưa có thuế GTGT Cơ sở sản xuất bán hàng thông qua đại
lý bán đúng giá do cơ sở quy định, hưởng hoa hồng thì giá làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB là giá bán chưa có thuế GTGT do cơ sở sản xuất quy định chưa trừ hoa hồng
- Đối với bia hộp (bia lon), cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:
Giá tính thuế TTĐB = (Giá bán chưa có thuế GTGT – Giá trị vỏ hộp) / (1 + thuế suất thuế TTĐB)
9 Tìm hiểu thêm
- Đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước ngọt: Lợi bất cập hại?
TheLEADERDự thảo tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước ngọt lên 10% của Bộ tài chính đã vấp phải nhiều phản đối của các cơ quan và doanh nghiệp cả trong và ngoài nước
- Theo đề xuất được Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến, các loại nước ngọt sẽ được bổ sung vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) gồm nước ngọt có ga, không ga, tăng lực, thể thao, trà, cà phê uống liền được đóng gói theo dây chuyền sản xuất nước ngọt
- Bộ Tài chính dự kiến trình Chính phủ hai phương án thuế suất Một là áp mức thuế 10% từ năm 2019 và hai là áp thuế 20% từ năm 2019 Tuy nhiên, cơ quan này thiên về phương án đầu tiên hơn
- Bộ này cũng đưa ra 3 lý do về quyết định áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước ngọt:
cơ cấu lại thuế để tăng ngân sách; phù hợp với xu hướng quốc tế và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng tránh bệnh tiểu đường và béo phì
- Tuy nhiên, nhiều cơ quan quản lý và đặc biệt là khối doanh nghiệp đã lên tiếng phản đối, cho rằng các lợi ích mà động thái này mang lại không bù đắp lại được những tác động tiêu cực của nó đối với thị trường
- Doanh nghiệp rượu - bia - nước giải khát đang chịu những điều kiện gì?
Trao đổi với TheLEADER bên lề Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 luật
sư Nguyễn Tiến Vỵ, Phó Chủ tịch Hiệp hội bia - rượu - nước giải khát Việt Nam (VBA) cho biết, bia, rượu, nước giải khát là ngành kinh doanh có điều kiện và phải tuân thủ một
số quy định riêng"