TÊN ĐỀ TÀI LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Giúp việc là một ngành nghề lao động đã có từ lâu đời Bắt đầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ, người giú[.]
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI: LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài
Giúp việc là một ngành nghề lao động đã có từ lâu đời Bắt đầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ, người giúp việc còn được gọi là hầu
nữ, nô tì hay là nô lệ và chỉ những gia đình quý tộc, giàu có, quyền quý mới có thể sở hữu những người nô lệ Những người giúp việc thời này luôn bị bóc lột về mặt sức khỏe lẫn tinh thần, phải làm việc cực lực mà không được trả công xứng đáng, không được pháp luật bảo vệ và chỉ có thể sống dựa vào gia chủ
Xã hội ngày càng phát triển, tiến tới xã hội chủ nghĩa, mọi người dân đều có quyền tự do dân chủ, người giúp việc giờ đây được xem là một ngành nghề lao động bình đẳng với tất cả các loại ngành nghề khác Ngày nay, người giúp việc phải được bảo vệ về mặt sức khỏe, tinh thần, thời gian làm việc hợp lý, được trả công xứng đáng và trên hết là được pháp luật bảo vệ
Tại Việt Nam, với tình hình kinh tế - xã hội đang trên đà phát triển, người dân ngày càng bận rộn và rất cần người chăm lo việc nhà cửa, từ đó lao động giúp việc trở nên quan trọng trong phần lớn gia đình ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực thành phố Hiện nay không chỉ những gia đình thượng lưu giàu có mới cần đến người giúp việc,
mà còn có những gia đình trung lưu bận rộn Tuy nhiên, dù số lượng người lao động là người giúp việc tạo Việt Nam ngày càng tăng nhanh nhưng một số lao động còn thiếu chuyên nghiệp, quyền và lợi ích hợp pháp của người giúp việc còn chưa được bảo vệ thỏa đáng, pháp luật Việt Nam cần phải được hoàn thiện hơn nữa
Trang 2Vì những những lý do trên nên sinh viên quyết định chọn đề
tài: “Lao động là người giúp việc trong gia đình theo pháp luật” làm tiểu luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Phần lớn những lao động là người giúp việc trong gia đình đều đến từ các vùng nông thôn, do không có việc làm tại quê nhà, họ lên thành phố để tìm cơ hội việc làm Công việc giúp việc không đòi hỏi trình độ học vấn hay kinh nghiệm gì hết, chỉ đòi hỏi là người giúp việc có thể làm công việc dọn dẹp nhà cửa, trông con cái cho chủ gia đình, nên đã thu hút rất nhiều người dân trung niên không
có nhiều trình độ học vấn làm công việc này Hầu hết 90% lao động
là giúp việc phụ nữ cộng với trình độ học vấn thấp, nên đây là đối tượng dễ bị tổn hại nhất trong các ngành nghề lao động Cho nên
có rất nhiều nghiên cứu, dự án, về khía cạnh này đặc biệt là khía cạnh bảo vệ cho lao động là người giúp việc như:
Dự án “Bảo vệ quyền của lao động là giúp việc gia đình” của trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Việt Anh thuộc khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, với đề tài: “Pháp luật lao động giúp việc gia đình và thực tiễn thi hành tại Hà Nội”
Bài viết về thực trạng bảo vệ lao động là giúp việc hiện nay của tác giả “X.Hoa” được đăng trên Báo Pháp luật Việt Nam
Bài viết: “Một số vấn đề xã hội của lao động giúp việc gia đình ở đô thị hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hồng được đăng trên tạp chí Nghiên cứu gia đình và Giới, số 02/2011
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Lao động 2019, và các văn bản hướng dẫn liên quan về lao động là giúp việc trong gia đình Tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật cũng như thực trạng làm việc của lao động là giúp việc trong gia đình, nêu ra được một số bất cập của pháp luật, từ đó tìm ra giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
4 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tìm kiếm và thống kê: Tìm kiếm các tài liệu và thống kê lại trong tài liệu các vấn đề liên quan đến đề tài
Phương pháp phân tích: Phân tích các quy định của pháp luật, các thực trạng áp dụng pháp luật, một số vụ tranh chấp trong thực tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật Việt Nam quy định về lao động là giúp việc gia đình trong Bộ luật lao động 2019, Bộ luật dân sự 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động
5 Kết cấu của tiểu luận
Trang 4Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Các vấn đề lý luận chung về lao động là người giúp việc gia đình
1.1.1 Khái niệm lao động là người giúp việc gia đình
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, loại hình lao động là người giúp việc trong gia đình đã xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ Tuy nhiên, đến nay các nước trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chung về lao động là người giúp việc trong gia đình mà pháp luật của mỗi quốc gia đều có cách định nghĩa khác nhau
Theo Luật Việc làm của Singapore năm 2008 định nghĩa
“người giúp việc gia đình là người được thuê để làm việc nhà, làm vườn hoặc lái xe phục vụ mục đích cá nhân và không được coi là người lao động được điều chỉnh bởi Luật Việc làm” Đạo luật về Việc
làm số 265 năm 1995 của Malaysia thì ghi nhận người giúp việc
trong gia đình là “người được thuê lại để làm những công việc trong gia đình, không liên quan tới bất kì hoạt động thương mại, kinh doanh hoặc nghề nghiệp của người chủ gia đình Họ có thể là người nấu cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình” Luật Lao động của Campuchia năm 1997 quy định
“người giúp việc trong gia đình là những người lao động tham gia vào công việc chăm sóc chủ nhà hay trông nom tài sản của chủ nhà để nhận thù lao”
Sang đến một đất nước có nền pháp luật tiên tiến hơn thì trong Bộ luật Lao động của Pháp định nghĩa về lao động giúp việc
gia đình: “Lao động giúp việc gia đình là một người được thuê làm công việc gia đình cho cá nhân” Ngoài ra, trong Thỏa ước lao động
Trang 5tập thể của quốc gia này đã mô tả công việc này như sau: “Bản chất đặc biệt của nghề nghiệp này là làm việc tại nhà riêng của người sử dụng lao động giúp việc gia đình Lao động giúp việc gia đình có thể làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian, thực hiện tất cả hoặc một phần công việc nhà chẳng hạn liên quan tới vệ sinh… Người sử dụng lao động giúp việc gia đình không thu được lợi nhuận thông qua công việc này”.
Định nghĩa đầu tiên về người lao động giúp việc gia đình trên thế giới được đưa ra tại cuộc họp các chuyên gia do ILO tổ chức năm 1951 Theo đó, người giúp việc gia đình được định nghĩa là
“người làm công việc tại nhà riêng, theo các hình thức và thời gian thanh toán tiền công khác nhau Người này có thể do một hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công việc này” Đến năm 2011, theo điều 1 của Công ước số 189 về
“Việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình” thì “công việc giúp việc gia đình là công việc được thực hiện trong một hoặc nhiều
hộ gia đình”; còn “người lao động giúp việc gia đình là người thực hiện công việc gia đình trong mối quan hệ lao động việc làm Người thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện công việc gia đình và không làm việc đó như một nghề nghiệp thì không phải là người lao động giúp việc gia đình”.
Còn tại Việt Nam, lao động là người giúp việc gia đình tuy xuất hiện từ rất lâu đời nhưng thực chất nghề nghiệp này chỉ mới được ghi nhận trong Bộ luật Lao động năm 1994 Đến nay, sau nhiều lần sửa đổi luật thì hiện nay người lao động giúp việc gia đình được
định nghĩa như sau: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh,
Trang 6chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.”
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật không giới hạn phạm vi thực hiện công việc và xác định cụ thể các công việc mà người lao động là giúp việc trong gia đình bằng phương pháp liệt kê Pháp luật còn quy định công việc mà người lao động giúp việc gia đình phải làm mang tính thường xuyên, tính thường xuyên ở đây không có nghĩa là lặp đi lặp lại một chu kỳ làm việc mà là lặp lại liên tục hằng ngày của công việc Xuất phát từ bản chất công việc, người lao động giúp việc gia đình không tạo ra lợi nhuận trong hoạt động thương mại cho người
sử dụng lao động, nếu công việc này tạo ra lợi nhuận và có liên quan đến hoạt động thương mại thì không được xem là lao động giúp việc trong gia đình Ngoài ra, trong trường hợp một người được thuê mướn đến thực hiện các công việc của người giúp việc gia đình như trong luật quy định nhưng thời điểm đến là một ngày nhất định trong tháng và sau nhận được một khoản tiền thì cũng không được xem là người giúp việc trong gia đình, hoạt động này được xem là một hình thức khoán việc và được điều chỉnh bởi pháp luật
về dân sự
1.1.2 Đặc điểm của lao động là người giúp việc gia đình
Ngoài đặc điểm về tính thường xuyên của công việc hay công việc này không liên quan đến hoạt động thương mại thì lao động là người giúp việc trong gia đình còn có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, lao động là người giúp việc gia đình chủ yếu là nữ
giới, có trình độ học vấn thấp, có xuất thân từ các vùng nông thôn,
có hoàn cảnh đặc biệt, độ tuổi tầm trung niên là phổ biến
Trang 7Ở Việt Nam, hiện chưa có thống kê với quy mô toàn quốc về
tỷ lệ người giúp việc trong gia đình nhưng các nghiên cứu về chủ đề này thì thường đề cập đến phụ nữ Theo thống kê mới nhất của ILO năm 2021, giúp việc gia đình vẫn là loại hình công việc mà phụ nữ chiếm số đông Hiện 57,7 triệu lao động nữ đang làm công việc này, chiếm 76,2% tổng số lao động giúp việc gia đình Trong khi ở châu Âu, Trung Á và châu Mỹ, phụ nữ chiếm phần đa trong lực lượng lao động thì ở các Quốc gia Ả-rập và Bắc Phi, tỷ lệ lao động nam lại cao hơn so với lao động nữ (63,4%) còn ở Nam Á thì tỷ lệ lao động nữ làm giúp việc gia đình chỉ chiếm chưa đến một nửa tổng số lao động làm công việc này (42,6%)
Theo bà Ngô Thị Ngọc Anh - Giám đốc GFCD cho biết, hiện nay
ở Việt Nam có 98,6% lao động giúp việc gia đình là phụ nữ, độ tuổi trung bình là 44,8 tuổi, do đặc thù công việc, nên thời gian làm việc của lao động giúp việc thường dài hơn 8h/ngày đối với người ở cùng gia chủ, bình quân một lao động giúp việc gia đình có thời gian làm việc khoảng 11 giờ/ngày
Thực tế cho thấy, đa số người lao động chọn nghề giúp việc gia đình là do không tìm được việc làm phù hợp khác, thường có gia cảnh khó khăn, đông con, cha mẹ già yếu, bệnh tật Một số phụ nữ lớn tuổi không có chồng, góa, ly thân, ly hôn (chiếm tới 20,7%), có 65,7% người lao động đi làm giúp việc gia đình vì lý do muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình Một số lý do khác được đưa ra là thấy bản thân phù hợp với nghề giúp việc gia đình (9%), không tìm được việc làm khác (5,7%), không biết làm nghề nào khác (5,7%), muốn thoát ly nghề nông (5,7%)
Thứ hai, đa phần người lao động là giúp việc trong gia đình
chưa qua đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, chưa có kiến thức kỹ năng chuyên nghiệp
Trang 8Theo số liệu khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình
và phát triển cộng đồng (GFCD) năm 2015, 90% người giúp việc gia đình ở Việt Nam chưa được đào tạo nghề và chủ yếu làm theo kinh nghiệm Sở dĩ người lao động giúp việc gia đình không được đào tạo
vì chủ yếu xuất thân từ nông thôn, có trình độ hiểu biết thấp và có suy nghĩ rằng đây là công việc đơn giản như làm việc nhà hay chăm con, không nhận thức được về giá trị của công việc này Nguyên nhân tiếp theo đó là do các gia đình có nhu cầu thuê lao động giúp việc thường là những gia đình bận rộn, không có thời gian quản lý người giúp việc và một phần cũng vì sự tin tưởng
Những đối tượng người giúp việc gia đình được đào tạo chuyên môn đa phần được đào tạo để đi giúp việc cho các gia đình ở nước ngoài Theo báo cáo mới của ILO, 19% lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam làm việc thông qua các nhà cung cấp dịch vụ và số lượng lao động giúp việc gia đình di cư ra nước ngoài làm việc liên tục tăng trong thập kỷ qua
1.1.3 Bản chất của lao động là người giúp việc gia đình
Bản chất của lao động là người giúp việc trong gia đình cũng như các công việc khác là ‘làm công ăn lương’ Tùy vào thỏa thuận giữa người giúp việc gia đình và người sử dụng lao động mà mức lương sẽ khác nhau
1.1.4 Vai trò của lao động là người giúp việc gia đình
1.1.5 Ý nghĩa của lao động là người giúp việc gia đình
1.2 Phân loại, đối tượng và phạm vi áp dụng lao động
là người giúp việc gia đình
1.2.1 Phân loại lao động là người giúp việc gia đình
Trang 9Dựa theo thời gian làm việc sẽ phân lao động là giúp việc gia đình thành hai loại:
Thứ nhất, người lao động là giúp việc gia đình làm việc theo
hình thức không xác định thời gian Trong loại hình lao động này, người lao động thường ở chung với chủ hộ được chủ hộ nuôi ăn, ở
và được trả lương theo tháng Theo hình thức này, thường người lao động chỉ làm việc duy nhất với một hộ gia đình
Thứ hai, người lao động là giúp việc gia đình làm việc theo
hình thức xác định thời gian hoặc là bán thời gian Người lao động
là giúp việc gia đình trong hình thức này sẽ làm việc theo giờ thỏa thuận với chủ hộ, và không sống chung với chủ hộ Công việc thực hiện được yêu cầu rõ ràng, trả lương theo giờ hoặc theo khối lượng công việc Ở hình thức này người người lao động là giúp việc gia đình có thể thực hiện công việc cho nhiều hộ gia đình khác nhau
Dựa theo loại công việc đảm nhiệm thì người giúp việc gia đình có thể là người giữ trẻ, người chăm sóc người già, bệnh nhân, người làm vườn, bảo vệ gia đình, người dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, hoặc là có thể đảm nhận nhiều công việc trong gia đình
Dựa trên mối quan hệ việc làm:
Thứ nhất, Lao động toàn thời gian sống cùng chủ hộ Loại hình
lao động này tiện cho chủ hộ vì có thể thực hiện công việc bất cứ lúc nào kể cả buổi tối khuya hay sáng sớm Tuy nhiên chủ hộ phải chi trả thêm tiền ăn, điện nước tùy theo thỏa thuận với người giúp việc
Thứ hai, Lao động không sống cùng chủ hộ Loại hình lao động
này có thể bán thời gian như tới dọn dẹp nhà cửa tầm 1, 2 tiếng hoặc làm các công việc khác trong một thời gian ngắn, có thể người lao động này chỉ làm việc với chủ hộ một lần hoặc một vài lần
Trang 10Hoặc loại hình lao động toàn thời gian nhưng cũng không ở cùng chủ hộ, giống với người lao động khác lao động giúp việc có thể làm toàn thời gain 8 tiếng một ngày rồi sau đó quay trở về nhà mình, hôm sau lại tiếp tục đến nhà chủ hộ tiếp tục công việc, hợp tác lâu dài với chủ hộ
1.2.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng lao động là người giúp việc gia đình
1.3 Lịch sử phát triển các quy định pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình
1.3.1 Giai đoạn trước khi Bộ luật lao động năm 2012 ban hành
Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012, thì quy định về lao động
là người giúp việc gia đình được quy định rải rác trong Bộ luật lao động năm 1994, Bộ luật lao động năm này chưa công nhận lao động là giúp việc gia đình là một ngành nghề thực thụ, nên rất ít quy định về lĩnh vực này Tại điều 2 Bộ luật Lao động năm 1994 đã
quy định: “Bộ Luật Lao động được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động, thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu Bộ luật này cũng được áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc gia đình và một số loại lao động khác được quy định tại Bộ luật này.”
Theo Bộ luật Lao động năm 1994, thì hợp đồng lao động phải
ký kết bằng văn bản và người sử dụng lao động giữ một bản, người lao động giữ một bản Tuy nhiên đối với lao động là giúp việc gia đình thì không cần thiết ký hợp đồng bằng văn bản mà có thể giao kết bằng miệng và đôi bên phải tuân thủ những gì đã giao kết trong