Vớinhững tiêu chí đó, hoạt động “đăng ký thành lập doanh nghiệp” là để doanh nghiệp đượchoạt động trên thương trường, ngoài việc đăng ký được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệpmuốn hoạt động phải
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“Pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp - Thực tiễn
tư vấn tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh”
NGÀNH ĐÀO TẠO: LUẬT KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn
- Họ và tên: Th.S Trần Ngọc Diệp
Sinh viên thực hiện
- Họ và tên: Trần Hương Thảo
- Bộ môn: Luật kinh tế - Lớp: K54P3
HÀ NỘI, 2022
Trang 2TÓM LƯỢC
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là bước khởi đầu của mỗi doanh nghiệp, vừamang ý nghĩa đối với doanh nghiệp, vừa mang ý nghĩa đối với công tác QLNN Tại ViệtNam, công tác ĐKDN đang có sự chuyển mình mạnh mẽ cùng với những chính sách mớiđược đưa ra theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020
Bằng những kiến thức đã học tại trường Đại họcThương Mại và những gì tìmhiểu được em hy vọng sẽ đóng góp một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng
ký doanh nghiệp, đặc biệt đẩy mạnh tính hiệu quả của vấn đề này tại Công ty TNHH tưvấn Hoàng Tân Minh Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã đạt được một số kết quả sau:
1 Xác định rõ những vấn đề cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật đối với vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
2 Làm rõ những lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh về đăng kýdoanh nghiệp, cơ sở ban hành pháp luật, những nguyên tắc, nội dung pháp luật điều chỉnhđến doanh nghiệp
3 Tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng thực hiện vấn đề này tại Công
ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
4 Đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, đồngthời đề xuất những kiến nghị để góp phần hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện.Kết quả nghiên cứu mang yếu tố thực tiễn, có thể áp dụng tham khảo cho vấn đề xâydựng pháp luật liên quan đến đăng ký doanh nghiệp của Nhà nước và hoàn thiện phápluật về đăng ký doanh nghiệp không chỉ ở Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh màcòn ở các công ty tư vấn tương tự
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Thương mại, được sự chỉ bảo tận tìnhcủa các Thầy Cô, em đã có được những kiến thức, bài học quý báu Em xin chân thànhcảm ơn quý Thầy Cô, đặc biệt là các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Kinh tế - Luật trườngĐại học Thương mại đã dạy dỗ, tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện Khóa luận trongsuốt thời gian qua Em xin cảm ơn cô ThS Trần Ngọc Diệp đã tận tâm, nhiệt tình giúp đỡtrong quá trình em thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, em cũngxin gửi lời cảm ơn tới các anh, các chị cán bộ công nhân viên Công ty TNHH tư vấnHoàng Tân Minh đã tạo điều kiện cho em có khoảng thời gian quý báu học tập và nghiêncứu tại quý công ty Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề pháp lý liênquan, nhưng do trình độ lý luận, kiến thức bản thân còn có phần hạn chế nên bài khóaluận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự phản hồi, góp ý củaThầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn Một lần nữa, em xin chân thành cảmơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Hương Thảo
Trang 43 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về đăng ký thành lập doanh
1.1.1 Khái niệm đăng ký doanh nghiệp 141.1.2 Đặc điểm đăng ký doanh nghiệp 141.1.3 Ý nghĩa pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 141.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký thành lập doanh
1.2.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về đăng ký thành lập doanh nghiệp 171.3 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp 201.3.1 Tự do kinh doanh và hình thức tổ chức kinh doanh 20
Trang 51.3.2 Đáp ứng đủ điều kiện đầu tư kinh doanh khi kinh doanh ngành nghề đầu tư
1.3.3 Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ ĐĂNG KÝ
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp
41
Trang 63.1.1.Đảm bảo quyền tự do thành lập doanh nghiệp 413.1.2.Đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng 423.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký thành lập doanh
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về chủ thể thành lập doanh nghiệp 443.2.2 Hoàn thiện pháp luật về ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp 453.2.3 Nâng cao năng lực của cơ quan đăng ký 463.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 47
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QLNN Quản lý nhà nước
ĐKDN Đăng ký doanh nghiệp
GCNĐKDN Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpĐKKD Đăng ký kinh doanh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNHH 1TV Trách nhiệm hữu hạn một thành viênTNHH 2TV Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lênCTCP Công ty cổ phần
LDN Luật Doanh nghiệp
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tự do kinh doanh không chỉ là nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường màcòn là quyền cơ bản của công dân Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm” Tự do kinh doanh đã trở thành một trong những
quyền cơ bản của công dân và Nhà nước đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh trêntinh thần tôn vinh và khuyến khích các doanh nhân thực hiện quyền này
Đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý “khai sinh và thừa nhận” sự ra đờicủa một doanh nghiệp Do vậy, bất cứ chủ thể kinh doanh nào thỏa mãn các điều kiệntheo quy định của pháp luật muốn tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới hìnhthức doanh nghiệp đều có thể đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có được địa vị pháp
lý trên thị trường không chỉ đơn thuần thỏa mãn các quy định của Luật doanh nghiệp màcòn đòi hỏi doanh nghiệp phải thỏa mãn các quy định của pháp luật chuyên ngành Vớinhững tiêu chí đó, hoạt động “đăng ký thành lập doanh nghiệp” là để doanh nghiệp đượchoạt động trên thương trường, ngoài việc đăng ký được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệpmuốn hoạt động phải đáp ứng điều kiện “hậu kiểm” theo quy định của pháp luật đầu tư
và pháp luật chuyên ngành về ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp được phát triển theo thời gian và phùhợp với thực tế qua quy định của các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2020, 2020cùng với đó là những văn bản hướng dẫn thi hành… Hệ thống quy định của pháp luật vềđăng ký thành lập doanh nghiệp đã tạo ra môi trường thu hút mọi nguồn lực đầu tư vàduy trì việc quản lý, giám sát doanh nghiệp Ngoài ra, hoạt động đăng ký thành lập doanhnghiệp là một trong những hình thức để thực hiện quyền tự do kinh doanh thúc đẩy cácchủ thể kinh doanh tham gia vào “một sân chơi chung”
Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật cho tới việc thực tiễn triển khai áp dụng vẫncòn nhiều bất cập, mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất, gây khó khăn cho các doanh nghiệptrong quá trình thực hiện, cơ quan đăng ký kinh doanh khó theo dõi đòi hỏi cần có nhữngquy định hợp lý hơn, sát thực hơn, hiệu quả thực thi cao… để phù hợp với thực tế như:
Trang 9quy định pháp luật về tên công ty, trụ sở, vốn điều lệ, ngành nghề đăng ký,… điều nàycần phải có sự nghiên cứu, lý giải cả về lý luận và thực tiễn.
Với mong muốn tìm hiểu vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đăng
ký thành lập doanh nghiệp – Thực tiễn tư vấn tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.Thông qua việc nghiên cứu giúp chúng
ta có thể tìm hiểu các quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, đồngthời tìm ra giải pháp, đề xuất hoàn thiện mối quan hệ của các bên trong hoạt động thànhlập và đăng ký hoạt động của doanh nghiệp, tăng cường hiệu quả thực hiện tại công tyHoàng Tân Minh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp nói chung, trong đó có nội dung liên quan đếnthành lập doanh nghiệp ngoài nhà nước là vẫn đề nhận được nhiều sự quan tâm nghiêncứu ở nhiều góc độ khác nhau trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên
cứ về pháp luật, trong đó tiêu biểu phải nhắc đến:
Lê Thế Phúc (2016), “ Đăng kí kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam
-Thực trạng và một vài kiến nghị”, Luận văn Thạc sĩ khoa Luật, Đại học quốc gia Bài
luận văn Thạc sĩ làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động đăng ký kinh doanh Phân tíchthực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Namhiện nay Bên cạnh đó, bài luận còn tìm hiểu những nguyên nhân thúc đẩy hay cản trở cácdoanh nhân đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp cũng như những nguyên nhânthúc đẩy các cán bộ, công chức áp dụng đúng đắn và sáng tạo các quy định của Luậtdoanh nghiệp về đăng ký kinh doanh Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện nhữngquy định của pháp luật về việc đăng ký kinh doanh trongLuật Doanh nghiệp Việt Namtrong tương lai
ThS Trương Trọng Hiểu (2011), “Ý nghĩa của vốn và lý do tháo bỏ quy định về
vốn pháp định”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử ngày 26/2/2011 Bài viết có đưa ra
góc nhìn từ vai trò, ý nghĩa của vốn ở từng vị trí của tất cả các bên có liên quan Trướchết là vai trò của vốn đối với chính doanh nghiệp; thứ hai là ý nghĩa của vốn đối với cácđối tác của doanh nghiệp - chủ nợ Ngoài ra, cũng được nhìn nhận từ phía nhà nước
- với tư cách là chủ nợ lớn nhất và với chức năng điều hòa mối quan hệ giữa hai bên nói trên
Trang 10Luật sư Trần Văn Trí - Văn phòng luật sư Hùng & Đồng sự (2011) “Đặt tên cho
doanh nghiệp: Thay đổi phải chăng, chỉ làm phức tạp thêm”, Báo Sài Gòn ngày
23/1/2011 có nêu việc đặt tên doanh nghiệp có sử dụng tiếng nước ngoài, đặt tên doanhnghiệp có vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
Bên cạnh đó có thể kể tên thêm một số công trình khoa học được xuất bản và bàiviết trên tạp chí như bài viết: Thành lập doanh nghiệp và kinh doanh tại Việt Nam của tácgiả Bích Hạnh, song ngữ Anh Việt, Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2009;Những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện, Tạp chíLuật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 09/2010, trang 61-69 Luận văn thạc sĩ quản
lý công “Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở Việt Nam đến năm 2020” – NguyễnThị Việt Anh Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013
Mỗi bài viết, bài nghiên cứu đều hướng tới các nội dung liên quan đến những vấn
đề pháp lý của hoạt động thành lập và đăng ký hoạt động doanh nghiệp nói chung và củadoanh nghiệp có vốn ngoài nhà nước Trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị củacác công trình đi trước, đề tài “Pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp – Thực tiễn
tư vấn tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh” sẽ mang tính cụ thể hơn khi đi vàonghiên cứu, phân tích pháp luật về thành lập và đăng ký hoạt động doanh nghiệp, thựctrạng thực hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp trong thực tiễn và thực trạng thực hiệncác quy định đó tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh, từ đó đưa ra một số kiếnnghị và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
3 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Về mặt lý luận, đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những quy định của phápluật về đăng ký thành lập doanh nghiệp như: Điều kiện, trình tự thủ tục đăng ký thành lậpdoanh nghiệp
Về mặt thực tiễn, đề tài này nghiên cứu thực tiễn thực hiện tư vấn đăng ký thànhlập doanh nghiệp tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống đựợc các quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanhnghiệp
Trang 11Thứ hai, là đánh giá được thực trạng quy định của pháp luật về thành lập doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp.
Thứ ba, đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện nâng cao hiệu quả pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, từ đó làm rõ các vấn đề trong mục tiêu nghiên cứu
Hai là, khảo sát, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về đăng ký thành lập doanhnghiệp
Ba là, đưa ra những ưu – nhược điểm, đúc kết những giải pháp phù hợp, kịp thời
để hoàn thiện pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
4 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung
Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật trongđăng ký thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam trên cơ sở phân tích những hạn chế củapháp luật hiện hành đối với vấn đề điều kiện và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp
Về không gian
Khoá luận nghiên cứu điều kiện và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp trênđịa bàn thành phố Hà Nội và thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về đăng ký thànhlập doanh nghiệp tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
Về thời gian
Khoá luận tập trung nghiên cứu về vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp quyđịnh trong Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020 và các văn bản hướng dẫn kể từngày có hiệu lực cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được nghiên cứu và thực hiện nghiêm túc thông qua các phươngpháp nghiên cứu khoa học, dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử để tìm ra mối quan hệ giữa pháp luật
Trang 12về đăng ký thành lập doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu dưa trên cơ sở những quy định hiện hành củapháp luật như Luật Đầu tư 2020, Luật Doanh nghiệp 2020,…và thông qua các dữ liệu cósẵn từ các phương tiện thông tin đại chúng, internet, một số web như Thư viện pháp luật,đăng ký kinh doanh, trang Quốc Hội, trang web Bộ Tư pháp; một số trang báo uy tín nhưVnExpress, Thanh niên, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, VTV News, Tạp chí Tàichính; cùng các tài liệu luận văn, công trình nghiên cứu khoa học trước đó
+ Dữ liệu sơ cấp: Thu thập dữ việc bằng cách hỏi ý kiến, phỏng vấn
- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử qua đó đánh giá vấn đề trên cơ sở một cách khoa học, khách quan quá trình vậnđộng của vấn đề một cách toàn diện nhất
- Phương pháp thống kê: Các phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp.
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các quy phạm pháp luật về đăng ký thànhlập doanh nghiệp để tạo sơ cở phân tích, chứng minh việc áp dụng pháp luật vào thực tếtrong Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
Cụ thể, ở từng chương, các phương pháp được sử dụng như sau:
Chương 1, đề tài sử dụng phương pháp phân tích các lý luận về đăng ký thành lập
doanh nghiệp, cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh việc thành lập doanhnghiệp
Chương 2, đề tài sử dụng phương pháp luân tích, so sánh đề làm rõ pháp luật về
chủ thể, điều kiện và quy trình thành lập, qua đó thấy được những bất cập, vướng mắccủa pháp luật hiện hành, tiếp tục đưa ra ví dụ thực tế tại Công ty TNHH tư vấn HoàngTân Minh để thấy rõ những bất cập tồn tại
Chương 3, đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra những phương hướng
hoàn thiện quy dịnh của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh đăng ký thành lậpdoanh nghiệp
Trang 13Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh đăng ký thành lập doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đăng ký thành lập doanh nghiệp
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp là việc chủ thể dự định thành lập doanh nghiệp đăng kýthông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc
dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan ĐKKD và đượclưu trữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Như vậy, đây là một thủ tụcpháp luật theo quy định để khai sinh ra một doanh nghiệp; khi đó, doanh nghiệp được nhànước thừa nhận và bảo hộ về mặt pháp lý kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp
1.1.2 Đặc điểm đăng ký doanh nghiệp
Thứ nhất, theo quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020 đăng ký doanh nghiệp là
thủ tục đầu tiên để bắt đầu hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp
Thứ hai, đăng ký doanh nghiệp là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ
quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện (Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kếhoạch – Đầu tư)
Thứ ba, mọi doanh nghiệp khi đăng ký gia nhập thị trường đều phải thực hiện theo
một khung pháp lý chung gồm các thủ tục hành chính được quy định như sau: 1) Đăng kýdoanh nghiệp 2) Mở tài khoản ngân hàng và thông báo tài khoản ngân hàng với cơ quanthuế và 3) Thông báo phát hành hóa đơn điện tử
Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty cổ
phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh), chủ thể thành lập sẽ thực hiện thủtục đăng ký với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính
1.1.3 Ý nghĩa pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó khôngchỉ là sự sáng lập ra một công ty mà còn là cả sự ổn định và phát triển của công ty trongsuốt quá trình tồn tại Điều đó được thể hiện rõ ở những điểm sau:
Trang 15Thứ nhất, đăng ký kinh doanh là một quá trình đánh dấu sự ra đời của một doanh
nghiệp được pháp luật thừa nhận với tư cách là một chủ thể kinh tế tham gia với đầy đủquyền và nghĩa vụ
Thứ hai, nó đánh dấu sự kết thúc của một quá trình thảo luận, đạt được sự đồng
thuận giữa những người sáng lập, mở ra sự công nhận về mặt pháp lý đối với các cuộcthảo luận đó Các thành viên sáng lập sẽ chịu sự ràng buộc với doanh nghiệp và chịutrách nhiệm bằng tài sản của mình góp vào doanh nghiệp
Thứ ba là cả hai bên đồng ý ký vào các điều lệ của công ty và được nhà nước công
nhận, đây là một giai đoạn quan trọng cho hoạt động sau này của công ty Cơ cấu tổ chức,hình thức quản lý và cách thức ra quyết định đều phụ thuộc và được quy định rõ ràngtrong điều lệ này Tất cả các hoạt động trong tương lai của công ty phải tuân thủ các quy
Nhà nước thực hiện quyền quản lý hoạt động đăng ký kinh doanh của doanhnghiệp theo nhiều cách khác nhau thông qua các phương thức và biện pháp khác nhau,chẳng hạn như: Nguyên tắc, phạm vi, hình thức và thẩm quyền quản lý nhà nước tronghoạt động đăng ký kinh doanh Quy định về chủ thể và thẩm quyền kiểm soát nhà nướctrong đăng ký kinh doanh Tổ chức và quản lý đăng ký kinh doanh; kiểm tra, thanh trahoạt động đăng ký kinh doanh của công ty, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật tronghoạt động đăng ký kinh doanh
Trang 16Khi thực hiện hoạt động ĐKDN, chủ thể kinh doanh là khách thể quản lý trong hoạt động này, giúp Nhà nước thực hiện công việc quản lý của mình như:
(i) Tập hợp thông tin nắm bắt được tình hình đăng ký kinh doanh của các loại hìnhkinh doanh như: (tên, địa chỉ trụ sở, ngành, nghề kinh doanh, người đại diện theo phápluật, cơ cấu sở hữu, tình trạng pháp lý của doanh nghiệp; ý thức tuân thủ pháp luật; tìnhhình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp…) Đây là những thông tin mà doanhnghiệp cam kết với cơ quan quản lý nhà nước, là cơ sở để nhà nước tiến hành theo dõi,kiểm tra, đánh giá, hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi kinh doanh Trongquá trình thực hiện kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải có nghĩa vụ thực hiện đúngcam kết đã khai báo khi đăng ký và được ghi nhận trong GCNĐKDN Mọi hoạt động củacác chủ thể không đúng thì được coi đó là hành vi vi phạm pháp luật
(ii) Định hướng, điều tiết, xây dựng chính sách phát triển kinh tế, xã hội cho đấtnước Căn cứ vào tình hình đăng ký thành lập, số lượng đăng ký thành lập, loại hình, địađiểm thành lập, ngành, nghề kinh doanh…, các cơ quan chức năng có được những số liệuchính xác nhất về tình hình, xu hướng phát triển thị trường, loại hình kinh doanh, quy mô,lĩnh vực, địa bàn, ngành nghề kinh doanh…Đây là những dữ liệu đầu vào quan trọngtrong việc nắm bắt các yếu tố kinh doanh, đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luậttrong thực tiễn, đưa ra các chủ trương khuyến khích hay hạn chế phù hợp và kịp thời.Qua đó, đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước cho từng lĩnh vực, vùng miền,từng loại hình doanh nghiệp và toàn xã hội được thiết lập và áp dụng hiệu quả
1.2.2 Cơ sở văn hóa – xã hội
Doanh nghiệp sau khi thành lập không chỉ giúp đất nước phát triển kinh tế mà còntạo việc làm, thu nhập cho người dân Doanh nghiệp sau khi đăng ký thành lập có thể sửdụng lao động vào hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này mang lại công ăn việc làm
và thu nhập cho xã hội Hiện nay, loại hình doanh nghiệp nào cũng được niêm yết côngkhai nên thông tin về doanh nghiệp đã đăng ký được tập trung trong một hệ thống cơ sở
dữ liệu quốc gia duy nhất Công dân có thể tra cứu tại cổng thông tin quốc gia về doanhnghiệp hoặc mua các thông tin đăng ký doanh nghiệp dưới dạng văn bản với mức phítheo quy định Điều này cho phép các cá nhân, tổ chức, quốc gia và các doanh nghiệpkhác có được thông tin cơ bản về tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động trên thịtrường, chẳng hạn như tên, địa chỉ, ngành, ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý,tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, …
Trang 17Đăng ký doanh nghiệp còn tạo điều kiện cho công chúng nắm bắt được các thôngtin về các chủ thể kinh doanh đã được đăng ký, thông qua đó thúc đẩy những bên có liênquan kiểm soát lẫn nhau khi thiết lập và thực hiện các giao dịch Qua đó, một mặt giảmnhẹ được công việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mặt khác nâng cao độ chínhxác và trung thực của các thông tin được đăng ký, góp phần đáng kể vào việc nâng caochất lượng giám sát và quản lý nhà nước đối với các loại hình kinh doanh.
Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng giúp công chúng dễ dàng hơn trongviệc thu thập thông tin về những doanh nghiệp đã được thành lập và khuyến khích cácbên liên quan xác nhận thông tin trước khi thiết lập và thực hiện giao dịch kinh doanh.Điều này một mặt có thể giảm bớt công việc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,mặt khác nâng cao tính chính xác, xác thực của thông tin đăng ký, từ đó nâng cao đáng kểchất lượng giám sát, quản lý đối với tất cả các loại hình công ty
1.2.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.2.3.1.Quy định về chủ thể đăng ký
Chủ thể đăng ký doanh nghiệp là những tổ chức, cá nhân được pháp luật thừa nhậnquyền thành lập doanh nghiệp Nếu là cá nhân thì cá nhân đó phải có đủ năng lực hành vidân sự để chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp do mình thành lập hoặc góp vốn thànhlập Nếu là tổ chức thì tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân, bởi tổ chức chỉ có thể đầu tưvốn thành lập doanh nghiệp khi có tài sản độc lập và có khả năng chịu trách nhiệm độclập bằng tài sản đó
1.2.3.2 Quy định về tổ chức
Các doanh nghiệp muốn đăng ký thành lập phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các bộphận bên trong phải là một chỉnh thể thống nhất với cơ cấu, mô hình theo quy định củapháp luật, hay chính là các loại hình doanh nghiệp Cơ cấu loại hình của tổ chức đượcquy định trong quyết định thành lập, trong điều lệ mẫu, trong các văn bản pháp luật, trongđiều lệ của tổ chức Ví dụ: Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quảntrị và Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc); công ty TNHH mộtthành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu phải có Chủ tịch công ty và Giám đốc (hoặcTổng Giám đốc)
Là một tổ chức độc lập Doanh nghiệp có ý chí riêng và hành động theo ý chí củariêng mình, không bị chi phối bởi các chủ thể khác khi quyết định và thực hiện các côngviệc có liên quan đến nhiệm vụ của tổ chức Sự tồn tại của doanh nghiệp không phụ
Trang 18thuộc vào sự thay đổi các thành viên của doanh nghiệp hoặc thay đổi các bộ phận chứcnăng của doanh nghiệp Ví dụ: Trong công ty cổ phần, sự thay đổi các cổ đông hay sự sắpxếp lại, thêm, bớt các phòng chức năng, bộ phận sản xuất,… không ảnh hưởng đến sự tồntại của công ty đó.
1.2.3.3 Quy định về vốn
Bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều cầnphải có vốn, vì vốn là cơ sở vật chất, tài chính quan trọng nhất, là công cụ để chủ thể kinhdoanh triển khai các hoạt động kinh doanh cụ thể của mình
Kể từ thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, toàn bộ số vốn đăng ký sẽ đượcchuyển thành toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp sẽ luôn gắn liềnvới quyền và trách nhiệm của chủ thể đăng ký trong một mô hình kinh doanh, nên vốn sẽ
là một điều kiện bắt buộc để đăng ký thành lập doanh nghiệp trong bất kể nền kinh tếnào Do đó, phải có vốn thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động kinh doanh,cũng để tránh tình trạng chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp chỉ có tên gọi, con dấu
sẽ dẫn đến có những hành vi lừa đảo trong kinh doanh
Hình thức góp vốn để đăng ký doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú, được thể hiệndưới nhiều hình thức khác nhau: tiền mặt, vàng, ngoại tệ, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, giátrị quyền sử dụng đất, …và các tài sản có giá trị khác theo quy định của pháp luật
Trên cơ sở đó, hình thức tài sản có thể được hiểu theo hai loại: tài sản là động sản,bất động sản tạo thành các loại vốn: vốn điều lệ, vốn đầu tư, vốn pháp định…
Việc quy định bất kể một doanh nghiệp nào khi muốn đăng ký thành lập cũng cầnphải có một lượng vốn nhất định dưới hình thức là một cá nhân bỏ ra hoàn toàn, hay là sựđóng góp của nhiều người, hoặc được nhà nước hỗ trợ nhằm tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh Mục đích nhằm đảm bảo sự an toàn cho các chủ nợ và nhà đầu tư kinh doanhtrong những ngành nghề đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, kinh doanh trong một số lĩnh vựcđặc thù Ngoài ra, việc quy định về vốn còn nhằm đảm bảo về cơ sở vật chất nhất định đểchủ thể đăng ký dễ dàng trong việc vận hành doanh nghiệp của mình khi hoạt động, đồngthời là căn cứ để chứng minh có khả năng thanh toán các khoản nợ cho đối tác, kháchhàng
1.2.3.4 Quy định về ngành nghề kinh doanh
Trên thực tế, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh vô cùng phong phú và đa dạng, sẽđem lại nhiều sự lựa chọn cho chủ thể đăng ký Nhưng lựa chọn lĩnh vực nào để đem lạilợi nhuận cho họ là một điều mà các chủ thể đăng ký muốn lựa chọn kinh doanh Vì mục
Trang 19tiêu lợi nhuận mà chủ thể đăng ký sẽ có thể đăng ký bất cứ lĩnh vực nghành nghề nào màpháp luật không cấm Như vậy, việc đề ra điều kiện ngành nghề kinh doanh là việc làmcần thiết cho công tác quản lý nhà nước dưới các hình thức như cấm kinh doanh, kinhdoanh có điều kiện, kinh doanh phải có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề.
* Ngành nghề cấm kinh doanh
Đối với những lĩnh vực ngành nghề mà nhà nước cấm kinh doanh, đòi hỏi chủ thểđăng ký phải thực hiện nghiêm túc và không được kinh doanh những lĩnh vực ngànhnghề đó như lĩnh vực ma túy, buôn bán vũ khí, đạn dược…đây là những lĩnh vực có ảnhhưởng lớn đến đời sống xã hội cũng như văn hóa, đạo đức Nếu kinh doanh những lĩnhvực này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng về ngành nghề kinh doanh, có thể bị xử lý hìnhsự
* Ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Đây là những ngành nghề kinh doạnh mà ít nhiều cũng đe doạ đến lợi ích xã hội
và nhà nước Theo đó, các chủ thể đăng ký phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh nhấtđịnh, đó là phải đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinhthực phẩm, quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự, giao thông
* Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề
Chứng chỉ hành nghề là văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hộinghề nghiệp cấp cho các cá nhân, có đủ những trình độ chuyên môn về một ngành nghềnhất định Việc quy định cụ thể nghành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề,Nhà nước không chỉ tạo ra môi trường đầu tư minh bạch cho sự lựa chọn ngành nghềkinh doanh của các chủ thể đăng ký mà còn có cơ sở để xử lí khi có vi phạm
Nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện các chủ thể có quyền lựachọn ngành nghề kinh doanh đã và đang được các quốc gia hết sức coi trọng Tuy nhiên,
để xác lập một môi trường kinh doanh bình đẳng, đúng pháp luật, các chuẩn mực của xãhội thì không thể không đặt ra những quy định pháp luật quy định về ngành nghề kinhdoanh với những tiêu chí thông thoáng, cởi mở, chủ thể đăng ký vẫn nắm bắt được cơ hộikinh doanh mà không phải vì những điều kiện về ngành nghề mà bị hạn chế quyền tự dokinh doanh
1.2.3.5 Quy định về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một hình thức đăng ký doanh nghiệp, theo đó,chủ thể thành lập doanh nghiệp tiến hành đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiếnthành lập theo hồ sơ và thủ tục được quy định Đây là thủ tục hành chính bắt buộc với
Trang 20mọi doanh nghiệp, được thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh.
Ở Việt Nam, cơ quan thực hiện chức năng này là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh,
có tên gọi là Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
1.3 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp
1.3.1 Tự do kinh doanh và hình thức tổ chức kinh doanh
Nguyên tắc tự do kinh doanh là nguyên tắc hiến định, theo đó các chủ thể kinhdoanh được tự do thực hiện các hoạt động kinh doanh mà pháp luật không cấm
Tự do kinh doanh phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật, có nghĩa làkhi thực hiện các quyền cụ thể trong nội dung của quyền tự do kinh doanh, các chủ thểphải tuân thủ các điều kiện pháp luật quy định hoặc phải thực hiện một số nghĩa vụ tươngứng Chẳng hạn, công dân có quyền tự do thành lập doanh nghiệp nhưng phải đăng kíKinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nội dung của nguyên tắc tự do kinh doanh gồm: Tự do thành lập doanh nghiệp; tự
do lựa chọn ngành hoạt động và quy mô kinh doanh; tự do lựa chọn khách hàng, trực tiếpgiao dịch với khách hàng; tự do lựa chọn lao động theo nhu cầu kinh doanh; tự do lựachọn hình thức, cách thức giải quyết tranh chấp và các quyền tự do khác theo quy địnhcủa pháp luật
Theo quy định của pháp luật, quyền tự do kinh doanh được thể hiện qua những nộidung cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, cá nhân, tổ chức có quyền được tự mình lựa chọn những ngành nghề
mà mình muốn kinh doanh trong phạm vi những ngành nghề mà pháp luật không cấm.Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì việc kinh doanh được thực hiệnsau khi đáp ứng đủ các điều kiện của ngành nghề đó
- Thứ hai, quyền được tự do lựa chọn mô hình kinh doanh cho mình từ việc quyếtđịnh về vốn đầu tư, chỉ cần mức vốn đó đáp ứng quy định về vốn pháp định tối thiểu nếu
là kinh doanh một số ngành nghề đặc thù theo quy định Bên cạnh đó, có thể quyết địnhđiều chỉnh quy mô kinh doanh của mình thông qua việc huy động vốn
- Thứ ba, được quyền tự lựa chọn loại hình tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt độngđầu tư kinh doanh, chỉ cần đảm bảo các quy định về loại hình đó như hộ kinh doanh,doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.Quyền tự do lựa chọn loại hình tổ chức kinh tế:
Trang 21- Thứ tư, khi thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể được toàn quyền thựchiện những vấn đề liên quan như lựa chọn khách hàng, thỏa thuận, ký kết hợp đồng, nộidung thực hiện,…
- Thứ năm, khi thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể được tự do cạnh tranhmột cách lành mạnh Khi phát sinh tranh chấp, các chủ thể có thể lựa chọn hình thức giảiquyết tranh chấp được pháp luật quy định như thương lượng, hòa giải, trọng tài thươngmại hay tòa án
1.3.2 Đáp ứng đủ điều kiện đầu tư kinh doanh khi kinh doanh ngành nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện
Theo quy định tại Luật đầu tư năm 2020, đối với một số ngành, nghề kinh doanhđặc thù, cá nhân, tổ chức có quyền tự do kinh doanh nhưng chỉ khi đảm bảo đáp ứng đủcác điều kiện do pháp luật đặt ra nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xãhội, sức khỏe, đạo đức
- Những ngành, nghề đầu tư kinh doanh đặc thù cần có điều kiện được quy định rõtrong danh mục ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2020
- Điều kiện để được kinh doanh đối với một số ngành nghề đặc thù được quy định
rõ trong các văn bản pháp luật do Việt Nam ban hành và điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên Những quy định này phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và đăng tảitrên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
1.3.3 Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp hiện hành, người thành lậpdoanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khaitrong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo
Việc kê khai hồ sơ thuộc về trách nhiệm của bản thân người thành lập hoặc bảnthân doanh nghiệp, do hồ sơ bao gồm những thông tin liên quan mật thiết đến quyền vànghĩa vụ của những chủ thể đó Hơn nữa, việc đăng ký doanh nghiệp là thủ tục để côngnhận sự ra đời hoặc thay đổi của doanh nghiệp, thừa nhận địa vị pháp lý của doanhnghiệp Một doanh nghiệp có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật Những ngườiđại diện có địa vị bằng nhau, và chữ ký có giá trị như nhau
Trang 22Cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan tiến hành các thủ tục để công nhận địa vịpháp lý cho doanh nghiệp Khi thực hiện thủ tục, cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịutrách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ có nghĩa là chịu trách nhiệm về tính đầy đủ của giấy
tờ và kê khai đầy đủ nội dung giấy tờ Quy định này là phù hợp khi mà cơ quan đăng kýkinh doanh có nhiệm vụ, quyền hạn chính trong giải quyết việc đăng ký doanh nghiệp vàcấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Còn việc thông tin đăng ký doanh nghiệp cóhợp pháp hay không thì cơ quan đăng ký kinh doanh không thể kiểm soát hết được vàcũng không có đầy đủ đội ngũ cán bộ có trình độ phù hợp để thực hiện công việc đó Dovậy, việc quy định cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của
hồ sơ là phù hợp
Ngoài ra, cũng xuất phát về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký kinh doanhnên cơ quan này không giải quyết tranh cháp giữa các thành viên, cổ đông công ty vớinhau hoặc với chủ thể khác Vấn đề tranh chấp này thuộc về nội bộ công ty và thuộc quan
hệ dân sự, do đó, cơ quan đăng ký kinh doanh không có quyền can thiệp sâu và không cóchức năng giải quyết tranh chấp
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ ĐĂNG
KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp
2.1.1 Tổng quan tình hình về đăng ký thành lập doanh nghiệp
2.1.1.1 Tổng quan tình hình quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp giai đoạn từ 2014 đến nay
So với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 có rất nhiều điểm mới,mang tính phát triển và toàn diện hơn về vấn đề quản lý nhà nước về doanh nghiệp Tuynhiên, trong khuôn khổ các quy định mới về đăng ký thành lập doanh nghiệp, người thựchiện chỉ liệt kê ra một số thay đổi có liên quan như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thành lập doanh nghiệp, so với quy định trước đây của Luật
Doanh nghiệp 2014, Luật doanh nghiệp 2020 bổ sung thêm nhiều đối tượng không được
phép thành lập, quản lý doanh nghiệp như: Những người gặp khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi; Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động
Trang 23trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ Luật Hình sự; Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.
Ngoài việc quy định thêm các trường hợp không được phép thành lập và quản lýdoanh nghiệp như trên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng bổ sung nhóm đối tượngkhông được góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của doanh nghiệp, cụ thể là cácđối tượng bị cấm theo Luật Phòng chống tham nhũng
Có thể thấy Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định chặt chẽ hơn các đối tượng cóquyền thành lập, quản lý doanh nghiệp; góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp củadoanh nghiệp tại Việt Nam, đồng thời để tạo sự nhất quán giữa Luật Doanh nghiệp mớivới Bộ luật Dân sự hiện hành và Bộ luật Hình sự Luật Doanh nghiệp mới cũng nêu rõrằng người quản lý và người quản lý nghiệp vụ của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ bịcấm thành lập và quản lý một doanh nghiệp khác trong trường hợp là doanh nghiệp Nhànước Việc sửa đổi này được thực hiện song song với việc sửa đổi định nghĩa về doanhnghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp mới
Thứ hai, thay đổi quy định về dấu của doanh nghiệp Điều 43 Luật Doanh nghiệp
năm 2020 quy định về dấu của doanh nghiệp: Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắcdấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanhnghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp; Việc quản lý vàlưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp,chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành.Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật
Như vậy, so với quy định về con dấu tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014,Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã chính thức công nhận chữ ký số là dấu của doanhnghiệp Đây là nội dung hoàn toàn mới so với quy định của Luật Doanh nghiệp năm2014
Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bỏ quy định “Trước khi sử dụng, doanhnghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tảicông khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp” Những quy định mới
về dấu của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 nêu trên là hoàn toàn phùhợp với xu thế phát triển hiện nay Vì:
Trang 24Thứ nhất, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, có nhiều cách thức khác đểxác tín cho các giao dịch của doanh nghiệp, điển hình là việc sử dụng chữ ký số với đầy
đủ thông tin về tên doanh nghiệp, mã số thuế, phạm vi sử dụng… Khi nhiều quốc gia đãphát triển thành công hệ thống quản lý chữ ký số trong các giao dịch thương mại hay thủtục hành chính thì ở Việt Nam, đây vẫn còn là điều mới mẻ và ít doanh nghiệp sử dụng
Do đó, để tận dụng những tính năng bảo mật và thông tin mà chữ ký số cung cấp, xã hộicần làm quen với công nghệ mới này, hạn chế tình trạng làm giả con dấu hay lợi dụng sửdụng con dấu không đúng thẩm quyền
Thứ hai, quy định mới sẽ tự nâng cao tính pháp lý ràng buộc và trách nhiệm chongười đại diện theo pháp luật/theo uỷ quyền khi tham gia giao dịch Doanh nghiệp sẽ chútrọng hơn vào việc phân cấp quản lý và phân chia nhiệm vụ, quyền hạn đối với ngườiquản lý Cùng với đó, cá nhân, tổ chức khác khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp sẽnhận thức rõ hơn, yêu cầu chặt chẽ hơn về quyền hạn, thẩm quyền của các bên
2.1.1.2 Tổng quan tình hình thực hiện quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp giai đoạn từ 2014 đến nay tại Công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh
Với đặc thù là Công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệpcho các cá nhân tổ Đặc biệt sau gần 10 năm hoạt động Công ty TNHH tư vấn Hoàng TânMinh đã hỗ trợ thành lập và hơn 1.500 doanh nghiệp nói chung và hơn 300 doanh nghiệp
có vốn nhà nước nói riêng
Với tư cách là người hỗ trợ về mặt pháp lý cho các cá nhân, tổ chức thực hiện thủtục thành lập doanh nghiệp, công ty TNHH tư vấn Hoàng Tân Minh luôn cố gắng hướngdẫn một cách kĩ lưỡng giúp các cá nhân, tổ chức dễ dàng hoàn thành các bước để việcthành lập được nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả đáp ứng yêu cầu của khách hàng Đặcbiệt trước khi đăng ký thành lập doanh nghiệp khách hàng cần lưu ý một số vấn đề:
Thứ nhất, về các loại hình doanh nghiệp.
Hiện nay, có 5 loại hình doanh nghiệp phổ biến: Công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công tyhợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Đối với 3 loại hình đầu tiên, thì ưu điểm lớn nhất chính là trách nhiệm tài sản đượcgiảm thiểu trong phạm vi tài sản của công ty, những vần đề về quyền quyết định sẽ dựatrên phần vốn góp hay số cổ phần mà thành viên nắm giữ, và điều này thì các khách hàng
Trang 25có thể linh động, suy xét kĩ để đưa ra quyết định trước khi bán cổ phần hay cho thêmthành viên góp vốn vào Tuy Doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh đều cho cácchủ thể thành lập lợi thế toàn quyền quyết định để có thể giữ hướng đi cho công ty đúngmục tiêu đề ra khi thành lập nhưng lại hạn chế về phát hành chứng khoán, huy động vốn.
Vì các chủ thể thành lập không phải ai cũng có đủ nguồn lực về kinh thế đầy đủ để pháttriển rộng lớn Thêm vào đó, dù công ty hợp danh có quy định về thành viên góp vốnnhưng thanh viên này chỉ chịu trách nhiệm với tài sản mình đã góp vì ngay cả công tyhợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu hay thành viên sở hữu đều phải chịutrách nhiệm với toàn bộ tài sản của mình, như vậy rủi ro rất lớn vì phần trách nhiệm chịuthiệt hại này sẽ khiến các khách hàng e dè khi lựa chọn 2 loại hình này
Dựa trên tình hình kinh tế cũng như sự thuận lợi nhất định cho khách hàng, HoàngTân Minh khuyên các khách hàng nên lựa chọn loại hình Công ty cổ phần hoặc Công tytrách nhiệm hữu hạn do đặc tính giảm thiểu trách nhiệm của các thành viên sở hữu Đặcbiệt hơn với môi trường kinh tế ở Việt nam thời điểm hiện tại thì nên lựa chọn loại hìnhCông ty trách nhiệm hữu hạn trước rồi sau đó dần lên kế hoạch cụ thể chuyển đổi sangCông ty cổ phần
Thứ hai, về ngành nghề kinh doanh
Pháp luật hiện tại không có quy định về giới hạn ngành nghề đăng ký kinh doanh,
do đó, đối với mỗi ý tưởng kinh doanh của khách hàng, Hoàng Tân Minh luôn cố gắngliệt kê một cách đầy đủ, chi tiết nhất để đảm bảo quyền lợi về mặt pháp lý cho doanhnghiệp sau khi được thành lập
Trong trường hợp khách hàng muốn kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điềukiện thuộc danh mục quy định tại Luật Đầu tư 2020, Hoàng Tân Minh cũng tư vấn chokhách hàng cụ thể những điều kiện cần đảm bảo về chủ thể, vốn điều lệ, vốn pháp định,
ký quỹ, giấy phép, chứng chỉ hành nghề cần có để hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp được thành lập tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật
Thứ ba, về vốn điều lệ
Pháp luật không quy định mức vốn tối thiểu hay tối đa khi thành lập doanh nghiệp(ngoại trừ những ngành nghề kinh doanh có yêu cầu mức vốn điều lệ tối thiểu), vì thế thìtùy thuộc vào khả năng tài chính và quy mô kinh doanh, chủ doanh nghiệp tự quyết định
và đăng ký mức vốn điều lệ phù hợp với khả năng của mình Nhưng cần lưu ý, vốn điều
lệ chính là cam kết trách nhiệm bằng tài sản của doanh nghiệp với khách hàng, đối tác do