1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thực trạng phát triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh

41 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 849,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy PGS TS Nguyễn Thái Sơn, thầy TS Đỗ Minh Thụy và các thầy cô Phòng QLSĐH đã có nhiều quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình tôi chuyến đi nghiên cứu thực tế tại địa bàn thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh Xin trân trọng cảm ơn Đồng chí Nguyễn Văn Đô – Phó Bí thư thường trựch Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Móng Cái và các cán bộ thành phố đã đón tiếp và trao đổi, chia sẻ, cung cấp thông tin và nhiều tài liệu để tôi xây dựng báo cáo v.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

CHỦ ĐỀ: Thực trạng phát triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa

khẩu Móng Cái Quảng Ninh

Họ và tên học viên: Nguyễn Quang Trường

Lớp: QTKD-K14A Khóa: 2021-2023

Hải phòng, ngày 24 tháng 4 năm 2022

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy PGS.TS.Nguyễn TháiSơn, thầy TS.Đỗ Minh Thụy và các thầy cô Phòng QLSĐH đã có nhiềuquan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình tôi chuyến đi nghiên cứuthực tế tại địa bàn thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh

Xin trân trọng cảm ơn Đồng chí: Nguyễn Văn Đô – Phó Bí thưthường trựch Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Móng Cái và các cán bộ thànhphố đã đón tiếp và trao đổi, chia sẻ, cung cấp thông tin và nhiều tài liệu đểtôi xây dựng báo cáo và giải đáp những thắc mắc giúp tôi hoàn thiện bài báocáo trong chuyến đi thực tế một cách tốt nhất

Hiện nay, trong xu hướng phát triển của nền kinh tế, tầm quan trọngcủa các ngành dịch vụ, tỷ trọng của dịch vụ ngày càng cao trong cơ cấutổng sản phẩm nội địa (GDP), các ngành dịch vụ đã, đang và ngày càngchiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân trên cả hai chỉ tiêu cơ cấutrong tổng lực lượng lao động xã hội và tỷ trọng trong cơ cấu GDP

- Chiến lược phát triển của Việt Nam và Trung Quốc đối với Khukinh tế cửa khẩu Móng Cái và Khu thí điểm khai phát trọng điểm ĐôngHưng, Quảng Tây, Trung Quốc

- Khu vực dich vụ trong khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái vẫn đangtrong giai đoạn kém phát triển so với tiềm năng, lợi thế hiện nay cho dù Khukinh tế Cửa khẩu Móng Cái đã đạt được nhiều tiến bộ, kể từ khi mở cửa hộinhập Việc phát triển một khu vực dịch vụ hiệu quả và có tính cạnh tranhquốc tế là điều đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia củaViệt Nam, đặc biệt xác đinh Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái là nơi chungchuyển hàng hoá trong nước và các nước ASEAN vào thị trường TrungQuốc, một thị trường rộng lớn với hơn 1,3 tỷ dân Nếu thiếu điều đó, cácngành công nghiệp, nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Trang 3

của Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi cạnh tranh trên thi trường đầy tiềm năngnày.

- Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu phát triển các ngành dịch vụ củađia phương tại khu KTCK Móng Cái, đòi hỏi phải lựa chọn được cácngành dịch vụ mũi nhọn để phát huy tối ưu tiềm năng, lợi thế và vai trò củamột khu vực biên giới năng động vào bậc nhất của Việt Nam; khu vực mậudịch tự do Trung Quốc-ASEAN; khu hợp tác kinh tế quanh vịnh Bắc Bộ vàkhu vực hợp tác tiểu vùng sông Mekong Là nhu cầu cần thiết của cả hainước Việt Nam – Trung Quốc trong khuôn khổ chương trình xây dựng

“Hai hành lang một vành đai kinh tế” Việc phát triển Khu thương mại

dịch vụ cầu Bắc Luân II - Đặc khu kinh tế song phương được quản lý theo

mô hình “hai nước một khu, quản lý mỗi bên, phối hợp mật thiết, vận hànhkhép kín” sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển cho Móng Cái

Với những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Thực trạng phát

triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái tỉnh Quảng Ninh” làm bài báo cáo thu hoạch trong chuyến đi thực tế tại TP Móng Cái,

Quảng Ninh vừa qua

Bài báo cáo gồm có 2 phần:

Chương I Thực Trạng phát triển ngàng dịch vụ khu kinh tế cửa khẩuMóng Cái

Chương II Một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ khu kinh tế cửakhẩu Móng Cái

Chương III Vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế

Trang 4

NỘI DUNG Chương I Thực Trạng pháp triển ngành dịch vụ khu

kinh tế cửa khẩu Móng Cái1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Móng Cái

1.1.1 Tiềm năng, lợi thế; điều kiện tự nhiên, dân số - lao động

a) Tiềm năng, lợi thế so sách của KKT Móng Cái - Hải Hà:

- KKT Móng Cái - Hải Hà có lợi thế chung đường biên giới trên bộ và

trên biển (với chiều dài 72 km giữa thành phố Móng Cái và thành phố ĐôngHưng (thuộc thành phố cảng Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây-đối với TrungQuốc, cửa khẩu Đông Hưng được xác định là cửa khẩu 1A, cấp quốc gia).Đường bờ biển chiều dài 35 km, cộng với lợi thế lạch nước sâu (đến 24m) đãtạo cho KKT Móng Cái-Hải Hà có đủ điều kiện để xây dựng cầu cảng tiếpnhận tàu cỡ lớn có trọng tải lên tới 150.000 DWT, nối liền với các trung tâmkinh tế lớn như: Bắc Hải, Nam Ninh, Hải Nam, Thẩm Quyến, Ma Cao, HồngKông, Nhật Bản,

Hình 1.1: Vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thành phố Móng Cái

(Nguồn: UBND thành phố Móng Cái- Quy hoạch TP Móng Cái đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 )

Trang 5

Với lợi thế địa lý “giáp biển, giáp biên giới”, thông ra biển thuậnlợi, Móng Cái có vị trí địa kinh tế và địa chính trị chiến lược, là một trongnhững cầu nối trực tiếp và quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác vớiASEAN và Đông Bắc Á; có nhiều tiềm năng về phát triển sản xuất, du lịch,thương mại và dịch vụ vận tải.

- Đia lý: - KKT Móng Cái-Hải Hà là khu vực nằm ở phía Đông Bắccủa tỉnh Quảng Ninh, bao gồm toàn bộ thành phố Móng Cái và KCN - cảng

biển - Có bãi biển dài nhất Việt Nam - 17 km Bên cạnh nền kinh tế lớn thứ

2 trên thế giới (Trung Quốc) Là đia phương duy nhất trên cả nước có cả cửakhẩu trên bộ và trên biển (cửa khẩu quốc tế Móng Cái và cửa khẩu biển VạnGia) Thực tiễn phát triển cho thấy KKT cửa khẩu Móng Cái là KKT cửakhẩu thành công nhất trong số 28 KKT cửa khẩu của cả nước Đã thí điểm

thành công chính sách mở cửa năm 1990.

- Trung tâm hành chính Móng Cái cách Hạ Long (thủ phủ của tỉnh)

186 km được bộ, cách Hà Nội 330 km, Phòng Thành 45 km, Nam Ninh

150 km, Trạm Giang (Quảng Đông) 250 km Chính phủ hai nước ViệtNam và Trung Quốc đã xác đinh KKT cửa khẩu Móng Cái ( Một khu chứcnăng trong KKT Móng Cái) và cửa khẩu Đông Hưng là khu vực tuyến đầudiễn ra các hợp tác giao thương giữa hai nước

Trong xu thế mở cửa và hội nhập, Móng Cái là điểm hội tụ, là cửangõ giao lưu kinh tế chính giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam với cáctỉnh, thành phố miền duyên hải phía Nam Trung Quốc, cũng như trong tiếntrình hợp tác khu vực

KKT Móng Cái-Hải Hà ngày càng nổi bật trong vai trò “trạmtrung chuyển quốc tế” trong mạng lưới giao thông của khu vực Vịnh Bắc

Bộ, do vậy KKT này có nhiều cơ hội phát triển thương mại, du lịch và lưuthông hàng hoá quốc tế

b) Yếu tố về điều kiện tự nhiên, dân số - lao động:

Trang 6

- Đia lý: - KKT Móng Cái-Hải Hà là khu vực nằm ở phía Đông Bắccủa tỉnh Quảng Ninh, bao gồm toàn bộ thành phố Móng Cái và KCN -cảng biển Hải Hà Phía Bắc KKT cửa khẩu giáp Đông Hưng (Trung Quốc);Phía Tây giáp huyện Đầm Hà và huyện Vân Đồn; Phía Đông và phía Namgiáp biển Đông (Vinh Bắc Bộ) Đia hình: Phía Bắc là đồi núi, đia hìnhthoải dần ra biển, có đường biên giới trên đất liền 70km với Trung Quốc.Trong đất liền, 71% diện tích tự nhiên là núi đồi, xen kẽ giữa các thunglũng, song suối; có gần 10.000 ha đất rừng, hơn 5000 ha đất nông nghiệp;

có các hồ Quất Đông, Đoan Tĩnh, Tràng Vinh, Mắn Thí, Dân Tiến Khíhậu: Nhiệt độ thấp hơn các huyện miền Tây nhưng mưa nhiều Nhiệt độtrung bình năm 22,50c, lượng mưa trung bình năm 1.751 mm Diện tích:KKT cửa khẩu có diện tích tự nhiên khoảng 1.211 km2 (đất liền là 661 km2

và mặt biển là 550 km2), trong đó diện tích đất tự nhiên thành phố Móng Cái

là 516 km2 (phần trên đất liền và đảo) Tài nguyên du lich: có nhiều di tíchlich sử và danh lam, thắng cảng đẹp như: bãi biển Trà Cổ, với bãi cát min,đẹp, dài 17 km; mũi Sa Vĩ, nét chấm đầu tiên trên bản đồ của dải đất hìnhchữ S gần đảo du lich Vạn Vỹ (Trung Quốc); Mũi Ngọc và một số bãi biểntrên đảo Vạn Gia như Bãi Đầu Tán, Đầu Đông, bến Hèn, gắn với NgọnĐèn Hải Đăng cổ kính Móng Cái còn có hàng chục di tích, lich sử, văn hóa

và kiến trúc nghệthuật (Đền Xã Tắc, Đình Vạn Ninh, Chùa Xuân Lan, ChùaNam Thọ, Đình Trà Cổ, Nhà Thờ Trà Cổ, Cây Cầu Ka Long được làm bằng

đá lớn nhất Việt Nam; có 3 di tích xếp hạng quốc gia, 3 di tích xếp hạngcấp tỉnh và trên 10 lễ hội truyền thống… Móng Cái vinh dự 2 lần đượcBác Hồ về thăm (năm 1960 và 1961) Thành phố còn là một trung tâmmua sắm với hệ thống chợ (gồm 5 chợ chính), trung tâm thương mại và mộtchợ đêm Đây là đia điểm được các thương nhân trong nước rất quan tâm và

là một đia điểm tham quan lý tưởng của du khách

Trang 7

Dân số - lao động: Dân số KKT cửa khẩu Móng Cái khoảng 132.828người, bao gồm 8 dân tộc anh em sinh sống (Kinh, Tày, Hoa, Sán Dìu,Nùng, Sán Chỉ, Dao, Thanh Y) Người Kinh chiếm đại bộphận dân cư (ởthành phố Móng Cái dân tộc Kinh chiếm khoảng 96% và KCN cảng biển Hải

Hà khoảng 76%)

c) Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ nhanh, bình quân giai đoạn 2010

- 2015 là 14,35%/năm; năm 2016, 14%, (cao hơn tốc độ của tỉnh) và gấphơn 2 lần tốc độ tăng trưởng của cả nước)

Cơ cấu kinh tế: Năm 2016: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 9,2% công nghiệp 15,1% - dich vụ75,7% Tổng thu ngân sách (2012 -2015) đạt5.420.,548 tỷ đồng (thu nội đia 1.366,161 tỷ đồng, thu từ hải quan 3.454,387tỷ đồng); năm 2016 đạt:1.659,637 tỷ đồng Về đầu tư xây dựng cơ sởhạtầng: Từ năm 2011 - 2016, trên đia bàn Móng Cái đã xây dựng 1.048công trình với tổng mức đầu tư là 2.695 tỷ đồng, tổng vốn NS đầu tư năm

-2016 trên đia bàn đạt 501,5 tỷ đồng

d) Về văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường:

- Mức sống của người dân: Năm 2016, thu nhập bình quân đầu ngườiđạt 4.250 USD; tỷ lệhộ nghèo 1,12% hộ cận nghèo còn 1,85%

- Lĩnh vực văn hóa thể dục thể thao: 100% thôn, khu có nhà vănhóa; 100% các khu dân cư trên đia bàn được phủ sóng truyền hình

- Lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Đến hết năm 2016, thành phố có 56trường học từ cấp mầm non đến THPT, trong đó 40/52 (76,9%) trườngđược kiên cố hóa; 50% số trường đạt chuẩn quốc gia Hàng năm, nguồn kinhphí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục chiếm 35,7%

- Lĩnh vực y tế: 100% số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, Bệnhviên Đa khoa khu vực Móng Cái được đầu tư trang thiết bị hiện đại; đạt 3giường/1 vạn dân; đạt 4,3 bác sỹ/vạn dân

Trang 8

- Bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc: Hệthống hạ tầng giaothông được triển khai đồng bộ, đáp ứng yêu cầu sử dụng dich vụcủa cácdoanh nghiệp và người dân trên đia bàn; 5/17 xã phường có bưu điện vănhóa xã; tổng số máy điện thoại đạt tỷ lệ 80 máy/100 dân; 100% các hộ giađình được sự dụng điện lưới quốc gia;

- Hệ thống cung cấp nước: 96% số hộ được sử dụng nước sạch;đang đầu tư nâng cấp, cải tạo tầng cấp nước khu vực Tây Ka Long; xâydựng hệ thống xử lý nước mặt lấy từ hồ Tràng Vinh, hồ Quất Đông và hồĐoàn Tĩnh, đảm bảo cung cấp nước cho Móng Cái

1.1.2 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến phát triển ngànhdịch vụ Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái

Về cơ sở hạ tầng: Hiện trạng cơ sở hạ tầng tại KKT Móng Cái-Hải

Hà phát triển không đồng đều Chẳng hạn, tại khu CN cảng biển Hải Hà

và khu vực các xã liên quan, mặc dù UBND huyện Hải Hà đã chỉ đạo cácban, ngành chức năng tập trung giải quyết các thủ tục và tạo điều kiệncho các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, songđến nay khu vực này mới ở giai đoạn đầu triển khai công tác giải phóng mặtbằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư và khởi công, nâng cấp một số tuyếnđường phục vụ cho sự phát triển khu CN cảng biển

Đối với khu KTCK Móng Cái, so với các khu KTCK khác trên cảnước, cơ sở hạ tầng Móng Cái được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh vàđồng bộ hơn do được hưởng các cơ chế chính sách ưu đãi từ rất sớm Tạikhu KTCK Móng Cái đã được trang bị các thiết bị kiểm tra, giám sát hành

lý, có bãi kiểm tra hàng hoá rộng 4.000m2, có 11 kho ngoại quan, có bến,cảng phục vụ cho việc bốc xếp, giao nhận hàng hoá, có 4 bãi đỗ xe chờxuất hàng với quy mô chứa trên 800 xe container Ngoài ra, Tổng cục Hảiquan đã chấp thuận cho Cty Cổ phần thương mại và dịch vụ Móng Cái đầu

tư địa điểm kiểm tra tập trung hàng hoá với tổng diện tích khoảng 13.600m2 Tuy vậy, hiện vẫn còn một số bất cập liên quan tới hệ thống cơ sở hạ

Trang 9

tầng Thứ nhất, hệ thống các kho ngoại quan còn nhỏ, nằm khá phân tán,đan xen trong cả khu vực dân cư, do vậy gây khó khăn cho quá trình vậnchuyển hàng hoá và khó khăn cho công tác quản lý xuất nhập khẩu hànghoá Bên cạnh đó, một số bến bốc xếp hàng hoá nằm dọc sông Ka Longcũng gây ảnh hưởng đến công tác vệ sinh môi trường và tác động đếncảnh quan trung tâm thành phố Thứ hai, hiện tại trục đường quốc lộ 18Anối từ Hạ Long tới Móng Cái (dài 185 km) là đoạn đường tương đối khúckhuỷu, vòng cua gấp nên chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoáContainer Đối với tuyến đường thuỷ, hoạt động vận chuyển gặp rất nhiềukhó khăn, do ảnh hưởng của thủy triều tàu thuyền qua lại trên sông Ka Longthường bị mắc cạn làm ách tắc giao lưu hàng hóa.

Các bất cập liên quan tới xây dựng cơ sở hạ tầng một phần cũng xuấtphát từ lý do tỉnh Quảng Ninh hiện vẫn chưa có quy hoạch tổng thể chung

về phát triển hệ thống các cửa khẩu, các điểm thông quan trên tuyến biêngiới Các cửa khẩu hiện có được quy hoạch một cách độc lập, riêng lẻ doxuất phát từ nhu cầu thực tế, vì vậy tính thống nhất của toàn bộ hệ thống cửakhẩu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn hạn chế Do chưa có quy hoạchchung nên cơ sở hạ tầng (đặc biệt là cơ sở hạ tầng thương mại) tại các khuKTCK nói chung và khu KTCK Móng Cái nói riêng phát triển còn mangtính tự phát, phân tán và thường xuyên bị quá tải

- Về nguồn lực tài chính (vốn) đầu tư cơ sở hạ tầng KKT Móng Hải Hà: Mặc dù, so với nhiều năm trước, cơ sở hạ tầng tại KKT Móng Cái-Hải Hà đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên do nguồn vốn đầu tư xây dựng

Cái-cơ bản được thực hiện theo Cái-cơ chế hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trungương và các nguồn vốn huy động khác còn tương đối hạn hẹp Vì vậy, một

số công trình trọng điểm phục vụ phát triển KKT Móng Cái - Hải Hà gặp rấtnhiều khó khăn về vốn

- Về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực tại KKT Móng Cái-Hải Hà hiệnnay còn hạn chế về cả số lượng và chất lượng, chưa tương xứng với sự phát

Trang 10

triển ngày càng nhanh về kinh tế-xã hội của địa phương Ngay ở khu vựccảng biển nước sâu Hải Hà, lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổthông, phần lớn làm việc trong các lĩnh vực nông-lâm-thuỷ sản và chưa quađào tạo Đây là thách thức lớn trong quá trình phát triển các ngành côngnghiệp thời kỳ tới tại KCN cảng biển Hải Hà Bên cạnh đó, hiện thiếu độingũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu trên một số lĩnh vực kinh tế mũinhọn và đội ngũ cán bộ quản lý thông thạo tiếng Choang (tiếng của ngườidân bản địa thành phố Phòng Thành-Trung Quốc) Trong khi đó, hiện tại,KKT Móng Cái - Hải Hà vẫn chưa có chính sách đủ mạnh để thu hút nhântài về làm việc tại địa phương.

- Về cơ chế chính sách (hệ thống pháp luật): KKT Móng Cái-Hải Hàvới đặc thù là vừa là khu kinh tế ven biển, vừa là khu vực cửa khẩu biêngiới Thời gian qua, do phía Trung Quốc thường xuyên có sự thay đổi chínhsách trong công tác quản lý biên mậu, vì vậy KKT này cũng gặp một số khókhăn trong hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch Chẳng hạn,việc Trung Quốc tạm thời chưa cấp trở lại thủ tục thông hành cho khách dulịch Trung Quốc vào Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái đã ảnh hưởng khôngnhỏ tới hoạt động dịch vụ và du lịch tại đây Trong khi phía Trung Quốcthường có những thay đổi về chính sách quản lý xuất nhập khẩu, ưu đãi vềthuế quan và phi thuế quan, thì phía Việt Nam vẫn chưa có cơ chế, chínhsách mới, kịp thời để đối phó và phù hợp với yêu cầu phát triển khu KTCK

Một hạn chế rất lớn nữa là hiện nay về mặt pháp lý KKT Móng Hải Hà mới dừng dưới dạng thống nhất về mặt chủ trương (thể hiện qua cácvăn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ), KKT Móng Cái - Hải Hà chưađược thành lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính Phủ về khu công nghiệp, khuchế xuất và khu kinh tế nên gặp rất nhiều cản trở về thực thi các cơ chế,chính sách đối với KKT và trở nên thiếu sức hấp dẫn hơn so với các KKTnói chung và khu KTCK nói riêng đã được Thủ tướng Chính phủ thành lập

Trang 11

Cái-Như vậy, hiện nay KKT Móng Cái-Hải Hà vẫn chưa có vị trí pháp lý đảmbảo để hoạt động theo đúng cơ chế, chính sách của KKT được pháp luật quyđịnh.

Ngoài ra, công tác quản lý ở tại địa phương còn nhiều bất cập Hiệnnay, thành phố Móng Cái vẫn chưa có một tổ chức quản lý Nhà nước nàođứng ra tư vấn, hỗ trợ thông tin và dự báo thị trường để hỗ trợ các doanhnghiệp phía Việt Nam trước những thay đổi chính sách thường xuyên và bấtthường từ phía Trung Quốc Các doanh nghiệp Việt Nam thường ở thế bịđộng và bị thiệt hại lớn về mặt kinh tế khi đối tác phía Trung Quốc liên kếttạm ngừng nhập khẩu hàng hoá hoặc chèn ép giá

Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Trong thời gian qua, cùngvới sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước, và ngoài nước, đặcbiệt là Trung Quốc, cùng với định hướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế

Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Tài chính ngânhàng và logistics được mở ngày càng nhiều dẫn đến cạnh trang trong ngànhngày càng ngăn ngắn hơn không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh dich vụcủa Móng cái mà cả doanh nghiệp dich vụ nước ngoài

Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp hoạt động tại KKT MóngCái- Hải Hà đều là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, mới thành lập nên trình

độ và năng lực còn hạn chế, đặc biệt là chưa có kinh nghiệm trong hoạt độngthương mại và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, cơ cấu lĩnhvực hoạt động của các doanh nghiệp tại KKT Móng Cái-Hải Hà chưa đápứng được nhu cầu trong tương lai Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp nàylại hoạt động thường xuyên trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, chưa có nhiềudoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp; trong khi đó, một trongnhững định hướng tương lai cho phát triển KKT Móng Cái-Hải Hà là pháttriển ngành công nghiệp nặng Ngoài ra, tính gắn kết, thống nhất giữa cácdoanh nghiệp Việt Nam còn yếu, các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉquan tâm đến lợi ích trước mắt, lợi ích của chỉ bản thân doanh nghiệp nên

Trang 12

chưa có các biện pháp liên kết, phố hợp hiệu quả nhằm ngăn chặn tình trạngthường xuyên ép giá của các doanh nghiệp phía Trung Quốc.

1.2 Cơ cấu ngành dịch vụ của Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái.

Ngành dịch vụ lớn nhất là dịch vụ ngoại thương, chiếm gần 33,3 phầntrăm GDP vào năm 2014, trong khi ba nhóm dịch vụ lớn tiếp theo là vận tải,bưu chính và du lịch (6,4%), quản lý nhà nước (1,6%), giáo dục và đào tạo(3,63%) Tỷ trọng GDP của các ngành này trong lĩnh vực dịch vụ lần lượt là36,28 phần trăm, 11,89 phần trăm, 11,50 phần trăm và 9,53 phần trăm Đâycũng là các dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao Tỷ trọng lớn và tốc độ tăngtrưởng cao của các dịch vụ tiêu dùng cuối cùng như khách sạn và nhà hàng

và một phần các dịch vụ bất động sản và phân phối xảy ra khi nền kinh tếtăng trưởng nhanh, đem lại sự thịnh vượng cho toàn xã hội và thúc đẩy tiêudùng vốn bị cản trở trong hệ thống phân phối tập trung Gần đây các dịch vụbất động sản và vận tải đã mở rộng nhờ quá trình tự do hóa các lĩnh vực này,đặc biệt với sự tham gia kinh doanh của khu vực tư nhân và nhiều nguồn lựchơn được phân bổ cho cho phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế

Bảng 1.1: Cơ cấu giá tri sản xuất phân theo khu vực kinh tế (%)

Cơ cấu ngành dich vụ 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016

Tổng số 64,6 59,8 60,2 61,0 62,2 63,3 61,0 62,2 63,3 Thương nghiệp 25,2 25,3 27,1 28,8 30,2 32,1 30,8 33,2 34,0 Vận tải, bưu chính -

viễn thông 8,1 5,8 5,8 5,8 6,,7 6,4 6,8 6,,3 63.5Quản lý nhà nước 4,2 2,1 1,9 1,7 1,6 1,6 1,6 1,7 1,7 Giáo dục và đào tạo 0,8 0,9 0,9 0,9 0,9 1,0 0,9 0,9 1,0 Thuế nhập khẩu và các

ngành khác 26,4 25,8 24,6 23,8 22,7 22,2 22,5 23,7 24,2

(Nguồn: Phòng thống kê thành phố)

Trang 13

1.3 Thực trạng các hoạt động dịch vụ và phát triển ngành dịch vụ khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái giai đoạn 2012-2016

1.3.1 Dịch vụ logistics thương mại

Từ khi thực hiện chủ trương “mở cửa” biên giới theo Thông báo số

118 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI tháng 2 - 1989 cho nhân dâncác xã biên giới thăm thân và trao đổi hàng hóa, đặc biệt là từ khi được ápdụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu theo Quyết đinh675/2001/QĐ- TTg ngày 18-9-1996 và chính thức theo Quyết đinh 53/2001/QĐ-TTg ngày 19- 4-2001 của Thủ tướng Chính phủ, Móng Cái được điềutiết trở lại 50% số vượt thu từ nguồn thu hải quan cửa khẩu để xây dựng hạtầng kinh tế - xã hội; Quyết định số 99/2009/QĐ-TTg ngày 29/7/2009 “Phêduyệt đề án phát triển thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái, tỉnh QuảngNinh đến năm 2020”; Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg ngày 02/3/2009 “Banhành cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu”; Quyết định19/2012/QĐ-TTg ngày 10/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ “về việc thànhlập khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái” Chính sách này đã thúc đẩy sự hìnhthành nhanh chóng mạng lưới thương mại dịch vụ khu vực biên giới MóngCái và làm thay đổi diện mạo khu kinh tế (KKT) cửa khẩu với nhiều côngtrình, như hệ thống bến bãi, kho hàng, các trung tâm thương mại, hệ thốngchợ… các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, công tácxây dựng Đảng và hệthống chính trị đều có bước phát triển vượt bực

Móng Cái từ một đia phương nghèo, thuần nông dựa vào bao cấp củacấp trên là chính, nay trở thành một vùng kinh tế phát triển năng động với cơcấuthay đổi cơ bản từ chỗ nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 80% tỷ trọngtrong GDP trước năm 1989, chuyển dich sang dich vụthương mại, du lichchiếm trên 70% Thu ngân sách hằng năm đạt trên 1000 tỷ đồng, năm caonhất đạt 2.700 tỷ đồng; năm 2016 đạt 1.659,637 tỷ đồng, vượt 11,8% so vớicùng kỳ; tốc độ tăng trưởng duy trì cao, bình quân hằng năm trên 12,6%, gấp

2 lần tốc độ tăng trưởng của cả nước

Trang 14

Thực trạng vào năm 2008, lĩnh vực dịch vụ chỉ chiếm 67,6 phần trămGDP và 52,7 phần trăm việc làm Kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, tỷtrọng của dịch vụ trong GDP đã trải qua các giai đoạn khác nhau: giảm tronggiai đoạn 1986-1988 khi Móng Cái là một huyện biên giới thuần nông đặcbiệt khó khăn, ưu tiên phát triển nông nghiệp là chủ yếu; tăng trong giaiđoạn 1988-1991 khi chính sách mở cửa biên giới có hiệu lực; duy trì pháttriển từ 2005 - 2010; tăng mạnh trong năm 2011 mặc dù kinh tế thế giới suythoái chưa có dấu hiệu phục hồi và giảm vào thời điểm cuối năm 2012 vànửa đầu năm 2013 do suy thoái kinh tế, đặc biệt là chính sách quản lý biênmậu, hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụcủa phía Việt Nam và Trung Quốc,đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tết thị trường, đến nay cơ bảndần phát triển lại.

Bảng 1.2: Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế (%)

TT Cơ cấu kinh tế 2011 2012 2013 2014 2015 2016

1 Tính theo giá SS năm 1994

Trang 15

- Số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dich vụ logistics thươngmại phát triển nhanh từ chỗ chỉ có 28 doanh nghiệp năm 2005, tăng lên 400doanh nghiệp trong giai đoạn 2009-2012, tuy nhiên giảm mạnh xuống còntrên 100 doanh nghiệp nửa đầu năm 2013, đến năm 2016 lên gần 200 doanhnghiệp do hàng loạt các chính sách quản lý hàng tạm nhập tái xuất củaChính phủ Việt Nam và chính sách quản lý biên mậu của phía đối diện.

Mặc dù có nhiều biến động qua các năm, song nhìn chung hoạt độngthương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá qua thành phố cửa khẩu Móng Cái(một đơn vị hành chính của KKT Móng Cái-Hải Hà) diễn ra khá sôi động

So với con số tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá giai đoạn 2006-2010thì rõ ràng từ năm 2011 tới nay hoạt động dịch vụ hậu cần thương mại đã có

sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ Tổng kim ngạch XNK qua địa bàn thànhphố 5 năm 2011-2015 bình quân đạt trên 4.717,2 triệu USD/năm, đạt tốc độtăng bình quân 14,1% chiếm 95,7% tổng kim ngạch hàng hóa qua các cửakhẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

và chiếm trên 40% tổng kim ngạch hàng hóa XNK qua cửa khẩu các tỉnhbiên giới phía Bắc (Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng) Thu thuế XNK qua cửakhẩu Móng Cái chiếm 85,3% tổng thu qua các cửa khẩu biên giới của tỉnhQuảng Ninh và chiếm 28,5% tổng thu XNK qua cửa khẩu các tỉnh biên giớiphía Bắc Đặc biệt năm 2016, XNK qua các cửa khẩu thành phố Móng Cáiđạt 9.956,453 triệu USD, tăng hơn 1,6 lần so với năm 2011, so với năm cókim ngạch thấp nhất trong giai đoạn này (2013) tăng 328,1%

Tùy theo nhu cầu và sức chứa của kho hàng, các công ty dichvụlogistics tiến hành lắp đặt và vận hành hệ thống phù hợp với từng đặc

Trang 16

điểm của kho hàng, thiết kế, tranh bi hệ thống bảo ôn, làm mát, hệthốngchiếu sáng, giá đỡ; giảm thiểu tác hại của khí hậu tác động lên các sản phẩm.

- Dich vụ vận tải: Tổng khối lượng hàng hóa được vận chuyển trên điabàn thành phố Móng Cái đạt 788 nghìn tấn năm 2010, năm 2011 tăng lên

960 nghìn tấn Số lượng lượt phương tiện qua KKTCK Móng Cái giai đoạn2010- 2014 tăng mạnh, trung bình mỗi năm có hơn 170.000 lượt phươngtiện, chủ yếu là chuyên chở hàng hoá và khách du lịch Tuy nhiên do chínhsách quản lý biên mậu, hàng hóa TNTN của Việt Nam và Trung Quốc chonên lượng hàng hóa vận chuyển giảm mạnh còn 708 nghìn tấn trong năm

2015, đạt 73% so với cùng kỳ, năm 2016 đạt 756 nghìn tấn Số lượng hànhkhách được chuyên chở đạt 3,1 triệu lượt khách năm 2012, 3,31 triệu lượtkhách trong năm 2012, tăng trung bình 6.7% Dịch vụ vận tải đã đóng gópvào GDP 335,805 tỷ đồng trong năm 2016, tăng 142% so với năm 2011

- Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa

Khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường sông tăng từ 86nghìn tấn năm 2005 lên 117,1 nghìn tấn năm 2016 và khối lượng luânchuyển hàng hoá tăng từ 83 nghìn tấn km năm 2005 lên 101 nghìn tấn kmnăm 2016 Số lượng hành khách được chuyên chở tăng từ 111,9 triệu hànhkhách năm 2005 lên 162,5 triệu hành khách năm 2016 và khối lượng luânchuyển hànhkhách tăng từ 1,9 tỷ hành khách km năm 2005 lên 3,3 tỷ hànhkhách km năm 2016

Vận tải đường thủy nội địa tập trung chủ yếu trên hệthống sông KaLong và Sông Bắc Luân Chiều rộng tối thiểu là 30-36 mét và chiều sâu tốithiểu là 0,5- 3 mét Các tuyến đường sông phía Bắc của sông Ka Long làthuận lợi hơn về chiều sâu, với chiều rộng tối thiểu là 30-100 mét, chiều sâutối thiểu là 1-3 mét, với 80 tuyến đường có tổng chiều dài là 20 km, chiếmthị phần vận tải thuỷ 80%

Dịch vụ bốc xếp, trên toàn mạng lưới đường thủy nội địa, có 7 bếncảng, 9 bến thủy nội địa đường sông

Trang 17

- Dịch vụ vận tải đường biển:

Khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển tăng từ 7,3triệu tấn năm 2005 lên 45 triệu tấn năm 2016 và khối lượng luân chuyểnhàng hoá tăng từ 15,3 tỷ tấn km năm 2005 lên 138,3 tỷ tấn km năm 2016.Dịch vụ vận tải biển đã đóng góp vào GDP năm 2016 với tổng doanh thu là28,3 ngàn tỷ đồng tăng 4% so cùng kỳ năm 2010

Hầu hết tàu là để chở hàng hóa nói chung, tàu chuyên dụng chủ yếutàu chở dầu và chở chất lỏng Có không nhiều tàu chở Công ten nơ Có 18chủ tàu hoạt động trên địa bàn KKT, trong đó 03 chủ tàu là các doanhnghiệp Nhà nước và có quy mô lớn Nhà cung cấp dịch vụ chi phối làVINALINES, doanh nghiệp Nhà nước, kiểm soát trên 53% thị phần

Thực tiễn hoạt động ngoại thương, vận chuyển hàng hóa quốc tế vàhạn chế của đội tàu Việt Nam (hầu hết các lô hàng xuất khẩu nhập khẩu hiệnnay được chuyên chở bằng Công ten nơ) đã khiến mục tiêu này chưa đạt

Dịch vụ xếp dỡ, có 01 cảng đạt hạng III theo khu vực Đang tiến hànhtriển khai xây dựng Cảng biển Hải Hà đạt loại II, Cảng Vạn Gia bị hạn chế

về công xuất bốc xếp các tàu cỡ lớn Năng lực bốc dỡ hàng tại các cảng biểnở Việt Nam tăng nhanh chóng, từ khoảng 49 triệu tấn năm 1997 lên 181triệu tấn năm 2007 Trong đó gần 67% là hàng hóa xuất, nhập khẩu, 24% làhàng hóa trong nước và 9% là hàng chuyển tải

Hiệu quả về hoạt động xếp dỡ Công ten nơ tại các cảng ở KKT cửakhẩu Móng Cái thấp hơn mức bình quân so với các khu kinh tế trong nước,

và khu vực, chưa đối xứng với Phòng Thành Cảng (Trung Quốc) vì nhiều lý

do khác nhau, yếu kém nhất là hạn chế bởi năng lực cảng, như thiết bị bốc

dỡ, quy hoạch kho bãi và luồng chuyên chở không tốt, thiếu kinh nghiệm vàthiếu khu vực cho tàu đỗ

- Dịch vụ vận tải đường bộ:

Khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ tăng từ 265nghìn tấn năm 2005 lên 445 nghìn tấn năm 2016 và khối lượng luân chuyển

Trang 18

hàng hoá tăng từ 436 nghìn tấn km năm 2005 lên 563 nghìn tấn km năm

2016 Số lượng hành khách được chuyên chở tăng từ 1,09 triệu lượt kháchnăm 2005 lên 3.4 triệu lượt khách năm 2016

Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ vận tải bộ là từ khu vực tư nhân.Hiện nay, có khoảng 13 doanh nghiệp đăng ký tham gia vào lĩnh vực vận tảiđường bộ Hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vận tải đường bộ chiếm

đa số dịch vụ vận tải hành khách liên tỉnh, lên tới 85% và 63% số lượnghành khách và số hành khách km Đối với vận tải hàng hóa liên tỉnh, tỷtrọng của vận tải bộ là 68% về khối lượng và 15% về khối lượng km Từnăm 2005 tới 2015, nhu cầu vận tải đường bộ tăng bình quân hàng năm10,3% về tấn và 8,2% về tấn km Chất lượng dịch vụ vận tải hàng hóa chưađạt tiêu chuẩn Phương tiện vận tải và trang thiết bị trên xe cần được cảithiện đáng kể Bên cạnh đó, hệ thống đường xá cũng chưa đầy đủ

- Dich vụ phân phối: Chỉ trong 10 năm (1999-2009), hàng loạt cáctrung tâm thương mại (TTTM), chợ đã đã phát triển nhanh chóng Tổng số

hộ kinh doanh tại các chợ KKTCK Móng Cái tăng đều trong giai đoạn

2007-2016 Năm 2016, có 2.540 hộ kinh doanh với kết quả hoạt động đạt 10.450triệu đồng với số nộp ngân sách đạt 3.768 triệu đồng

1.3.2 Dịch vụ du lịch

Ngành dịch vụ du lịch Móng Cái đạt tốc độ tăng trưởng nhanh chóng

so với tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước cũng như của khu vực Từnăm 2010 tới năm 2014, số lượng khách du lịch quốc tế đã tăng hai lần, đạt4,26 triệu, trong khi số lượng khách du lịch nội địa tăng 4 lần, đạt 2,5 triệu.Doanh thu từ lĩnh vực du lịch đã tăng 23,8% hàng năm và đạt 20 tỷ vào năm

2013 Số lượng khách tới Móng Cái vì mục đích du lịch chiếm 26 phần trămtrong tổng số khách nước ngoài trong khi tỷ trọng này đối với khách kinhdoanh, thăm gia đình và các mục đích khác lần lượt là 16 phần trăm, 9 phầntrăm và 10 phần trăm Hầu hết các khách du lịch là từ Trung Quốc, HànQuốc

Trang 19

Hiện nay trên đia bàn thành phố Móng Cái đang có 46 Công ty hoạtđộng lữ hành, trong đó có 45 công ty trong nước cung cấp dịch vụ du lịchquốc tế Tuy nhiên, các công ty trong nước có vốn đầu tư và nhân lực khiêmtốn Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ trong lĩnh vực du lịch còn thấp.Chỉ khoảng 60-70% các khách sạn 3 sao đang sử dụng các chương trình máytính để quản lý khách sạn Thanh toán điện tử chưa phổ biến ngay cả ở cáckhách sạn lớn Xe chở khách cũ và không thuận tiện nếu phải di chuyển xa.

Có khoảng 3.089 phòng khách sạn nhưng số lượng phòng ở các danh lamthắng cảnh là không nhiều Các khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế chỉ chiếm 2tổng số khách sạn Rất nhiều nhà khách của nhà nước và khách sạn được xâydựng từ lâu và đang bị xuống cấp

1.3.3 Dịch vụ tài chính ngân hàng tại Khu kinh tế Cửa khẩu MóngCái

Có bước phát triển mạnh Tính đến tháng 10 năm 2016, có 17 chinhánh ngân hàng (trong đó có 4 chi nhánh ngân hàng cấp I) được thành lập ởKKTCK Móng Cái Tổng doanh số hoạt động của các ngân hàng trong giaiđoạn 2013- 2016 năm đạt 680.023 tỷ đồng, tăng bình quân 32,3%/năm Hoạtđộng dịch vụ thu đổi ngoại tệ được quản lý theo quy định Năm 2016, ngànhngân hàng hoạt động khá hiệu quả chủ trương kích cầu đầu tư, kích cầu tiêudùng của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, doanhnhân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ, đáp ứng tốt yêu cầuphát triển kinh tế xã hội Doanh số hoạt động của các ngân hàng trongKKTCK năm 2015 đạt 88.640 tỷ đồng, bằng 53,5% so cùng kỳ (do hoạtđộng XNK giảm mạnh so với cùng kỳ), trong đó: huy động vốn đạt 1.765 tỷđồng, bằng 137,4% so cùng kỳ, cho vay đạt 1.300 tỷ đồng, bằng 146,4%cùng kỳ, thanh toán biên mậu đạt 18.575 tỷ đồng, bằng 53,9% so cùng kỳ;chuyển tiền đạt 67.000 tỷ đồng, bằng 46% cùng kỳ

Quý 1 năm 2016, các ngân hàng trong KKTCK tiếp tục thực hiện tốtchính sách vĩ mô của Chính phủ, đồng thời phát triển mạnh các dịch vụ ngân

Trang 20

hàng Trong quý I (2016), tổng doanh số hoạt động đạt 10.133 tỷ đồng, trong

đó huy động vốn đạt 1.615 tỷ đồng, tăng 22,2 % so với cùng kỳ; cho vay đạt1.515,4 tỷ đồng, tăng 41,5% so cùng kỳ; thanh toán biên mậu đạt 7002,7 tỷđồng, giảm 77,4% so với cùng kỳ

Tuy nhiên, mức độ truy cập tài chính được đo bằng số lượng các chinhánh ngân hàng và các rút tiền tự động trên 100.000 người Móng Cái, tínhđến cuối năm 2015, tỷ lệ chi nhánh, phòng giao dich trên 100.000 người dântrung bình chỉ là 1,18; trong khi số liệu này trên cả nước vào khoảng 3,72

Số lượng máy ATM và POS của Móng Cái chỉ là 37 ATM và 44 POS (cảnước hiện có khoảng 12.000 ATM và 48.000 POS) Hoạt động huy độngvốn và cho vay qua các ngân hàng tại đây tuy đã được chú trọng, thế nhưngtổng nguồn vốn huy động và cho vay tính đến 31/12/2015 trên đia bàn chỉđạt tương ứng là 3.447 tỷ đồng và 3.786 tỷ đồng và chỉ chiếm tương ứng8,8% tổng nguồn vốn huy động và 7,7% tổng dư nợcho vay của toànhệthống trên đia bàn tỉnh Quảng Ninh, như vậy, tổng nguồn vốn huy động

và tổng dự nợ cho vay của hệthống các ngân hàng tại Móng Cái vẫn còn hạnchế

Về hoạt động thanh toán biên mậu:

Để phục vụ cho việc phát triển thương mại biên giới, trên địa bànthành phố Móng Cái hiện có 5 chi nhánh Ngân hàng thương mại nhà nước làNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương,Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàngPhát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (tại địa bàn thành phố Móng Cái -Quảng Ninh) thực hiện đại lý thanh toán biên mậu với 4 NHTM lớn củaTrung Quốc là Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công thương, Ngânhàng Kiến Thiết và Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China) phía ĐôngHưng - Quảng Tây - Trung Quốc

Về nội dung hợp tác thanh toán biên mậu bằng đồng bản tệ giữa ngânhàng 2 nước ngày càng chặt chẽ Phương thức, nghiệp vụ và công nghệ

Ngày đăng: 27/04/2022, 19:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thành phố Móng Cái - Thực trạng thực trạng phát triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh
Hình 1.1 Vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thành phố Móng Cái (Trang 4)
Bảng 1.2: Ty trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế (%) - Thực trạng thực trạng phát triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh
Bảng 1.2 Ty trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế (%) (Trang 14)
Hình 2.1: Sơ đồ Trung tâm tài chính (Nguồn: UBND thành phố Móng Cái) Hoàn thiện và thúc đẩy việc thanh toán xuyên quốc gia, trọng tâm là thanh toán biên mậu, tích cực hợp tác giữa hệthống ngân hàng của Móng Cái với hệthống ngân hàng Đông Hưng (TQ); xây d - Thực trạng thực trạng phát triển ngành dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh
Hình 2.1 Sơ đồ Trung tâm tài chính (Nguồn: UBND thành phố Móng Cái) Hoàn thiện và thúc đẩy việc thanh toán xuyên quốc gia, trọng tâm là thanh toán biên mậu, tích cực hợp tác giữa hệthống ngân hàng của Móng Cái với hệthống ngân hàng Đông Hưng (TQ); xây d (Trang 29)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w