1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ICC 1963 BẢO HIỂM HÀNG HẢI

18 247 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 Tổng quan về ICC 1963 LỜI NÓI ĐẦU 1) Lý do lựa chọn đề tài Ngày nay trước xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng gia tăng, kéo theo đó là tỉ lệ rủi ro và nguy hiểm trong quá trình vận chuyển cũng gia tăng Để đối phó với các rủi ro, con người đã dung nhiều biện pháp như “ tránh rủi ro, ngăn ngừa hạn chế ” và một trong số đó đang được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thế giới hiện nay đó là “ bảo hiểm” hay.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1) Lý do lựa chọn đề tài

Ngày nay trước xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá

và tự do hoá thương mại, lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng gia tăng, kéo theo

đó là tỉ lệ rủi ro và nguy hiểm trong quá trình vận chuyển cũng gia tăng Để đối phó với các rủi ro, con người đã dung nhiều biện pháp như “ tránh rủi ro, ngăn ngừa hạn chế…” và một trong số đó đang được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế thế giới hiện nay đó là “ bảo hiểm” hay “ sự chuyển nhượng rủi ro” Các điều khoản đầu tiên về bảo hiểm hàng hoá của Hiệp hội được đưa vào thị trường bảo hiểm Luân đôn năm 1912 Các điều khoản này đã được Uỷ ban Điều khoản và Kĩ thuật xây dựng, đại diện cho cả Lloyd's lẫn các Công ty bảo hiểm, và dựa vào các điều khoản thông dụng lúc bấy giờ Nhu cầu phải có các điều khoản tiêu chuẩn đã trở nên rõ ràng vì có rất nhiều các điều khoản khác nhau được dùng để sửa đổi đảm bảo của mẫu đơn bảo hiểm SG Để tiêu chuẩn hóa các điều khoản đó, ICC 1963 đã

ra đời, cho dù qua nhiều năm sửa đổi và đã hình thành nhiều bộ điều kiện bảo hiểm mới như ICC 1982 hay mới nhất là ICC 2009, nhưng những giá trị cốt lõi vẫn tồn tại và ảnh hưởng đến các điều kiện bảo hiểm đến thời điểm hiện nay Chính vì lý

do đó, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Bộ điều kiện bảo hiểm hàng hóa của

hiệp hội bảo hiểm London ICC 1963” làm đề tài nghiên cứu.

2) Mục đích nghiên cứu của đề tài: hiểu rõ và phân tích được các điều kiện

bảo hiểm hàng hóa của hiệp hội bảo hiểm London ICC 1963

3) Đối tượng nghiên cứu: văn bản điều kiện bảo hiểm hàng hóa của hiệp hội

bảo hiểm London ICC 1963

Trang 2

4) Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may

Việt Nam và thị trường EU

5) Nội dung nghiên cứu:

• Giới thiệu sơ bộ về điều kiện bảo hiểm hàng hóa của hiệp hội bảo hiểm London ICC 1963

• Phân tích các điều kiện bảo hiểm của mẫu đơn bảo hiểm SG được sử dụng trong ICC 1963

• Đề xuất về các giải pháp của nhóm tác giả

6) Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu

phân tích, so sánh

Trang 3

Chương 1: Tổng quan về ICC 1963

I Tổng quan về ICC 1963

Các điều kiện bảo hiểm của Anh

- Do Uỷ ban kỹ thuật và điều khoản (Technical and clauses committee) thuộc Học hội những người bảo hiểm London (Institute of London Underwriters – ILU) soạn thảo Các điều kiện bảo hiểm này được gọi tắt là các ICC (Institute Cargo Clauses):

- ICC 1963:

+ FPA (Free from Particular Average): điều kiện miễn tổn thất riêng

+ WA (With Particular Average): điều kiện bảo hiểm tổn thất riêng

+ AR (All Risk): điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro

+ WR (War Risk): điều kiện bảo hiểm các rủi ro chiến tranh

+ SRCC: điều kiện bảo hiểm rủi ro đình công

Ba điều kiện bảo hiểm đầu là 3 điều kiện bảo hiểm gốc, điều kiện 4 & 5 là điều kiện bảo hiểm các rủi ro đặc biệt

- ICC 1982:

+ C: phạm vi bảo hiểm tương đương với FPA

+ B: phạm vi bảo hiểm tương đương với WA

+ A: phạm vi bảo hiểm tương đương với AR

+ WR

+ SRCC

Mặc dù hành văn kỳ cổ đơn bảo hiểm hàng hoá SG vẫn còn được sử dụng, không sửa đổi từ khi được thị trường Luân đon chấp nhận vào năm 1795 chỉ là vì những người bảo hiểm thuộc thế hệ sau đã bổ xung những điều khoản để khiến cho đơn bảo hiểm này phù hợp với thời đại Để tiêu chuẩn hoá, ba bộ điều khoản hàng

Trang 4

hoá đã được đưa ra vào năm 1912 - (I) "Free of particular average" (không bảo hiểm tổn thất riêng), (2) " With Average" (Bảo hiểm tổn thất riêng) và (3) "All Risks" (Mọi rủi ro) Mặc dù có những thay đổi nhưng thực tế cơ bản các diều khoản này không sửa đổi mà đỉnh cao là ICC 1963 (ICC là Institute Cargo Clause -Điều khoản bảo hiểm hàng hoá của học hội bảo hiểm Luân đôn) Ở đây không có ý

so sánh bảo hiểm giữa hai bộ điều khoản 1963 và 1982, nhưng thiết nghĩ một tóm lược ngắn của ICC 1963 sẽ giúp ích nhiều cho những ai chưa quen biết với điều khoản 1963

Điều khoản "All Risks" của ICC 1963 nới rộng những hiểm hoạ trong mẫu đơn bảo hiểm SG để bao gồm tất cả những tổn thất bất ngờ Tổn thất trực tiếp gây

ra bởi chậm trễ và nội tì (Inherent vice) của đối tượng được bảo hiểm bị loại trừ Bảo hiểm này cho cả tổn thất toàn bộ và bộ phận, ba gồm tổn thất riêng và tổn thất chung Ghi chú (memorandum) trên đơn bảo hiểm SG (để áp dụng miễn thường không khấu trừ cho tổn thất riêng) không áp dụng cho bồi thường tổn thất riêng theo điều khoản " All Risks"

Khi điều khoản FPA hay WA của ICC 1963 được đính kèm vào mẫu đơn bảo hiểm SG, các hiểm hoạ được liệt kê trong mẫu được áp dụng cho những tổn thất trực tiếp gây ra bởi hiểm hoạ được bảo hiểm song bị chi phối bởi loại trừ đối với tổn thất riêng qui định trong điều khoản Cụ thể một khác biệt duy nhất giữa FPA

và WA là cách giải quyết tổn hại do biển động (heavy weather damage) Điều khoản WA bảo hiểm các tổn hại vì biển động miễn là các tổn hại này không tỷ lệ phần trăm qui định trong memorandum trong đơn bảo hiểm SG, trong khi điều khoản FPA không bảo hiểm tổn thất bộ phận như thế Tuy nhiên, nếu tầu hay xà lan chuyên chở bị mắc cạn, chìm, cháy với hàng hoá trên đó trong thời gian ấy, cả hai

bộ điều khoản đều bảo hiểm đầy đủ cho tổn thất riêng thậm chí cho dù không do mắc cạn,chìm hay cháy gây ra, tất nhiên với điều kiện là khi không phải là trực tiếp gây ra bởi một hiểm hoạ không được bảo hiểm Một vài hiểm hoạ nhất định không bị chi phối bởi điều kiện " nguyên nhân trực tiếp" (Proximate cause) như được dẫn

Trang 5

chứng bởi trích dẫn điều 5 điều khoản FPA dưới đây (chung cho cả hai bộ điều khoản)

"Người bảo hiểm phải bồi thường theo trị giá bảo hiểm cho kiện hàng hay những kiện hàng bị tổn thất toàn bộ (totally lost) trong quá trình bốc, chuyển tải hay dỡ hàng cũng như đối với mọi tổn thất hay tổn hại của quyền lợi được bảo hiểm có thể hợp lí quy cho là do cháy,nổ, đâm va hay đụng chạm của tầu và hoặc

xà lan và hoặc phương tiện chuyên chở với mọi vật thể bên ngoài (kể cả băng đá) không phải là nước, hoặc trong quá trình dỡ hàng hoá tại cảng lánh nạn"

Cả ba bộ ICC 1963 đều đưa vào điều khoản " vận chuyển" ("transit" clause), điều khoản này mở rộng hành trình được bảo hiểm bởi đơn bảo hiểm SG để bảo hiểm "từ kho đến kho" Nếu không có mở rộng này thì bảo hiểm chỉ bắt đầu khi hàng được chất xếp lên tầu biển và kết thúc khi hàng hoá được dỡ xuống bến tại cảng dỡ hàng

Như đã đề cập ở trên, có thể thấy là ICC 1963 lệ thuộc mẫu SG trong việc giải thích phạm vi bảo hiểm theo bộ tài liệu hoàn chỉnh này Mẫu đơn bảo hiểm này đã bị chỉ trích nhiều trong những năm gần đây, người ta cho rằng hành văn cổ xưa ấy không cần thiết cho nhu cầu hiện đại, và là đơn bảo hiểm phải dễ hiểu ngay đối với người không chuyên môn, không cần đến những giải thích các từ ngữ đã lỗi thời từ bao năm nay Việc mẫu đơn bảo hiểm đã được sửa đổi trong hơn 70 năm qua bằng cách đính theo những điều khoản càng tăng thêm sự chỉ trích Tiếp theo phản kháng của UNCTAD cũng như từ các nguồn khác, thị trường Luân đon đã chấp thuận không sử dụng mẫu SG cho bảo hiểm hàng hoá có hiệu lực kể từ

31.3.1983 Để cho một thời gian chuyển tiếp cho việc thay đổi được suôn sẻ, mẫu đơn bảo hiểm kiểu mới được đưa ra có hiệu lực từ 1.1.1982 Các người bảo hiểm

và môi giới được khuyến khích sử dụng mẫu đơn bảo hiểm mới càng sớm càng tốt, nhưng trong mọi trường hợp, việc sử dụng mẫu mới được uỷ thác bắt đầu từ cuối tháng 3.1983

Trang 6

Đơn bảo hiểm mới chỉ là một tài liệu đơn giản không có gì khác hơn là tên người bảo hiểm và một điều khoản ràng buộc người bảo hiểm phải thực hiện hợp đồng Tất cả các thông tin về rủi ro được bảo hiểm và số tiền được bảo hiểm đều có trong phụ bản kèm trong mẫu đơn bảo hiểm Trong trường hợp mẫu đơn bảo hiểm

"kết hợp" ("combined " policy), một bản danh sách được ký tên đóng dấu bên trong đơn bảo hiểm liệt kê những người bảo hiểm tham cùng với dòng khoảng trống để kí và ghi chú được dán Mỗi khoảng đó được xem như là thiết lập một hợp đồng riêng rẽ với người được bảo hiểm

Việc bãi bỏ đơn bảo hiểm SG dẫn đến là phải xem xét lại một vài mục để hoàn tất bộ điều khoản hàng hoá mới Mặc dù mẫu đơn bảo hiểm phải như thế, cần phải giữ các hiểm hoạ được bảo hiểm, hiệu lực của điều khoản "tố tụng và đề phòng tổn thất" và điều khoản "miễn bãi" Cũng được quyết định là quy định

"memorandum" không cần thiết nữa, và qui định về miễn thường không khấu trừ không còn trong thực tế Những phần của đơn bảo hiểm SG cần giữ lại được đưa vào điều khoản hàng hoá mới, sửa lại câu chữ cho phù hợp với thực tế để dễ hiểu hơn

Trang 7

Chương II Phân tích các điều kiện bảo hiểm của mẫu đơn bảo hiểm

SG được sử dụng trong ICC 1963

Sự lệ thuộc quá lớn của ICC 1963 vào mẫu đơn bảo hiểm SG ( Ship- Goods Policy) đã bộc lộ nhiều hạn chế và nhược điểm và dẫn đến sự thay thế tất yếu bằng ICC 1982 và kèm theo đó là mẫu đơn MAR Form Tuy hiện nay mẫu đơn SG không còn được sử dụng trong bảo hiểm hàng hải hiện đại nhưng nội dung của nó vẫn còn mang tính chất học thuật Việc sử dụng SG làm nên một nhược điểm của ICC 1963 tuy nhiên mẫu đơn này đã xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng trong một thời gian dài Vì vậy xoay quanh nội dung của SG vẫn có những vấn đề đáng được chú ý

Đơn bảo hiểm SG bảo hiểm cho con tàu “tại và từ” địa điểm được ghi trên đơn bảo hiểm và hàng hóa từ thời điểm được xếp lên tàu Hiệu lực của bảo hiểm được tiếp tục đối với cả hai quyền lợi (tàu và hàng) trong suốt chuyến hành trình cho đến khi con tàu đến và thả neo, hay được buộc tại nơi đến có tên trên đơn bảo hiểm, hai mươi tư giờ sau khi tàu đến như thế bảo hiểm đối với tàu sẽ kết thúc Bảo hiểm đối với hàng hóa sẽ kết thúc khi hàng hóa được dỡ xuống cầu cảng

Thông thường phạm vi bảo hiểm của một hợp đồng bảo hiểm thường bao gồm các tổn thất sau:

 Tổn thất toàn bộ (thực tế và ước tính)

 Tổn hại:

o Tổn thất riêng (partial average)

o Hy sinh tổn thất chung (GA sacrifice)

 Chi phí giảm thiểu tổn thất:

o Phí tổn đề phòng, hạn chế tổn thất (sue and labour charges)

o Đóng góp tổn thất chung (GA contribution)

Trang 8

o Đóng góp cứu hộ (Salvage contribution)

 Chi phí khiếu nại hay còn gọi là các phụ phí…bao gồm chi phí giám định, lý toán tổn thất, chi phí tố tụng…liên quan đến khiếu nại

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa theo mẫu đơn bảo hiểm SG thường được đính kèm các Bộ điều khoản bảo hiểm hàng hóa (ICC) của Hiệp hội các nhà bảo hiểm Luân đôn (ILU) phát hành năm 1963 đối với mọi rủi ro (All risks), hay với tổn thất (WA) Phạm vi bảo hiểm sẽ bị hạn chế nếu sử dụng ICC FPA (Miễn tổn thất riêng)

1963

Thông thường, tùy thuộc vào từng hợp đồng bảo hiểm sẽ có một số các điều khoản bổ sung riêng đính kèm mẫu đơn SG để phù hợp với yêu cầu bảo hiểm Một

số điều khoản bổ sung chung đính kèm mẫu đơn SG:

 Điều khoản FC&S (free of capture and seizure) có nghĩa là Miễn trách nhiệm bảo hiểm đối với bắt giữ và chiếm đoạt để loại trừ các rủi ro chiến tranh quy định trong mẫu đơn bảo hiểm

 Điều khoản loại trừ đình công, bạo động và đấu tranh quần chúng FSR&CC (free of strikes, riots and civil commotions)

 Điều khoản bảo hiểm rủi ro chiến tranh và đình công thân tàu: bộ điều khoản này đã phục hồi các hiểm họa chiến tranh bị loại trừ bởi điều khoản FC&S

và bổ sung thêm một số hiểm họa khác không có trong mẫu đơn bảo hiểm để cung cấp một phạm vi bảo hiểm rộng hơn

2.1.Điều kiện hàng hóa miễn tổn thất riêng (FPA)

 Tổn thất toàn bộ (thực tế và ước tính)

 Tổn hại:

o Tổn thất riêng (partial average) (bị loại bỏ)

Trang 9

o Hy sinh tổn thất chung (GA sacrifice)

 Chi phí giảm thiểu tổn thất:

o Phí tổn đề phòng, hạn chế tổn thất (trừ khi liên quan đến tổn thất riêng)

o Đóng góp tổn thất chung

o Đóng góp cứu hộ

 Chi phí khiếu nại hay còn gọi là các phụ phí…(trừ khi liên quan đến tổn thất riêng)

Đoạn kết FPA chỉ áp dụng đối với 6 loại hàng hóa bao gồm: Ngũ cốc, cá, muối, hoa quả, lúa mỳ và hàng hạt 6 mặt hàng này được miễn bồi thường đối với tổn thất riêng trừ trường hợp tổn thất chung hoặc tàu bị mắc cạn

Đối với một số loại hàng hóa, không có bảo hiểm cho tổn thất riêng trừ phi tàu biển chở hàng bị mắc cạn trong chuyến hành trình Nếu tàu bị mắc cạn (trong một thời gian đủ lâu), đoan kết FPA được “mở” và tổn thất riêng sẽ được bồi thường bất

kể tổn thất riêng đó có gây bởi tai nạn mắc cạn hay không, miễn là tổn thất riêng

đó trực tiếp gây bởi một hiểm họa được bảo hiểm Khi buộc phải áp dụng các điều kiện bảo hiểm FPA cho các loại hàng hóa khác, một điều khoản đặc biệt theo

nguyên tắc trên sẽ được đính kèm vào mẫu đơn bảo hiểm SG và để phù hợp một bộ điều khoản của ILU đã được phát hành cho mục đích này Bộ điều khoản ICC (1963), ngoài việc mở rộng phạm vi bảo hiểm đối với đoạn kết “mắc cạn”, còn áp dụng quy định tương tự đối với các trường hợp tàu bị “chìm” hoặc bị “cháy” Với các điều khoản này, khi dùng các tàu nhỏ để chuyển tải hàng giữa tàu biển và bờ thì mỗi một tàu nhỏ đó đều được xem như một bảo hiểm riêng biệt đối với đoạn kết FPA Các điều khoản tương tự loại trừ khỏi đoan kết các tổn thất riêng xảy ra trong một số các trường hợp cụ thể Các tổn thất này được “hợp lý qui cho cháy, nổ, đâm

va hoặc va chạm với tàu và/hoặc phương tiện khác hay các vật thể khác không phải

Trang 10

nước (trừ băng) hoặc dỡ hàng tại cảng lánh nạn” Nguyên tắc về nguyên nhân chính yếu (proximate cause) không áp dụng trong các trường hợp này, người được bảo hiểm chỉ được yêu cầu chứng minh rằng tổn thất được hợp lý qui cho hiểm họa được bảo hiểm để khiếu nại đòi bồi thường theo đơn bảo hiểm

2.2.Điều kiện bảo hiểm Miễn tổn thất riêng (FPA) Thân tàu theo Đơn bảo hiểm SG

Bộ điều khoản “Miễn tổn thất riêng tuyệt đối” (Free of particular average absolutely – FPA abs.) được áp dụng đối với bảo hiểm tàu thủy Thực tế các điều kiện bảo hiểm này không chỉ loại trừ tổn thất riêng mà còn loại trừ thêm các khiếu nại trực tiếp về tổn hại do hành vi tổn thất chung gây cho tàu Bộ điều khoản này không được sử dụng rộng rãi và bị bãi bỏ khi thị trường bảo hiểm thân tàu theo chân thị trường bảo hiểm hàng hóa giới thiệu các bộ điều khoản bảo hiểm thân tàu mới để đính kèm theo mẫu đơn bảo hiểm MAR vào năm 1983

Một bộ điều khoản thân tàu khác của ILU theo các điều kiện hạn chế cũng được sử dụng với mẫu đơn bảo hiểm SG có tên là “Miễn tổn hại tuyệt đối” (Free of damage absolutely) Bộ điều khoản này theo khuôn mẫu của bộ điều khoản miễn tổn thất riêng tuyệt đối nhưng loại trừ mọi khiếu nại về các tổn hại của tàu được bảo hiểm Bộ điều khoản này cũng không phổ biến lắm và rất ít khi được các chủ tàu chấp nhận, do vậy bộ điều khoản này đã bị bãi bỏ khi mẫu đơn bảo hiểm MAR được giới thiệu vào năm 1983 và cũng không có bộ điều khoản bảo hiểm tương tự nào được phát hành trong các bộ điều khoản bảo hiểm thân tàu mới

2.3.Điều kiện bảo hiểm Với tổn thất (With average – WA) hàng hóa:

Điều kiện WA hàng hóa là một sự mở rộng (không phải là thay thế) của các điều kiện bảo hiểm đã được quy định sẵn trong mẫu đơn bảo hiểm SG Thực tế, điều kiện bảo hiểm WA gần như giống hệt điều kiện bảo hiểm FPA đối với hàng hóa Đoan kết FPA trong điều kiện ghi nhớ vẫn được áp dụng cho điều kiện Với tổn thất nhưng chỉ đối với một số loại hàng (ngũ cốc, cá, muối, hoa quả, lúa mỳ và

Ngày đăng: 27/04/2022, 19:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng kết 3 điều kiện FPA, WA, AR của ICC 1963 - ICC 1963 BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Bảng t ổng kết 3 điều kiện FPA, WA, AR của ICC 1963 (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w