1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn chỉnh

43 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY MẮC CA (Macadamia spp ) TRONG VƯỜN ƯƠM Họ và tên PHAN BÁ TÙ[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

-

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY MẮC CA

(Macadamia spp.) TRONG VƯỜN ƯƠM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

-

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY MẮC CA

(Macadamia spp.) TRONG VƯỜN ƯƠM

Cán bộ hướng dẫn: TS PHẠM THỊ MINH TÂM

PGS.TS NGUYỄN MINH CHÂU

Học viên thực hiện: PHAN BÁ TÙNG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Tp Hồ Chí Minh – tháng 03 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU i

MỤC LỤC ii

DANH SÁCH CÁC BẢNG iii

DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ 1

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Nguồn gốc và phân bố cây Mắc ca 5

1.2 Tình hình sản xuất Mắc ca trên thế giới và nước ta 6

1.3 Tỷ lệ ra rễ trong phương pháp nhân giống Mắc ca bằng giâm cành 8

1.4 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hoà sinh trưởng trong giâm cành 10

1.5 Tỷ lệ cắt lá cành giâm trong phương pháp nhân giống bằng cành 13

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây con trong vườn ươm 15

1.7 Liều lượng và loại phân đa lượng bón cho cây gốc ghép trong vườn ươm 17

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Nội dung nghiên cứu 20

2.2 Thờ i gian và đi ̣a điểm nghiên cứu 20

2.3 Điều kiê ̣n khí tượng huyê ̣n Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2015 20

2.4 Vật liê ̣u thí nghiệm 21

2.5 Phương pháp nghiên cứu 22

2.5.1 Thí nghiệm 1 và 2 22

2.5.1.1 Bố trí thí nghiệm 1 và 2 22

2.5.1.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20

2.5.2 Thí nghiệm 3 và 4 21

2.5.2.1 Bố trí thí nghiệm 3 và 4 21

2.5.2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

2.6 Kỹ thuật canh tác 25

Trang 4

ii

2.7 Xử lý số liệu 25

Chương 3 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN, DỰ KIẾN KẾT QUẢ VÀ TIẾN ĐỘ 26

3.1 Kế hoạch thực hiện 26

3.2 Dự kiến kết quả đạt được 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép

trong vườn ươm ở công thức 1 22

Bảng 2.2 Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép

trong vườn ươm ở công thức 2 22

Bảng 2.3 Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép

trong vườn ươm ở công thức 3 23

Bảng 2.4 Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép

trong vườn ươm ở công thức 4 23

Trang 6

1

DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.2.1 So sánh sản lượng hạt mắc ca và một số loại hạt trên thế giới 6

Biểu đồ 1.2.2 Các nước dẫn đầu sản lượng mắc ca, năm 2013 7

Biểu đồ 1.2.3 Sản lượng mắc ca trên thế giới nghiệm 1 và 2 18

Hình 2.5.1 Mô tả các nghiệm thức A1, A2 và A3 18

Hình 2.5.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 và 2 18

Hình 2.5.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 và 4 21

Trang 7

MỞ ĐẦU

Đă ̣t vấn đề

Kể từ năm 1885 cho đến nay, tuổi đời thuần hóa của cây Mắc ca (Macadamia

spp.) chỉ mới được 158 năm Từ đó, cây Mắc ca đã trở thành mô ̣t trong những cây trồng mang la ̣i hiê ̣u quả quả kinh tế trẻ nhất trong li ̣ch sử các loa ̣i cây trồng nghề vườn (Nguyễn Lân Hù ng, 2015) Kết quả khảo nghiê ̣m trong vòng khoảng mười năm gần đây đã chỉ ra rằng: khâu sản xuất cây giống – cho ̣n giống là mô ̣t bước quan trọng đóng vai trò then chốt quyết định năng suất và chất lượng của vườn cây (Lê Đình Khả, 2015) Cây Mắc ca chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp ghép những giống có năng suất cao, chất lượng nhân hảo hạn trên gốc ghép khỏe mạnh

Gốc ghép Mắc ca rất châ ̣m lớn, để có mô ̣t cây gốc ghép khoẻ ma ̣nh đủ tiêu chuẩn để ghép mất từ 12 – 18 tháng Cho nên, thời gian để sản xuất mô ̣t cây giống Mắc

ca từ hai năm rưỡi đến ba năm (Vock và cô ̣ng sự, 2004) Vì vâ ̣y, để rút ngắn thời gian nhân giống cây Mắc ca, viê ̣c nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng là điều rất cần thiết để cắt giảm chi phí sản xuất Đă ̣c biê ̣t là nhu cầu phân đa ̣m, lân, kali trong quá trình sinh trưởng của cây con là yếu tố quan tro ̣ng bâ ̣c nhất Ha ̣t giống Hindle (H2) và Beaumont (695) là hai giống được sử du ̣ng làm gốc ghép phổ biến trên toàn thế giới, do sinh trưởng đồng đều và dể ghép (Jodi Neal và công sự, 2012) Nhưng Mắc ca là loài cây thụ phấn chéo nên ha ̣t giống có nhiều biến di ̣, và có thể không mang những phẩm chất mong muốn từ cây me ̣ Để khắc phu ̣c nhược điểm này, chúng ta có thể ta ̣o ra những

gốc ghép Mắc ca vô tính bằng cách giâm cành Cành giâm có thể dùng làm gốc ghép để ghép những giống mong muốn hoă ̣c có thể dùng làm cây giống Đồng thời cây giâm

cành có thể trồng được từ 12 – 16 tháng tính từ thời điểm bắt đầu giâm, sớm hơn so với cây ghép (Bell, 1996) Bên ca ̣nh đó, gốc ghép vô tính tạo ra một vườn cây Mắc ca đồng đều hơn bởi vì chúng đồng nhất về kiểu gen (Vock và cô ̣ng sự, 2004) Và trong những năm gần đây, khuynh hướng nhân giống cây Mắc ca bằng cách giâm cành trở nên phổ

Trang 8

3

biến ở Úc, Nam Phi (Bell, 1996) Trong kỹ thuâ ̣t giâm cành nói chung và giâm cành

Mắc ca nói riêng, thì nồng đô ̣ của chất điều hoà sinh trưởng và tỷ lê ̣ lá còn la ̣i trên cành giâm là các yếu tố quan tro ̣ng quyết đi ̣nh sự thành công của phương pháp này

Một vài kết quả nghiên cứu cho thấy, xử lý hom giâm Mắc ca bằng IBA cho kết quả khả quan (Kadam, 1982; Kadam, 1986) Khi giâm cành lúc đầu vai trò của lá trên cành giâm rất quan trọng, nó có thể vẫn làm nhiệm vụ quang hợp để duy trì các họat động sống trên cành giâm Ngược lại lá cũng là bộ phận làm mất hơi nước của cành giâm thông qua quá trình bốc thoát hơi nước Vì vậy, nếu diện tích lá quá lớn quá trình thoát hơi nước sẽ nhanh và nhiều hơn sẽ làm cho cành giâm ở tình trạng thiếu nước và ảnh hưởng đến kết quả cành giâm Thông thường các giống Mắc ca như giống Hindle (H2) và Beaumont (695) có diện tích lá rất lớn đây là yếu tố làm cho tỷ lệ xuất vườn khi giâm cành rất thấp Cho nên nghiên cứu cắt bớt lá đối với những giống này khi giâm cành là cần thiết Qua việc theo dõi và khảo sát phương pháp sử du ̣ng phân bón cho cây Mắc ca trong vườn ươm để làm gốc ghép chưa hợp lý và viê ̣c nhân giống bằng giâm cành chưa được phổ biến rô ̣ng rãi Nhằm xác đi ̣nh tỷ lệ đa ̣m, lân, kali thích hợp cho sinh trưởng của cây gốc ghép và ảnh hưởng của nồng đô ̣ IBA, tỷ lệ cắt lá đến khả

năng giâm cành giống, đề tài “Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến nhân

giống vô tính cây Mắc ca (Macadamia spp.) trong vườn ươm” được tiến hành

Trang 9

Đồng thời, theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống của cành giâm dưới tác động của tỷ lệ lá cắt và các mức nồng độ IBA trên hai giống Mắc ca được chọn giâm cành: Beaumont (695) và Hinle (H2)

Giơ ́ i ha ̣n của đề tài

Đề tài thực hiê ̣n trong vườn ươm từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017

Trang 10

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc va ̀ phân bố cây Mắc ca

Cây Mắc ca (Macadamia spp.) được phát hiện từ cây hoang dại ở vùng rừng mưa

nhiệt đớ i ven biển vùng Đông Nam bang Queensland và miền Bắc bang New South Wales (NSW), trong phạm vi 25o–31o vĩ độ Nam của Australia (Nguyễn Công Tạn, 2003)

Theo Storey (1959), chi Macadamia thuộc họ Proteaceae gồ m có mười loài được

tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong đó, loài Macadamia hildebrandii có

nguồn gốc từ quần đảo Celebes thuộc Indonesia, ba loài M rousselii (Veill.) Sleumer,

M veillardii (Brongn and Gris.) Sleumer va ̀ M francii (Guill.) Sleumer có nguồn gốc

̀ New Caledonia, và sáu loài còn lại M whelani (F M Bail.) F M Bail., M ternifolia F Muell., M integrifolia Maiden and Betche, M tetraphylla LAS Johnson,

M prealta (F Muell.) F M Bail và M heyana (F M Bail.) Sleumer có nguyên sản ở phía Đông Australia Hai loài M integrifolia Maiden & Betche và M tetraphylla LAS

Johnson và giố ng lai của chúng có giá trị thương mại quan trọng (Nagao, 1992) Theo Nagao (2011), Mắc ca vỏ trơn (M integrifolia Maiden & Betche) được phát hiện trong

khu vực 25.5o–28.3oS, phía Đông bang Queensland Trong khi đó, loài Mắc ca vỏ nhám (M tetrphylla L Johnson) phân bố tự nhiên ở phía Nam - Đông Nam bang

Queensland đến phía Đông Bắc miền duyên hải bang NSW, trải dài 120km trong phạm

vi từ vĩ độ 27,6o-29oS Cây Mắc ca là cây thân gỗ lớn, xanh quanh năm, cao đến 19m,

tán rộng 13m (Hamilton và cộng sự, 1983)

Theo Hamilton và Fukunaga (1959), chu kỳ lấy quả của vườn cây Mắc ca từ 40

-60 năm Ngày nay, trên thế giới ngành sản xuất Mắc ca được tìm thấy phổ biến nhất trong những khu vực có vĩ độ từ 0o–32o (Cavaletto, 1983)

Trang 11

1.2 Tình hình sản xuất Mắc ca trên thế giới và nước ta

Macadamia được trồng phổ biến ở Hawai từ những năm 30 của thế kỷ trước, sau

đó được trồng rộng rãi ở Australia từ năm 1960 Năm 1994 diện tích trồng Macadamia

ở Australia đã vượt Hawai Năm 1997 ở Australia có 12.050 ha và năm 2013 đã có 17.000 ha được gây trồng (Attard, 2013), trong khi ở Hawai diện tích trồng Macadamia năm 2012 là 6.890 ha Hiện nay Macadamia đã được trồng ở một số nước khác như Trung Quốc, Nam Phi, Kenya, Zimbabwe, Israel, Guatemala, Brazil, Costa Rica… Năm 2008 sản lượng nhân hạt Macadamia trên thế giới là 26.123 tấn, trong đó Australia là 10.500 tấn, Nam Phi 5.600 tấn, Mỹ (Hawai) 3.700 tấn, còn lại là của các nước khác (Bekker và Lee, 2010) So với các loại cây lấy hạt khác, Mắc ca là loại có sản lượng không nhiều trên thế giới

Biểu đồ 1.2.1 So sánh sản lượng hạt mắc ca và một số loại hạt trên thế giới

(Nguồn: INC International Nut & Dried Fruit, Global Statistical Review 2008-2013)

Trang 12

Tham khảo các nước hàng đầu về sản xuất mắc ca: tại Úc - nơi cội nguồn và sản lượng đứng đầu đến năm 2014 có diện tích trồng khoảng trên 18 ngàn ha, sản lượng trên 40 ngàn tấn hạt/năm; Hawaii - nơi đầu tiên trồng thương mại có khoảng 7 ngàn ha năm 2012, sản lượng gần 20 ngàn tấn/năm; Nam Phi – nơi có sản lượng đứng thứ hai, diện tích trồng khoảng 18 ngàn ha năm 2013, sản lượng khoảng trên 35 ngàn tấn hạt/năm

(Nguồn: INC International Nut & Dried Fruit, Global Statistical Review 2008-2013)

Biểu đồ 1.2.2 Các nước dẫn đầu sản

lượng mắc ca, năm 2013

Biểu đồ 1.2.3 Sản lượng mắc ca

trên thế giớiBiểu đồ 1.2.4 Các nước

dẫn đầu sản lượng mắc ca, năm

2013

Biểu đồ 1.2.5 Các nước dẫn đầu sản

lượng mắc ca, năm 2013

Trang 13

Ở Việt Nam, Cây mắc ca bắt đầu được trồng tại Tây Bắc từ năm 2002 Sau 10 năm nghiên cứu, thử nghiệm trên hàng loạt các vùng địa lý và khí hậu của Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã xác định được hai vùng có thể trồng được mắc ca, đó là Tây Bắc

và Tây Nguyên Hiện nay, diện tích mắc ca trồng thử và dự án khuyến lâm theo chương trình của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ở Tây Bắc và Tây Nguyên

là khoảng 520 ha Ngoài ra, diện tích do các tổ chức, cá nhân tại các địa phương khác trồng khoảng 1.920 ha (trong đó ở Tây Bắc gần 280 ha, Tây Nguyên khoảng 1.640 ha) Như vậy, tổng diện tích trồng mắc ca cả nước đến nay khoảng 2.440 ha

Tại Lâm Đồng có khoảng 15 giống mắc ca được trồng Sau 9 năm trồng, một số giống có năng suất đạt từ 7 - 9 kg hạt/cây, cá biệt có những cây cho năng suất trên 10

kg hạt/cây Dự báo từ năm thứ 12 trở lên, năng suất có thể đạt đến 12 - 15 kg hạt/cây, tương đương với năng suất của mắc ca ở vùng nguyên sản ở Úc (Lê Đình Khả, 2015)

Như vậy có thể nói cây mắc ca có triển vọng phát triển trên Tây Nguyên và các

tỉnh Tây Bắc Tuy nhiên đây là loài cây mới nên cần phải được đánh giá kỹ trước khi phổ biến rộng rãi ra sản suất, đặc biệt là công tác chọn giống và quy hoạch vùng trồng cho cây mắc ca

1.3 Tỷ lệ ra rễ trong phương pháp nhân giống Mắc ca bằng giâm cành

Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ra rễ ở các giống Mắc ca rất khác nhau khi giâm cành (Cormack và Bate, 1977b; Harder, 2004; Harder và McConchie, 2006) Giâm cành được thực hành ở Nam Phi từ rất lâu, đặc biệt giống Beaumont (695) được sử dụng phổ biến nhất Cành giâm của giống Beaumont (695) có tỷ lệ ra rễ cao (Cormack

và Bate, 1977b; Cruz-Castillo và cô ̣ng sự, 2000; Harder, 2004; Harder và McConchie, 2006), bén rễ rất nhanh và phát triển mạnh (O’hare và cộng sự, 2004) Trong một thí nghiệm nhân giống cây Mắc ca bằng phương pháp giâm cành của 12 giống, kết quả cho thấy tỷ lệ ra rễ cao nhất của 4 giống lần lượt là giống Beaumont (695) đạt 80%, giống A268 đạt 76%, giống NG68 đạt 70% và giống 814 đạt 68% (Harder, 2004;

Trang 14

9

Harder và McConchie, 2006) Tỷ lệ ra rễ của hom giống 333 (Ikaika) tương tự như hom giống Beaumont (695) (Cormack và Bate, 1977b)

Nhiều tác giả cũng khẳng định, hom giống 246 (Keaauhou) và Elimbad rất dễ ra

rễ (Cormack và Bate, 1997b) Theo Harder và McConchie (2006), tỷ lệ ra rễ của giống

246 là 59% tương tự cho giống 741 (Mauka), giống A16 đạt 61%, giống 344 (Kau) đạt 54% và giống HAES 781 đạt 55%, giống 508 (Kakea), 660 (Keaau) (Cormack và Bate, 1977b) và HAES 842 có tỷ lệ ra rễ đạt 40%, giống HAES 816 đạt 34% và giống HAES

849 đạt 23% (Harder và McConchie, 2006) là những giống khó ra rễ nhất

Sự tương quan giữa đặc trưng ra rễ của các giống và lượng carbohydrate tích luỹ trong thân của cây mẹ là biến số (Cormack và Bate, 1977a) Tỷ lệ nảy mầm của hạt và

tỷ lệ ra rễ trung bình của cành giâm không có sự tương quan (Harder và McConchie, 2006) Nói chung, rất khó để tìm lời chứng minh những kết quả trong nghiên cứu này, những giống được chọn tạo từ Hawaii thì khó ra rễ hơn những giống được chọn từ Australia, điều này cũng được nhiều tác giả đề xuất (Bell, 1996)

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sinh trưởng trong vườn ươm của các giống Mắc ca khác nhau bởi vì đặc tính di truyền khác nhau (Cormack và Bate, 1977a, Harder, 2004; Harder và McConchie, 2006) Những giống giâm cành có tỷ lệ ra rễ cao có khuynh hướng sinh trưởng mạnh mẽ trong vườn ươm (Harder và McConchie, 2006) và những giống có tỷ lệ ra rễ thấp hơn thì sinh khối rễ có xu hướng thấp hơn và sinh trưởng rất không đồng đều (Cormack và Bate, 1977a)

Chỉ số ra rễ của hom giống Mắc ca cho kết quả cao nhất khi xử lý bằng IBA kết hợp với điều chỉnh nhiệt độ trong bể giâm cành (Ryan, 1958; Oppenheimer, 1961) và chỉ số ra rễ cũng phụ thuộc vào giống, tuổi cây, vụ mùa và lượng carbohydrate dự trữ (Cormack và Bate, 1976)

Trang 15

1.4 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hoà sinh trưởng trong giâm cành

Theo Vũ Công Hậu (2002), giâm cành là phương pháp nhân giống cây trồng bằng

cơ quan sinh dưỡng, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài Mục đích của phương pháp giâm cành là tạo ra những

cá thể cây lùn, nhanh cho quả và rút ngắn chu kỳ kinh doanh khai thác ngắn nhưng hiệu quả cao (Trần Thế Tục, 1999) Giâm cành được áp dụng khá phổ biến trên các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây khác Biện pháp này cũng được sử dụng nhiều trong nghề trồng cây hoa cảnh

Theo dẫn liệu của nhiều tác giả, những cây dễ ra rễ sau khi cắt xong có thể cắm thẳng vào giá thể, nhưng nếu được xử lý bằng hoá chất ở nồng độ thấp, cây sẽ ra rễ nhanh hơn, nhiều hơn và tỷ lệ xuất vườn cao hơn (Trần Thế Tục, 1999; Vũ Công Hậu, 2002) Trong sự hình thành rễ đặc biệt là rễ bất định từ các cơ quan sinh dưỡng thì hiệu quả của Auxin là rất đặc trưng, có thể xem Auxin là hoocmon hình thành rễ Vai trò của Auxin trong sự hình thành rễ được chứng minh rõ ràng trong nuôi cấy mô Nếu trong môi trường chỉ cho chất điều hòa sinh trưởng là Auxin thì mô nuôi cấy chỉ xuất hiện rễ mà thôi (Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 2006) Theo Hoàng Minh Tấn (2006), sử dụng auxin như IBA, α-NAA, 2,4 D… để tăng tỷ lệ ra rễ, rút ngắn thời gian ra rễ, tăng

hệ số nhân giống Có ba phương pháp chính xử lý auxin cho sự ra rễ bất định: xử lý nồng độ loãng, xử lý nồng độ đậm đặc và xử lý ở dạng bột

Xử lý ở nồng độ loãng: nồng độ xử lý khoảng vài chục ppm và ngâm phần gốc của cành giâm vào dung dịch trong thời gian từ 12-24 giờ rồi cắm vào giá thể Xử lý ở nồng độ đậm đặc: nồng độ xử lý khoảng vài ngàn ppm, nhúng rất nhanh vào dung dịch rồi cắm ngay vào giá thể Xử lý dạng bột: chấm cành giâm vào bột rồi cắm vào giá thể (Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 2006) Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng thuộc nhóm Auxin (IBA, IAA, α_NAA), xử lý cành giâm đã có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát

Trang 16

rễ so với ĐC, IBA có tác dụng rõ rang hơn ABT Khi xử lý bằng 2 chất kích thích ra rễ

ở nồng độ cao 1000 - 1500ppm đều có tác dụng ra rễ cao hơn nồng độ thấp (100 - 200ppm) và tỉ lệ ra rễ cao nhất đạt được với nồng độ 1.000ppm Sau 10 tuần, tỷ lệ ra rễ đạt trị số cao nhất đối ABT là 78% với Sao đen & 72% với Dầu nước Tương tự với IBA là 85% và 81% (Lê Quốc Huy và cộng sự, 2005)

Theo Nguyễn Minh Châu và cộng sự (2009), cành Chanh Volkamer khi giâm cành rất dễ ra rễ với dung dịch NAA 0,1% Trong thí nghiệm giâm cành cây Thông bắc

đỏ (Taxus chinensis Pilg Rehd.), sử dụng IBA nồng độ 750ppm cho tỷ lệ sống và tỷ lệ

ra rễ nhiều hơn so với α-NAA và IAA ở cùng nồng độ (Hoàng Thị Linh, 2014)

Theo Singh (2006), khi nghiên cứu về ảnh hưởng của hormon sinh trưởng (chất

kích thích ra rễ) tới nhân giống bằng cành hom của loài Thông đỏ (Himalaya - Taxus baccata L) cho thấy; trong số 4 chất kích thích ra rễ: Indole -3-Acetic Acid (IAA),

Indole Butyric Acid (IBA), Gibberelic Acid (GA3) và Naphthalene Acetic Acid (NAA) đem thí nghiệm ở 5 loại nồng độ khác nhau cho mỗi chất tương ứng là 1.000ppm, 2.500ppm, 5.000ppm, 10.000ppm và 12.500ppm, thì thấy rằng chất kích thích ra rễ IBA cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất nếu so với các chất còn lại, mặt khác kết quả thí nghiệm chỉ

ra rằng chất kích thích IBA có nồng độ 10.000 ppm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 60,01%

và 76,68%

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm nhân giống cây Hồi (Lllicium verum Hook) bằng

phương pháp giâm cành cho thấy các chất điều hòa sinh trưởng như IBA và IAA có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng ra rễ của cành giâm Đối với IAA nồng độ 0,1% cho kết

Trang 17

quả ra rễ cao nhất và tương tự cho IBA, xét về số lượng và chiều dài bình quân của rễ được thể hiện ở chỉ số ra rễ thì IAA có tác dụng kích thích mạnh hơn IBA (Nguyễn

Huy Sơn, 1999) Đối với, cành giâm Cóc đỏ (Lumnitzera litiorea (Jack) voigt) được xử

lý với IBA nồng độ 50mg/L trong thời gian 15 phút cho tỉ lệ ra rễ là 77,78%, trong khi

xử lý với NAA nồng độ 10mg/L trong thời gian 30 phút cho tỉ lệ ra rễ cao nhất là 82,22% (Quách Văn Toàn Em và Mai Thị Kim Yến, 2015) Trong ngiên cứu giâm

cành cây Cóc hành (Azadirachta Ninh Thuan), sử dụng IBA ở nồng độ 500ppm cho kết

quả tốt nhất (Phạm Thế Dũng, 2014)

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng IBA trên cây Thìa canh (Gymnema Sylvestre) cho

thấy nồng độ 250ppm cho kết quả tốt nhất với tỷ lệ ra rễ đạt 75,56%, chiều dài rễ đạt 5,72cm và số rễ trên hom là 6,11 rễ (Vũ Thị Phương và cộng sự, 2008) Kết quả thí

nghiệm giâm cành loài cây Bách vàng (Xanthocyparis Vietnamensis Farjon & Hiep)

bằng hai loại chất kích thích ra rễ NAA nồng độ 200ppm, IBA nồng độ 200ppm và IBA 50ppm là rất khả quan (La Quang Độ, 2008) Theo Nguyễn Đình Hải (2010), cho thấy xử lý cành giâm Mắc ca trong IBA nồng độ 1.500ppm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất 69,6% và chỉ số ra rễ tốt nhất 46,6%

Theo La Văn Thành và cộng sự (2013), nghiên cứu nhân giống cây Bương mốc

(Dendrocalamus velutinus) bằng chiết cành và giâm hom cành cho thấy chiết cành chét

là phương thức nhân giống thích hợp nhất, tuổi cây lấy cành chiết và nồng độ IBA có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng ra rễ của loài cây này Chiết cành chét lấy từ cây 1 năm tuổi bằng xử lý IBA 1.500 ppm sau 7 ngày có tỷ lệ ra rễ 96,67%, sau 14 ngày có tỷ lệ

ra rễ 100% và có chất lượng rễ tốt nhất Chiết cành chét lấy từ cây 2 - 3 năm tuổi bằng IBA 2.000 ppm sau 21 ngày có tỷ lệ ra 75,56%, sau 28 ngày có tỷ lệ ra rễ 80% Trong khi công thức giâm hom cành lấy từ cây 1 năm tuổi và cây 2 - 3 năm tuổi tốt nhất là xử

lý IBA 2.000 ppm sau 50 ngày có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 70% và 42,2% Theo Nguyễn

Khoa Lân (2015), nhân giống vô tính Trắc dây (Dalbergia annamensis A Chev.) xử lý

cành giâm trong α-NAA với nồng độ thích hợp nhất là ở 3.000ppm, với tỷ lệ ra rễ

Trang 18

13

76,7%, số lượng rễ trung bình 7 rễ/hom, chiều dài rễ 5,7 cm/rễ và tỷ lệ nảy chồi 76,7% Sau 6 tháng theo dõi, chiều cao trung bình đạt 96,1 cm (tăng 48,2% so với ĐC); đường kính đạt 8,7mm (tăng 52,6% so với ĐC) Theo Ninh Thị Phíp (2013), giâm cành cành

cây Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa (L.) Harms) trong α-NAA với nồng độ 2.000

– 3.000ppm trong thời gian từ 3 - 5 giây giúp cành giâm ra rễ nhiều, khả năng sinh trưởng của cành giâm cao hơn hẳn công thức ĐC

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), giâm hom Re Hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn), xử lý cành giâm trong IBA và NAA ở nồng độ 10.000ppm và

15.000ppm cho thấy chất lượng bộ rễ, số lượng rễ trên hom cao nhất và chiều dài rễ dài

nhất Khi giâm cành cây Mắm biển (Avicennia marina (Forsk.) Vierh.), Mắm đen (Avicennia officinalis L.), Bần trắng (Sonneratia alba j.e Smith) xử lý bằng α-NAA

với nồng độ 4.000ppm ra rễ tốt nhất sau 40 ngày giâm hom (Nguyễn Duy Toàn, 2004) Trong các phương pháp nhân giống vô tính cây giống, chất điều hòa sinh trưởng

có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cây giống và tỷ lệ xuất vườn

1.5 Tỷ lệ cắt lá cành giâm trong phương pháp nhân giống bằng cành

Khi giâm cành, số lá còn lại trên cành giâm đóng vai trò hết sức quan trong đến kết quả giâm cành, do ảnh hưởng của quá trình thoát hơi nước qua lá và quang hợp Một vài nghiên cứu về vai trò của lá trên cành giâm đã chỉ ra khả năng ra rễ đạt tối đa khi lá được xén bớt thì hoạt động và sản phẩm thuộc về quá trình quang hợp được tiêu hóa cho sự phát triển và kéo dài rễ và chính lúc này lá sẽ không còn chịu đựng áp lực mất nước (Mesén và cộng sự, 2001) Do đó tỷ lệ cắt lá thích hợp để cân bằng quá trình bốc thoát hơi nước được tối ưu (Aminah và cộng sự, 1997) Sự cân bằng giữa quá trình quang hợp và quá trình thoát hơi nước coi như quan trọng đặc biệt trong những loại cây trồng khó ra rễ (Leakey, 1985), với những loại cây trồng dễ ra rễ thì không mẫn cảm với tỷ lệ cắt lá (Newton và cộng sự, 1992) Cành giâm có phần lá được

để lại quá nhỏ thì hàm lượng carbonhyrates (đường và tinh bột) giảm một cách nhanh

Trang 19

chóng, trong khi phần lá chừa lại thích hợp gia tăng ngay lượng carbohyrates và vật chất khô, ít nhất cho đến khi rễ bất định phát triển hình thành thể chai để tiêu hóa (Leakey và Coutts, 1989) Phần lá chừa lại trên hom quá lớn thì gây mất nước và thiếu nước từ quá trình thoát hơi nước, khí khổng đóng lại, do đó hạn chế khả năng quang hợp và thường gây ra sự rụng lá (Leakey và West, 1992) Ví dụ, khi giâm cành gỗ gụ Châu Phi (Khaya ivoresis), để tỷ lệ ra rễ tối ưu trong điều kiện che màn gián đoạn khi

lá được cắt bớt 50 – 100 cm2 trên một cành giâm (Wiesman, 2002)

Theo Nguyễn Duy Toàn (2004), khi giâm cành Mắm biển (Avicennia marina (Forsk.) Vierh) chỉ để lại một đôi lá, còn đối với Mắm đen (Avicennia officinalis L.)

cần 4 – 6 lá trên hom cho kết quả tối ưu nhất Theo Cao Anh Long (1996), số lá để lại trên hom đối với những cây có lá thường xanh quanh năm vô cùng quan trọng trong kỹ thuật giâm cành Nó có tác dụng xúc tiến ra rễ sớm hơn Nói chung số lá cần thiết để lại từ 2 – 4 lá

Khi giâm cành những giống Chè có diện tích lá lớn như: giống 1A, Shan Chất Tiền và một số giống khác, việc giảm bớt một phần lá mẹ khi giâm cành là cần thiết và

có lẽ đây là biện pháp hữu hiệu để cho cành giâm sinh trưởng, phát triển tốt hơn và tỷ

lệ xuất vườn cao hơn Để giâm cành có hiệu quả và tạo cây giống có chất lượng tốt trong sản xuất với những giống chè có diện tích lá quá lớn nên cắt bớt một phần lá mẹ của cành giâm (Đặng Văn Thư, 2013) Theo Mai Trung Kiên (2015), khi giâm hom cây Mắc ca có chiều dài từ 15 – 20 cm, đường kính 5 – 7 mm, có ít nhất 2 - 3 tầng lá và chừa lại từ 1/3 đến 1/4 phiến lá, được cắt từ cành thứ cấp không quá non hay quá già (cành bánh tẻ), không có sâu bệnh Theo Nguyễn Minh Châu và cộng sự (2009), hom giâm của cành chanh Volkamer chừa lại một lá và cắt đi phân nửa cho kết quả giâm cành tốt nhất

Vì vậy, cắt bớt một phần lá khi giâm cành cũng được coi là một yếu tố quan trọng trong kỹ thuật giâm cành góp phần nâng cao tỷ lệ thành công của phương pháp này

Trang 20

Vườn ươm Mắc ca cần làm giàn che với độ chiếu sáng từ 50-70% để che mát (Nguyễn Công Tạn, 2003), nhà bóng râm giảm 60% lượng ánh sáng tự nhiên (O’hare, 2004), vườn ươm phải có 20-50% vải bạc che thay vì 70-90% (Hoàng Hòe và cộng sự, 2006)

1.6.2 Nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp cho cây con phát triển từ 25-35oC (Landis, 1992) Trong nhà giâm cành Mắc ca, nhiệt độ không nhất thiết phải thấp mặc dù ở những khu vực lạnh hơn có thể cho kết quả tốt hơn và cây sinh trưởng mạnh hơn Nhiệt độ của rễ nên duy trì từ 24-26oC là lý tưởng nhất Vào mùa hè phải mất từ 3-4 tháng cành giâm mới ra rễ

và có bộ rễ tốt Sau đó chuyển cây sang nhà bóng râm và nhiệt độ của bề mặt lá trong

Trang 21

khu vực này không quá 30oC Khi nhiệt độ quá cao cần thực hiện các biện pháp làm mát Tốt nhất nhà giâm cành được che bằng vải sẩm màu để ngăn ngừa sự dư thừa nhiệt độ cao xuất hiện bên trong (O’hare và cộng sự, 2004) Nhiệt độ trong bể gieo hạt Mắc ca có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian nảy mầm, sau khi gieo nếu nhanh hạt sẽ nảy mầm sau 2-3 tuần, thông thường từ 3-5 tuần, nhiệt độ dưới 24oC, thời gian nảy mầm sẽ kéo dài hơn (Nguyễn Công Tạn, 2003)

1.6.3 Chế độ nước tưới

Chế độ tưới nước cho cây con trong vườn ươm nên đều đặn và duy trì độ ẩm cho cây, nước dư thừa sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, nhất là bệnh thối rễ Không nên tưới cây vào chiều mát (Nguyễn Minh Châu và cộng sự, 2009) Theo Trương Hoài Minh (2013), cây con trong vườn ươm phải được tưới đủ nước theo nguyên tắc: cây nhỏ tưới lượng nước ít và nhiều lần, cây lớn tưới lượng nước lớn và ít lần Việc định lượng nước tưới và chu kỳ tưới nước còn tùy thuộc vào phương pháp tưới, tình hình thời tiết, độ ẩm của đất trong bầu, biểu hiện sinh trưởng của cây con Cây cà phê lượng nước và thời gian tưới có thể áp dụng như sau:

Giai đoạn sinh trưởng của

cây con

Chu kỳ tưới (ngày)

Lượng nước tưới (lít/m 2 /lần)

(Nguồn: Trương Hoài Minh, 2013)

Theo Lê Mậu Túy và cộng sự (2012), tưới đẫm nước sau khi trồng cây con vào bầu để lèn chặt đất quanh bộ rễ Mùa khô phải tưới thường xuyên, giữ ẩm đến đáy bầu Tưới mỗi ngày một lần từ khi trồng cho đến khi cây đạt một tầng lá ổn định, tưới hai ngày một lần khi cây đạt hai tầng lá trở lên, lượng nước tưới 10 lít/m2/lần

Ngày đăng: 27/04/2022, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aminah, H, Dick, JMcP and Grace, J (1997). Rooting of Shorea leprosula stem cuttings decreases with increasing leaf area. Forest Ecology and Management 91, 247-254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rooting of Shorea leprosula stem cuttings decreases with increasing leaf area
Tác giả: Aminah, H, Dick, JMcP and Grace, J
Năm: 1997
2. Attard Kristy (2013). Macadamia Nuts in Business in focus. http://www.businessinfocus.com.au/index.php/2013/10/macadamia-nuts Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macadamia Nuts in Business in focus
Tác giả: Attard Kristy
Năm: 2013
3. Bell, H.F.D, 1996. Challenges for horticulture in the tropics (R.A. Stephenson and C.W. Winks). The propagation of macadamia from cuttings. Procedure 3 rd edition.Australia Society Horticulture Science. Conference 18-22 August. Broad beach.Pages.223-222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Challenges for horticulture in the tropics
Tác giả: H.F.D Bell, R.A. Stephenson, C.W. Winks
Nhà XB: Australia Society Horticulture Science
Năm: 1996
4. Bekker T, Lee P (2010). World Macadamia Production Projections. http//www.subtrop.net/uploads/1273658715984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Macadamia Production Projections
Tác giả: Bekker T, Lee P
Năm: 2010
5. Cao Anh Long, 1996. Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến sự hình thành và sinh trưởng rễ bất định của cành chiết, cành giâm một số loại cây ăn quả. Luân văn Phó TiếN Sỹ. Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội, 150 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến sự hình thành và sinh trưởng rễ bất định của cành chiết, cành giâm một số loại cây ăn quả
Tác giả: Cao Anh Long
Nhà XB: Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội
Năm: 1996
6. Cavaletto, C. G., 1983. Handbook of Tropical Foods (Chan, H. T., Ed., Marcel Dekker). Macadamia nuts. New York, chapter 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Tropical Foods
Tác giả: C. G. Cavaletto
Nhà XB: Marcel Dekker
Năm: 1983
7. Cormack D. B., and G. C. Bate, 1976. Seasonal changes in carbon-hydrate levels and rooting efficiency of macadamia. Acta Horticulture, pages 57, 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seasonal changes in carbon-hydrate levels and rooting efficiency of macadamia
Tác giả: Cormack D. B., G. C. Bate
Nhà XB: Acta Horticulture
Năm: 1976
8. Cormack D. B., and G. C. Bate, 1977a. Growth studies on young macadamia trees developed from stem cutting. Rhodesian Journal of Agricultural Research (15):201- 213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth studies on young macadamia trees developed from stem cutting
Tác giả: Cormack D. B., G. C. Bate
Nhà XB: Rhodesian Journal of Agricultural Research
Năm: 1977
9. Cormack D. B., and G. C. Bate, 1977b. Rooting of Macadamia cultivars. Rhodesian Journal of Agricultural Research (15):187-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rooting of Macadamia cultivars
Tác giả: Cormack D. B., G. C. Bate
Nhà XB: Rhodesian Journal of Agricultural Research
Năm: 1977
10. Cruz-Castillo J. G., Nicolas-Cruz, and I. Rogel-Castellanos, 2000. Macadamia propagation by grafting and stem cuttings. Revista Chapingo, Serie Horticultura (6):97-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macadamia propagation by grafting and stem cuttings
11. Đặng Văn Thư, 2008. Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của các giống chè. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của các giống chè
Tác giả: Đặng Văn Thư
Nhà XB: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè
Năm: 2008
12. Hà Công Tuấn, 2015. Quyết định về việc phát triển cây Mắc ca. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số: 2479/BNN-TCLN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc phát triển cây Mắc ca
Tác giả: Hà Công Tuấn
Nhà XB: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2015
13. Hamilton, R. A., and Fukunaga, E. T., 1959. Growing macadamia nuts in Hawaii. Hawaii Agricultural Experiment Station, University of Hawaii Bulletin., page 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growing macadamia nuts in Hawaii
Tác giả: R. A. Hamilton, E. T. Fukunaga
Nhà XB: Hawaii Agricultural Experiment Station
Năm: 1959
14. Hamilton, R. A., Ito, P. J., and Chia, C. L., 1983. Macadamia: Hawaii's dessert nut. University of Hawaii Cooperative Extension Service. College of Tropical Agriculture and Human Resources, Number: 485 revised Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macadamia: Hawaii's dessert nut
Tác giả: R. A. Hamilton, P. J. Ito, C. L. Chia
Nhà XB: University of Hawaii Cooperative Extension Service
Năm: 1983
15. Hardner C.M, 2004. Rootstock evaluation for the Australian Macadamia industry. Horticulture Austria Ltd., Sydney Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rootstock evaluation for the Australian Macadamia industry
16. Hardner, C.M., and C.A., Mc Conchie, 2006. Macadamia Symposium (Piza I.T.) The effect of rootstock on propagation success and early field performance.Procedure 3 rd International, 28-30 August 2006, Sao Pedro, Brazil. Pages 76-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Piza I.T.) The effect of rootstock on propagation success and early field performance
17. Hoàng Hòe, Kim Wilson, Martin Novak, 2008. Nhân giống cây ghép Macadamia – Tài liệu hướng dẫn cho vườn ươm Mắc ca ở Việt Nam. Dự án 037/05VIE – CARD.Trung tâm Môi trường, Du lịch và Phát triển (CETD) và Hội Trang trại Lâm nghiệp Á nhiệt đới (SFFA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây ghép Macadamia – Tài liệu hướng dẫn cho vườn ươm Mắc ca ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hòe, Kim Wilson, Martin Novak
Nhà XB: Trung tâm Môi trường, Du lịch và Phát triển (CETD)
Năm: 2008
18. Hoàng Hòe, 2013. Macadamia trên thế giới và cơ hội cho Việt Nam. Hội Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macadamia trên thế giới và cơ hội cho Việt Nam
19. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Vũ Quang Sáng, 2006. Giáo trình Sinh lý thực vật. Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, trang 245, 265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh lý thực vật
Tác giả: Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Vũ Quang Sáng
Nhà XB: Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
20. Hoàng Thị Linh, 2014. Thử nghiệm giâm hom cây Thông đỏ bắc (Taxus chinesis) bằng các chất α- NAA, IAA, IBA tại trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp vùng núi phía Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm giâm hom cây Thông đỏ bắc (Taxus chinesis) bằng các chất α- NAA, IAA, IBA tại trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp vùng núi phía
Tác giả: Hoàng Thị Linh
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2. Tình hình sản xuất Mắc ca trên thế giới và nước ta - Hoàn chỉnh
1.2. Tình hình sản xuất Mắc ca trên thế giới và nước ta (Trang 11)
2013Hình 2.5.0.9. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 và 2 - Hoàn chỉnh
2013 Hình 2.5.0.9. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 và 2 (Trang 28)
Hình 2.5.8. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 và 2 - Hoàn chỉnh
Hình 2.5.8. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 và 2 (Trang 28)
Hình 2.5.10. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 và 4 - Hoàn chỉnh
Hình 2.5.10. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 và 4 (Trang 31)
Bảng 2.1. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công - Hoàn chỉnh
Bảng 2.1. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công (Trang 32)
Bảng 2.2. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công - Hoàn chỉnh
Bảng 2.2. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công (Trang 32)
Bảng 2.3. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công - Hoàn chỉnh
Bảng 2.3. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công (Trang 33)
Bảng 2.4. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công - Hoàn chỉnh
Bảng 2.4. Lượng phân bón và số lần bón cho cây gốc ghép trong vườn ươ mở công (Trang 33)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w