Việc Đảng ta đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy năng suất lao động, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thu hẹp trình độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỖ HẢI YẾN – 20H4010209 - 010400510614
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÁC-LÊNIN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Thực trạng và giải pháp phát
triển.
Giảng viên hướng dẫn: Lê Anh
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA NỀN KINH TẾ. 3
1.1 Khái niệm. 3
1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 3
1.1.2 Công nghiệp lần thứ tư……… 3
1.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa……… 4
1.2 Các nhân tố thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM ……… 7
2.1 Thực trạng chung và đánh giá kết quả đạt được………7
2.1.1 Một số thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong thời gian qua ……… 8
2.1.2 Một số hạn chế công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong thời gian qua ……… 9
2.2 Nguyên nhân ………11
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ……… 12
3.1 Định hướng chung. 12
3.2 Các giải pháp. 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Công nghiệp hóa bắt đầu được thực hiện nước ta từ những năm 1960 ở miền Bắc và được thực hiện trên quy mô cả nước sau ngày đất nước thống nhất năm 1975 Đến những năm đầu đổi mới, quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra những cơ sở ban đầu cho nền kinh tế Phát triển trong những năm tới Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ bảy đã đưa ra khái niệm, nhiệm
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiếp tục được bổ sung tại các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo Việc Đảng ta đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy năng suất lao động, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thu hẹp trình độ phát triển của nước ta và các nước trên thế giới Thế giới hiện đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Sự phát triển mạnh mẽ và thần kỳ của công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi mạnh mẽ không chỉ lực lượng sản xuất, cách thức trao đổi thông tin mà còn cả quan hệ sản xuất sản xuất cả về nhận thức đã làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất, làm thay đổi sâu sắc nhiều mặt của đời sống xã hội, từ đó nâng cao thu nhập và phát triển con người Nhưng mặt khác cũng đặt ra những thách thức lớn
về nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, trình độ sản xuất, môi trường Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới nên khó chịu tác động của cuộc cách mạng này là tất yếu Để có thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong đó có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thành công trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nước ta cần các giải pháp đồng bộ, nỗ lực từ nhiều chủ thể của quá trình này, sự lãnh đạo của Đảng quản lý của Chính phủ, sự tham gia của các doanh nghiệp, các giám đốc điều hành và mỗi người dân Việt Nam: xây dựng cơ sở chế độ chính sách cho mọi đối tượng trong xã hội bình đăng trong đóng góp và thụ hưởng thành quả mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lai- có quy hoạch dài hạn và khoa học để thu mọi nguồn lực vào đầu tư phát triển sản xuất ứng dụng những công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như doanh nghiệp Một tiền tố, đang và sẽ đóng một vai trò rất quan trọng để thực hiện
Trang 4thành công việc hóa, hiện đại hóa trong tiền cảnh của mạng công nghiệp lần thứ tư là người biết khơi dậy, phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống sức mạnh, lòng
tự hào dân tộc trong môi trường dân tộc Việt Nam, đoàn kết sức mạnh của cả dân tộc, nỗ lực phấn đấu hết sức để đưa đất nước bắt kịp trình độ phát triển trên thế giới trong những năm tới
Vì thế, em xin chọn đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Thực trạng và giải pháp phát triển.” để làm sáng tỏ hơn về vấn đề này
2 Mục tiêu:
Kế thừa có chọn lọc những kết quả của các nhà nghiên cứu, thông qua việc trình bày nội dung một cách có hệ thống, dựa trên cơ sở lý luận kinh tế học chính trị Mác – Lênin và thực tiễn của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa vào sách “Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin”, qua các tài liệu, sách báo, mạng internet
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
2 CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA NỀN KINH TẾ.
1.1 Khái niệm
1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phố biến sức mạnh lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Các giai đoạn của công nghiệp hóa Công nghiệp hóa là một quá trình dài với những giai đoạn phát triển khác nhau:
Giai đoạn không: Độc canh, nông nghiệp tự cấp tự túc, phụ thuộc vào viện trợ Giai đoạn 1: Chế tác giản đơn dưới sự chỉ dẫn của nước ngoài
Giai đoạn 2: Có công nghiệp hỗ trợ, nhưng vẫn dưới sự chỉ dẫn của nước ngoài Giai đoạn 3: Làm chủ được quản lý và công nghệ, có thể sản xuất được hàng hóa chất lượng cao
Giai đoạn 4: Có đầy đủ năng lực đổi mới và thiết kế sản phẩm với vai trò đi đầu toàn cầu
1.1.2 Cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được gọi là Công nghiệp 4.0 Công nghiệp
4.0 tập trung vào công nghệ kỹ thuật số từ những thập kỷ gần đây lên một cấp độ hoàn toàn mới với sự trợ giúp của kết nối thông qua Internet vạn vật, truy cập dữ liệu thời gian thực và giới thiệu các hệ thống vật lý không gian mạng Công nghiệp 4.0 cung cấp một cách tiếp cận liên kết và toàn diện hơn cho sản xuất Nó kết nối vật lý
3
Trang 6với kỹ thuật số và cho phép cộng tác và truy cập tốt hơn giữa các bộ phận, đối tác, nhà cung cấp, sản phẩm và con người Công nghiệp 4.0 trao quyền cho các chủ doanh nghiệp kiểm soát và hiểu rõ hơn mọi khía cạnh hoạt động của họ và cho phép
họ tận dụng dữ liệu tức thời để tăng năng suất, cải thiện quy trình và thúc đẩy tăng trưởng
1.1.3 Đặc điểm của nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.:
Sự thay đổi mô hình này trong Công nghiệp 4.0 dựa trên các nguyên lý sau:
Khả năng tương tác: khả năng giao tiếp của tất cả các yếu tố của nhà máy, hệ thống vật lý không gian mạng, robot, hệ thống thông tin doanh nghiệp, sản phẩm thông minh và con người, cũng như hệ thống phần ba
Phân cấp: năng lực thiết kế các quy trình phụ tự trị trong nhà máy với các yếu tố vật lý không gian mạng với khả năng đưa ra quyết định một cách tự chủ Phân tích thời gian thực: khả năng thu thập và phân tích lượng lớn dữ liệu (Dữ liệu lớn) cho phép giám sát, kiểm soát và tối ưu hóa các quy trình, tạo điều kiện cho mọi kết quả và quyết định xuất phát từ quy trình ngay lập tức và tại mọi thời điểm
Ảo hóa: khả năng tạo ra một bản sao ảo bằng cách thu thập dữ liệu và mô hình hóa các quy trình công nghiệp (vật lý), thu được các mô hình nhà máy ảo và
mô hình mô phỏng.Định hướng dịch vụ: khả năng chuyển giá trị mới được tạo ra cho khách hàng dưới dạng dịch vụ mới hoặc dịch vụ cải tiến với việc khai thác các
mô hình kinh doanh đột phá mới
Tính module và khả năng mở rộng: tính linh hoạt và độ co giãn để thích ứng với nhu cầu của ngành công nghiệp và kinh doanh mọi lúc, với khả năng mở rộng năng lực kỹ thuật của hệ thống theo yêu cầu kỹ thuật theo yêu cầu của sự phát triển của nhu cầu kinh doanh trong từng trường hợp
1.2 Các nhân tố thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 7Bảng 1.1: Cách mạng Công nghiệp 4.0: Cơ hội lớn - Thách thức không nhỏ
Nguồn: ảnh minh họa Nasati
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội phát triển cũng như là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam có thể tận dụng được những thành tựu khoa học – công nghệ mới, có thể “đi tắt, đón đầu”, đồng thời cũng sẽ làm tụt hậu ngày càng xa hơn nếu nếu không tận dụng cơ hội này
Về thời cơ
Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Đây có thể nói là cơ hội lớn để thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam và thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển Cụ thể:
Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể tạo ra lợi thế cho các nước chậm phát triển như Việt Nam so với các nước phát triển do không bị hạn chế bởi quy mô rất lớn, tạo điều kiện cho Việt Nam bứt phá nhanh, vượt lên các nước trong một sự khởi đầu muộn Theo đuổi và kế thừa những thành tựu của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm thời gian nghiên cứu và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của mình Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, đi tắt, đón đầu, thâm nhập lĩnh vực công nghệ mới, sử dụng thành tựu khoa học và
Trang 8công nghệ để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội nhập quốc gia
và quốc tế Các chủ thể trong nền kinh tế có điều kiện tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ, thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội Điều này đã tạo ra khả năng nâng cao mức thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Với ưu thế dân số trẻ, tỷ
lệ sử dụng điện thoại thông minh và Internet cao, mức độ tiếp cận ứng dụng khoa học công nghệ tốt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội lớn trong việc xây dựng và phát triển dữ lớn
Về thách thức
Một là, thách thức trong lĩnh vực giải quyết việc làm: chuyển dịch cơ cấu lao động trong gần 30 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn nhiều nếu so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trình độ lạc hậu của người lao động và của cả nền kinh
tế chính là trở ngại lớn nhất để chúng ta bắt kịp với các thành tựu khoa học, công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 Trong tương lai, nhiều lao động trong các ngành nghề của Việt Nam có thể thất nghiệp, ví dụ như: lao động ngành dệt may, giày dép
Hai là, chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam còn rất nhiều hạn chế Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp Theo số liệu thống kê điều tra lao động việc làm quý 2 năm 2017 thì có tới 78,4% lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; 9.48% lao động có trình độ đại học trở lên; 3.17% lao động có trình
độ cao đẳng; 5.42% lao động có trình độ trung cấp; 3.53% lao động có trình độ sơ cấp Thêm vào đó, những người lao động có trình độ đại học trở lên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng trong số lao động có trình độ cao
Ba là, năng suất lao động còn thấp so với khu vực Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2017 ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương 4.166 USD/lao động) Đảng báo động là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục
Trang 9gia tăng Điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức năng suất lao động của các nước
Bốn là, trình độ khoa học công nghệ của nước ta đang ở vị trí thấp so với mức trung bình của thế giới Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ năm
2015, thì hiện nay cả nước có gần 600 nghìn doanh nghiệp, với hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa Phần lớn đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ Trong đó, có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% thiết bị là đồ tân trang , chỉ có 20% là nhóm ngành sử dụng công nghệ cao
Năm là, quy mô doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé, số doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, phần lớn doanh nghiệp chưa đạt được quy mô tối ưu (50 - 99 lao động) để có được mức năng suất lao động cao nhất Số lượng doanh nghiệp lớn còn ít (chỉ chiếm 2,1%), doanh
nghiệp chưa xâm nhập được vào các thị trường, trung tâm công nghệ của thế giới,
do đó chưa thực hiện được chức năng cầu nối về công nghệ tri thức của thế giới vào thị trưởng trong nước
Sáu là, các nước công nghiệp mới nổi và nhiều nước đang phát triển đều cạnh tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để có đầu tư, chuyển giao công nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc Cách mạng công nghiệp thử tự đem lại để giành lại thể phát triển Đây cũng chính là áp lực lớn cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bảy là, quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức lớn nhất đối với nước ta Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ gặp nhiều khó khăn nếu công cuộc cải cách cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng được Nhà nước
đề ra trong thời gian qua thực hiện không thành công Bên cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra áp lực lớn nểu Nhà nước không đủ trình độ
về công nghệ và kỹ năng quản lý để ứng phó
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM.
Trang 102.1 Thực trạng chung và đánh giá kết quả đạt được
2.1.1 Một số thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian qua
2.1.1.1 Về khoa học công nghệ
Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong đó, có khoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KHCN thuộc khu vực nhà nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KHCN của đất nước
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý nhà nước về KHCN được tổ chức từ trung ương đến địa phương đã đẩy mạnh phát triển KHCN, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển
KT - XH của ngành và địa phương
Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án KHCN
đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển KT - XH Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KHCN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai
Vốn huy động cho KHCN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KHCN Đã cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian
Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KHCN từng bước được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các
bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích cực của các tổ chức KHCN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác phổ