HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ Đề tài SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA ASEAN TỪ CÔNG CỤ ĐỊNH VỊ ĐỊA VĂN HOÁ Giảng viên TS Trần Thị Hồng Thúy TS Đào Ngọc Tuấn Sinh viên thực hiện Nguyễn Nguyệt Hà Mã số sinh viên TTQT48C3 1332 Hà Nội, 122021 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 I Định nghĩa, tổng quan về văn hóa và công cụ định vị Địa văn hóa 2 1 Văn hóa 2 2 Công cụ định vị Địa văn hóa 3 II Văn hóa Đông Nam Á và Việt Nam từ công cụ địn.
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAOKHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Định nghĩa, tổng quan về văn hóa và công cụ định vị Địa- văn hóa 2
1 Văn hóa 2
2 Công cụ định vị Địa- văn hóa 3
II Văn hóa Đông Nam Á và Việt Nam từ công cụ định vị Địa- văn hóa 4
1 Những nét tương đồng 5
a Nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước 5
b Phong tục tập quán và văn hoá lễ hội 7
c Tín ngưỡng bản địa 9
d Nghệ thuật biểu diễn 11
2 Những nét riêng, những nét đặc trưng khác biệt của văn hóa Việt Nam so với các nước trong khu vực Đông Nam Á 12
a Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao 12
b Tính dung chấp 13
c Công trình kiến trúc 14
d Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước 15
III Các cơ hội hợp tác văn hóa Việt Nam - ASEAN 16
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Đông Nam Á là khu vực có nền văn hóa lâu đời, được tạo nên từ rất nhiều mối quan hệ và bản sắc riêng của mỗi dân tộc Văn hoá Đông Nam Á là một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất Trong kho tàng văn hoá đồ sộ ấy dẫu có rất nhiều yếu tố chung làm nên cái gọi là “khung” Đông Nam Á song cũng có không
ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Nằm trong tổng thể văn hoá Đông Nam Á, Việt Nam là một trong số ít
những quốc gia hội tụ được nhiều giá trị của nền văn hoá - văn minh phương Đông, mang nhiều đặc trưng điển hình của một Đông Nam Á thu nhỏ Sức sống văn hoá Việt Nam cũng được thể hiện rất đa dạng trên mọi khía cạnh của cuộc sống, xét cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần Ở mỗi khía cạnh lại có những thành tựu văn hoá đặc sắc riêng, được tiếp thu, phát huy từ thế hệ này sang thế
hệ khác và được lưu truyền đến tận ngày nay Với tư cách là một thành viên trong không gian văn hóa Đông Nam Á, Việt Nam đã tiếp nhận, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các quốc gia còn lại trong khu vực Trong số những giá trị văn hóa mà Việt Nam tiếp nhận, trong đó có nhiều sự tương đồng, tương cận với những giá trị văn hóa của Đông Nam Á Những sự tương đồng và tương cận ấy không phải ngẫu nhiên, mà điều đó cho thấy tiến trình phát triển của các quốc gia đấy là cùng dựa trên một nền tảng, đó là yếu tố tự nhiên chi phối
Để có được một cái nhìn tổng quát nhất về văn hoá Việt Nam, trong bài tiểu luận này em sẽ tiến hành nghiên cứu: “Sự tương đồng và khác biệt về văn hoá giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN từ công cụ định vị Địa-văn hoá”, qua đó
có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa của dân tộc mình, từ đấy có được những nhận thức đúng đắn về công cuộc gìn giữ và bảo vệ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam
Trang 4I Định nghĩa, tổng quan về văn hóa và công cụ định vị Địa- văn hóa:
1 Văn hóa:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và cách đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà văn hóa học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê rằng có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng trên thế giới1, và ngày nay số lượng các định nghĩa đó đã lên đến trên 300 khái niệm
Theo các định nghĩa tâm lý học, trong đó nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Chẳng hạn như định nghĩa của giáo sư W Summer và A Keller, học trò của ông là: “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh… Những sự thích nghi này được đảm bảo bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”2
Tiếp đó vào năm 2002, UNESCO cũng đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũngnhư đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệthống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc của mình”
Văn hóa là hiện tượng bao trùm lên mọi mặt của đời sống con người, do đó bất kỳ định nghĩa nào đưa ra cũng khó có khả năng bao quát hết được nội dung của nó Tuy nhiên với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa luôn mang trong nó
Trang 5- Văn hóa là cái phân biệt con người với động vật, văn hóa là đặc trưng riêng của xã hội loài người.
- Văn hóa không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải qua học tập, giao tiếp
Như vậy ta có thể thấy rằng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo dựng cùng với bề dài lịch sử dân tộc
2 Công cụ định vị Địa- văn hóa:
Trong cuốn “Đại cương về văn hóa Việt Nam”, ta có thể thấy công cụ định vị văn hóa được chia ra làm 5 phương pháp chuyên ngành bao gồm: Cách tiếp cận Địa- văn hóa, nhân học- văn hóa, tôn giáo, giao lưu- tiếp biến văn hóa và cuối cùng là tọa độ văn hóa Trong đó, Địa- văn hóa vừa là một phương pháp dùng đểnghiên cứu văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặc điểm văn hóa dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Phương pháp này (cùng với những phương pháp khác) đã góp phần lý giải tính đồng nhất(tương đồng) văn hóa của các cộng đồng người cùng sống trên một vùng lãnh thổ - nơi có điều kiện tự nhiên khá giống nhau Và cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu Địa- văn hóa là các luận điểm cho rằng:
- Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên
- Để tồn tại và phát triển thì con người phải tiến hành trao đổi chất với môi trường tự nhiên
3 Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn, Đại cương về văn hóa Việt nam (2004), Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Trang 12-13
Trang 6- Quá trình trao đổi chất nói trên diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tự nhiên và cải tạo tự nhiên.
- Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hoá Cụ thể là: thích nghi thì
sẽ in dấu trong văn hoá nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hoá phi vật thể); còn biến đổi thì sẽ được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (giới tự nhiên thứ hai, theo cách nói của Marx, hay trong văn hoá vật thể)
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng môi trường tự nhiên chi phối quá trình hình thành và phát triển của văn hóa
II Văn hóa Đông Nam Á và Việt Nam từ công cụ định vị Địa- văn hóa
Đông Nam Á là khu vực thuộc châu Á, bao gồm một quần thể các đảo, bánđảo, các vịnh và các biển chạy suốt từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương Khuvực này bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Đông Timor, Indonesia, Philippines,Malaysia, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Singapore và Việt Nam, đượcchia làm 2 nhóm nước: nhóm các nước hải đảo và nhóm các nước nằm trên bánđảo Trung Ấn Về mặt địa lý, Đông Nam Á là khu vực nhiệt đới, gió mùa, khíhậu nóng ẩm, nắng lắm, mưa nhiều Xét ở góc độ cảnh quan địa lý, Đông Nam Á
có đủ rừng núi, đồng bằng, sông, biển nên chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa,tạo nên hai mùa khá rõ rệt: mùa khô lạnh và mùa mưa tương đối nóng và ẩm Vìthế, khu vực này còn được gọi là “Châu Á gió mùa” Gió mùa kèm theo nhữngcơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống vàsản xuất hằng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc
và chim muông
Trang 7Việt Nam “nằm giữa Đông Nam Á” (Yves Lacoste), là “ngã tư của các cưdân và các nền văn minh” (Olov Janse)4 Nằm trong vị trí thuận lợi, Việt Nammay mắn được tiếp cận với nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ - hai nền vănminh lớn của Đông Nam Á Nhờ vào đó, ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Nam
có nhiều nét văn hóa tương đồng cũng như khác biệt với các quốc gia ASEANnhư:
1 Những nét tương đồng:
a Nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước
Văn minh lúa nước là một nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa Nền văn minh này đã đạtđến trình độ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công
cụ và vật nuôi chuyên dụng Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình,… Sở dĩ Đông Nam Á trở thành một trong những trung tâm nông nghiệp sớm nhất thế giới với nền văn minh lúa nước đặc trưng là vì điều kiện tự nhiên và điều kiện khí hậu ở đây có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp Mà cụ thể là:
- Điều kiện địa lí tự nhiên :
Xét về mặt địa hình thì Đông Nam Á là nơi giao nhau của nhiều mảng địa chất Các quốc gia của khu vực được chia làm hai nhóm là Đông Nam Á lục địa bao gồm Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam, hay còn gọi là bán đảo Trung Ấn Các nước còn lại tạo nên Đông Nam Á hải đảo Hầu hết các quốcgia thuộc Đông Nam Á đều có hải giới ngoại trừ Lào Đông Nam Á có một hệ thống sông ngòi dày đặc, nhìn chung các sông đều nhiều nước, dòng chảy có lưu lượng lớn hàm lượng phù sa cao, chính những con sông này đã góp phần tạo nên
4 Đinh Gia Khánh, Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (1993), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trang 33-34
Trang 8các đồng bằng châu thổ rộng lớn và màu mỡ như đồng bằng Sông Hồng (Việt Nam), đồng bằng sông Meekong (Campuchia, Việt Nam), đồng bằng sông
Mênam (Thái Lan) và đồng bằng sông Irawadi, Saluen (Myanmar)
- Điều kiện khí hậu :
Đặc điểm nổi bậc nhất của khí hậu Đông Nam Á là tính chất gió mùa nóng
ẩm Đây là khu vực được mệnh danh là “Châu Á gió mùa” vì mỗi năm thường cóhai mùa rõ rệt mùa khô mát và mùa mưa nóng ẩm Có thể nói đây là khu vực có
độ ẩm cao nhất thế giới Khí hậu biển cũng là một yếu tố quan trọng với các quốc gia Đông Nam Á Đường xích đạo chạy qua ba nơi là khu vực sông
Amazon, Congo và Đông Nam Á trong đó hai khu vực trên nằm trên lục địa, chỉ
có Đông Nam Á là nằm trên biển Đường bờ biển dài cũng chính là nguyên nhângây mưa nhiều và khiến cho lượng hơi nước trên lục địa luôn luôn dư thừa Biển
và gió mùa, khí hậu nóng và ẩm đã làm cho Đông Nam Á đáng lẽ trở thành một vùng khô cằn như một số khu vực địa lí khác có cùng vĩ độ nhưng lại trở nên xanh tốt và trù phú, một thiên đường của thế giới thực vật Cũng nhờ điều kiện khí hậu thuận lợi như vậy mà Đông Nam Á được mệnh danh là quê hương của cây lúa nước – cây lương thực quan trọng hàng đầu của nhân loại Không phải ngẫu nhiên mà hai trong ba quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới lại nằm ở khu vực này Tóm lại điều kiện nóng ẩm mưa nhiều và gió mùa là hằng số tự nhiên của các quốc gia thuộc ASEAN và chính nó đã tạo nên đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á- nền văn minh thực vật hay nền văn minh lúa nước
Trang 9b Phong tục tập quán và văn hoá lễ hội
Văn minh lúa nước là nét đặc trưng của cư dân Đông Nam Á, nền văn minh này đã tồn tại trong thời kì lịch sử lâu dài từ thời kì sơ sử đến thời kì hiện đại, vì vậy nó đã để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng, phong tục của cư dân nơi đây Đây cũng chính là tiền đề đầu tiên để nền văn hóa độc đáo
và giàu bản sắc của các dân tộc Đông Nam Á được hình thành, phát triển và tồn tại đến tận ngày nay Ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước đã ghi lại đậm nét trong các yếu tố phong tục tập quán và văn hóa lễ hội của các nước thuộc khu vực ASEAN, mà cụ thể là:
*Văn hóa ẩm thực:
Trong số những đặc điểm văn hóa Đông Nam Á khác biệt với nhiều vùng khác trên thế giới chính là sự khác biệt về văn hóa ẩm thực Người Đông Nam Á không có truyền thống dùng nhiều thịt và bơ sữa Thức ăn chủ yếu của họ là thựcvật mà cụ thể là lúa gạo, rau cỏ và hoa quả Bên cạnh đó để đảm bảo dinh dưỡng cho cơ thể, người dân cũng sử dụng cá và các sản phẩm động vật gắn liền với công việc đồng áng như tôm, cua, ốc Đây hoàn toàn là những sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước Thịt lợn , thịt bò và gia cầm các loại cũng chỉ thường được sử dụng vào các dịp lễ tết, hội hè… Từ lúa gạo người Đông Nam Á nấu ra cơm và cơm trở thành thức ăn chính chủ đạo và quan trọng nhất, ngoài ra người dân còn dùng lúa gạo để tạo ra nhiều loại bún, bánh trái không thể thiếu trong những ngày lễ Tết ví dụ như bánh chưng, bánh dày của người Việt
*Văn hóa lễ hội:
Song hành với sự đa dạng của phong tục tập quán, ta không thể bỏ qua
những văn hoá lễ hội Đông Nam Á Không ai có thể đưa ra số liệu thống kê
Trang 10chính xác số lượng các lễ hội ở khu vực này bởi lẽ trong một năm nơi đây tổ chức vô số các lễ hội với quy mô lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên tất cả các lễ hội đều phần lớn bắt nguồn từ nguồn gốc chung mang tính khu vực: đó là nền sản xuất nông nghiệp lúa nước Lễ hội ở Đông Nam Á thường chia làm hai phần là phần lễ và phần hội.
Phần lễ thường mang những nội dung chính như cầu xin cho mùa màng bội thu, làm ăn phát đạt cuộc sống sung túc và tạ ơn thần linh, ông bà tổ tiên đã phù
hộ chở che cho cuộc sống của mình Phần hội thường là những trò vui chơi giải trí với mục đích thư giãn, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện sự khéo léo, tính tập thể
và thể hiện mục đích phồn thực …Trong số các lễ hội nông nghiệp thì các lễ hội
về cây lúa và vòng đời phát triển của cây lúa là phổ biến và quan trọng hơn cả
Có thể kể ra một số lễ hội như lễ xuống đồng hay lễ tịch điền của người Việt, lễ dựng chòi cày của người Chăm, lễ mở đường cày đầu tiên của người Thái Lan, lễban phát giống thiêng ở Campuchia…
Các quốc gia Đông Nam Á đều có ít nhất một lễ hội có quy mô lớn nhất , đó
là Tết Nguyên Đán Ngoài Tết Nguyên Đán còn có thể có một số tết khác nhưng đây là tết quan trọng nhất Tết Nguyên Đán của các dân tộc Đông Nam Á thường
có ý nghĩa tổng kết năm cũ, tổng kết một chu kì lao động và đón mừng năm mới (Âm lịch, Dương lịch, Hồi lịch ) với một chu trình lao động mới Dù hình thức
và nghi thức đón tết của các dân tộc có những nét khác biệt nhưng “Tết bao giờ cũng là dịp để mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, làm lễ tạ ơn trời đất tổ tiên, thần linh đã ban cho một năm mưa thuận gió hòa, gột bỏ điều xấu trong năm cũ, cầu mong và đón nhận vạn sự tốt lành của năm mới”
Trang 11c Tín ngưỡng bản địa:
Do cùng sinh sống trong một khu vực địa lí tự nhiên với các điều kiện khí hậu gần như là hoàn toàn giống nhau, cùng có chung cơ tầng văn hóa nông nghiệp lúa nước nên cư dân Đông Nam Á đều có chung một số một số tín
ngưỡng bản địa, chẳng hạn như tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực (rites de fertilité), tín ngưỡng sùng bái linh hồn người chết… Cái chung nhất của các tín ngưỡng này là đều xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh, như là mọi vật từ con người đến động thực vật đều có linh hồn Linh hồn không chết đi
mà tồn tại mãi mãi và có thể giúp đỡ cho người sống vì vậy thờ cúng linh hồn là bổn phận của con người
*Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
Cuộc sống hàng ngày và trong sản xuất nông nghiệp của cư dân Đông Nam
Á đều gắn liền với tự nhiên và phụ thuộc hoàn toàn vào các hiện tượng tự nhiên,
vì vậy tôn sùng tự nhiên là điều tất yếu của cư dân nơi đây Đối với cư dân nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, cây lúa là tất cả cuộc sống của họ Thần Lúa được xem là vị thần thiêng liêng nhất Người dân các quốc gia Đông Nam Á rất tin vào hồn lúa Họ cho rằng nếu hồn lúa bay mất thì sẽ bị mất mùa, họ gọi lúa bằng những tên gọi triều mến như “chú bé chín tháng”, “công chúa mặt trời”,…
và coi cây lúa là loài cây cao quý hơn các cây trồng khác Người ta thờ thần lúa, gọi vía lúa, rước lúa, rước mạ
Tín ngưỡng sùng bái cây lúa đã ăn sâu vào tâm thức người dân Đông Nam Á
và được thể hiện bằng những ngụ ngôn, những bài vè, bài hát trong tế lễ để cầu cho cây lúa tốt tươi được mùa Ví dụ như ở làng Quắc Thước, huyện Yên Lập,