1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HLU khóa luận tốt nghiệp

74 415 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Sự Phù Hợp Của Pháp Luật Cạnh Tranh Việt Nam Với Những Cam Kết Trong Hiệp Định EVFTA
Tác giả Trần Hải Long
Người hướng dẫn TS. Phạm Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 921,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN HẢI LONG 432357 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Hà Nội – 2022 i BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN HẢI LONG 432357 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA Chuyên ngành Luật kinh tế KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS Phạm Phương Thảo Hà Nội – 2022 ii LỜ.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN HẢI LONG

432357

ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG

HIỆP ĐỊNH EVFTA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội – 2022

Trang 2

i

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN HẢI LONG

432357

ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG

HIỆP ĐỊNH EVFTA

Chuyên ngành: Luật kinh tế

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Phương Thảo

Hà Nội – 2022

Trang 3

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp và trung thực, bảo đảm độ tin cậy./

Xác nhận của giảng viên hướng

dẫn

Tác giả khóa luận tốt nghiệp

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

iii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Luật Hà Nội và các thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Phạm Phương Thảo – người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Trang 5

Hiệp định Thương mại tự do Liên minh Châu

Âu – Việt Nam

: VTTLTT EVFTA

Trang 6

v

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC KÝ HIỆU HOẶC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu nghiên cứu của khóa luận 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: 4

6 Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận 4

7 Kết cấu nội dung của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA 6

1.1 Khái quát về cạnh tranh 6

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh 6

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 6

1.1.1.2 Các hình thức cạnh tranh 7

1.1.1.3 Vai trò của cạnh tranh 9

1.1.2 Khái quát về chính sách cạnh tranh 9

1.2 Khái quát về Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam 11

Trang 7

vi

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Pháp luật Cạnh tranh 11

1.2.2 Lịch sử hình thành phát triển của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam 12

1.2.3 Nội dung cơ bản của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam hiện hành 13

1.2.4 Nguồn của Pháp luật Cạnh tranh 15

1.3 Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam 17

1.3.1 Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam 17

1.3.2 Nội dung những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA 22

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA 28

2.1 Đánh giá quy định Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam về hành vi phản cạnh tranh so với những cam kết trong Hiệp định EVFTA 29

2.1.1 Quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 29

2.1.2 Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của một hay nhiều doanh nghiệp 32

2.1.3 Quy định về tập trung quyền lực giữa các doanh nghiệp gây cản trở đáng kể đến cạnh tranh hiệu quả 36

2.2 Đánh giá các quy định về tổ chức thực hiện của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam so với những cam kết trong Hiệp định EVFTA 38

2.2.1 Quy định về tính tự chủ trong xây dựng và thực thi luật cạnh tranh 38

2.2.2 Quy định về cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh 39

2.2.3 Quy định về đối tượng áp dụng 42

2.2.4 Quy định về các nguyên tắc trong tố tụng cạnh tranh 43

2.2.5 Quy định về miễn trừ trong Luật Cạnh tranh 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 45

Trang 8

vii

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM THEO NHỮNG CAM KẾT GIA NHẬP

HIỆP ĐỊNH EVFTA 47

3.1 Định hướng hoàn thiện của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam theo những cam kết trong Hiệp định EVFTA 47

3.2 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam để tương thích với những cam kết trong Hiệp định EVFTA 50

3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam và phù hợp với những cam kết quốc tế của Hiệp định EVFTA 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 58

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói, sự tăng trưởng của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới những CSCT của Việt Nam Hiện nay, các rào cản biên giới - thuế quan đang có xu hướng giảm đi và khả năng tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế cũng ngày càng được cải thiện đã tạo điều kiện cho các DN tham gia nhiều hơn vào việc tiến hành các hoạt động của họ xuyên biên giới

Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, các hành vi phản cạnh tranh qua biên giới có thể làm giảm hoặc ngăn cản đáng kể những lợi ích tiềm năng có thể đạt được khi các DN gia nhập một thị trường mới Vì vậy, trong trường hợp PLCT Việt Nam được xây dựng thích hợp, hiệu quả và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của một quốc gia sẽ bổ sung cho các chính sách khác của chính phủ, nhằm đạt được tăng trưởng và phát triển bền vững, thông qua việc loại bỏ và ngăn chặn các hành vi phản cạnh tranh

Ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới, PLCT cũng đóng vai trò như một công cụ quan trọng để khuyến khích, gia tăng sự hiệu quả của sản xuất công nghiệp, tiến

bộ khoa học – kỹ thuật và phân bổ, tối ưu nguồn lực Kể từ vài thập kỉ gần đây, các hành

vi phản cạnh tranh có xu hướng chủ yếu được coi là một hiện tượng trong nước, tuy nhiên hầu hết các khía cạnh của việc thực thi PLCT hiện nay đều mang tầm quan trọng quốc tế Theo đó, sự gia tăng mạnh mẽ trong phạm vi và tầm quan trọng của các hiệp định thương mại tự do hai bên gần đây, chẳng hạn như các quốc gia mới nổi với một quốc gia đã và đang phát triển ngày càng được ưa chuộng để thúc đẩy cạnh tranh trên trường thương mại quốc tế Các quy định về CSCT trong các hiệp định thương mại quốc

tế này tạo điều kiện cho một môi trường kinh doanh thuận lợi, công bằng, hiệu quả Thông qua các quy định như vậy, lợi ích của thương mại tự do không bị suy giảm bởi các hành động của khu vực công hoặc khu vực tư nhân ở biên giới Một vấn đề thách thức đặt ra trong lĩnh vực này là làm thế nào để tận dụng được các quy định này vì sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật, nền kinh tế của mỗi bên

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại

Tự do (EVFTA) Với 17 chương, hai nghị định thư và nhiều biên bản ghi nhớ kết nối với các nội dung thiết yếu bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, DN nhà nước, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại,

Trang 10

2

phát triển bền vững và các vấn đề pháp lý và thể chế, EVFTA được coi là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao, đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU EVFTA bao gồm toàn bộ chương kiểm soát CSCT với các quy định chi tiết, thiết thực và với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường cạnh tranh ở Việt Nam cần tạo điều kiện tốt nhất để DN phát triển, NTD được hưởng lợi và phúc lợi xã hội

Trong bối cảnh chưa có nhiều nghiên cứu về các điều khoản liên quan đến cạnh

tranh của EVFTA hiện nay, tác giả xin phép lựa chọn đề tài “Đánh giá sự phù hợp của

pháp luật cạnh tranh Việt Nam với những cam kết trong Hiệp định EVFTA” làm đề

tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình Khóa luận này sẽ cung cấp thông tin về lý thuyết chung về PLCT Việt Nam và phân tích sâu hơn về CSCT (các điều khoản liên quan đến cạnh tranh) trong EVFTA Sau đó, trên cơ sở phân tích sự tương thích giữa CSCT ở Việt Nam và những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA, khóa luận sẽ đưa ra một

số khuyến nghị cho Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết này một cách hiệu quả

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực luật và CSCT, nhưng hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào CSCT trong EVFTA Nguyên nhân là do EVFTA mới chỉ kết thúc đàm phán vào cuối tháng 6 năm 2019 Tuy nhiên, các nghiên cứu về luật và CSCT quốc tế cũng như CSCT ở Việt Nam là một bộ sưu tập thực sự to lớn Theo đó, tác giả xin phép đưa ra một số đánh giá chung về một

số nghiên cứu tiêu biểu và nổi bật sau đây:

Thứ nhất, cuốn sách về CSCT và thực hành của Massi Motta trình bày các khái

niệm quan trọng và giải đáp về cách thức mà chính sách và LCT có thể thúc đẩy vai trò quan trọng trong việc đạt được tăng trưởng và phát triển bền vững và toàn diện Đây là một cuốn sách đối phó với cả lý thuyết và thực tiễn của CSCT Đây là một cuốn sách giáo khoa cực kỳ quan trọng trong kinh tế học của giảng viên, sinh viên, nhà kinh tế và luật sư Nó dựa trên tài liệu của các tổ chức công nghiệp và dựa trên các phân tích ban đầu để tiết lộ những ảnh hưởng tiêu cực mà hoạt động phản cạnh tranh của các công ty đối với phúc lợi của người tiêu và xây dựng các khuyến nghị cho các chính sách nhằm hạn chế hành vi phản cạnh tranh này Sự tương thích giữa lý thuyết và thực hành là một trong những đặc điểm cơ bản của cuốn sách, bao gồm các tài liệu tham khảo khác nhau

về các trường hợp CSCT (chủ yếu từ EU và Hoa Kỳ) và một số nghiên cứu điển hình được phát triển đầy đủ

Trang 11

3

Thứ hai, một số nghiên cứu về Hợp tác quốc tế trong thực thi LCT của các chuyên

gia nhóm hoặc tổ chức kinh tế quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(OECD): Những thách thức của Hợp tác quốc tế trong thực thi LCT; Các khía cạnh của LCT của Francisco Gonzalez de Cassio; Các Điều khoản Cạnh tranh trong các Hiệp định Thương mại Khu vực: Cách Đảm bảo Lợi ích Phát triển (LHQ); CSCT trong Trật tự Thương mại Mới: Tăng cường Hợp tác Quốc tế và Quy tắc (EC)… đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các phân tích cập nhật về luật và CSCT thực tiễn ở cấp

độ toàn cầu Ủy ban Cạnh tranh của OECD đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình khuôn khổ hợp tác quốc tế giữa các cơ quan thực thi PLCT và đã tiến hành

“hỗ trợ điều tra” như một công cụ để tăng cường thực thi tại một khu vực tài phán với

sự trợ giúp của các cơ quan thực thi ở các khu vực tài phán khác Hầu hết trong số 35 thành viên OECD đến từ châu Âu và 4 thành viên khác đến từ châu Mỹ Do đó, bài báo này cũng đã tham khảo nhiều báo cáo và Nghệ thuật của các nhóm chuyên gia từ OECD

Khi xem xét PLCT của Việt Nam, có rất nhiều tài liệu được tham khảo, một trong

số đó là báo cáo về LCT Việt Nam của Mayer Brown năm 2019 Báo cáo như là bằng chứng cho sự cải tiến của LCT năm 2018 so với LCT năm 2004, chi tiết thể hiện điểm nổi bật của các điều khoản

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Báo cáo tóm tắt LCT Việt Nam (2012) của Cục Quản lý cạnh tranh và Đánh giá của OECD về Luật và CSCT Việt Nam

là hai loại hình nghiên cứu chuyên biệt hơn trong lĩnh vực này Trước những vấn đề được báo cáo nổi lên từ việc thực thi PLCT của Việt Nam, nó là có thể thấy rằng Việt Nam cần xây dựng lại một bộ quy định trong LCT của Việt Nam để phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa

3 Mục đích nghiên cứu nghiện cứu của khóa luận

Mục tiêu của khóa luận là làm rõ các vấn đề của CSCT trong hợp tác quốc tế thông qua việc phân tích, lý giải các điều khoản liên quan đến cạnh tranh trong EVFTA

và phân tích sự tương thích giữa PLCT của Việt Nam và các cam kết trong Hiệp định EVFTA Sau khi xác định rõ vấn đề, khóa luận đưa ra một số khuyến nghị để thực hiện cam kết của EVFTA về CSCT một cách hiệu quả nhất

4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 12

4

Về nội dung, khóa luận tập trung vào các cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA và sự tương thích giữa PLCT Việt Nam và những cam kết đó Phạm vi của khóa luận này như sau:

- Đối với phạm vi địa lý: nghiên cứu nhằm tiến hành một cái nhìn thực tế sâu sắc

liên quan đến các cam kết của Việt Nam với EU về luật và CSCT tại Việt Nam

- Đối với phạm vi thời gian: đề tài tập trung phân tích, tổng hợp tình hình CSCT

của Việt Nam từ năm 2018 và các tác động của Hiệp định EVFTA từ tháng 8 năm 2020

Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm tuân thủ các cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về cạnh tranh Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích: được sử dụng nhằm chia nhỏ các vấn đề thuộc phạm

vi nghiên cứu;

- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên

cứu một cách có lô-gic, hệ thống;

- Phương pháp thống kê: được sử dụng nhằm thu thập và xử lý số liệu có liên

quan đến vấn đề kết hôn trái pháp luật, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng, từ

đó, làm tiền đề thực tiễn để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh;

- Phương pháp so sánh: được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các điểm tương đồng và

khác biệt giữa các các vấn đề pháp lý

6 Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận

Trong nhiều thập kỷ qua, PLCT Việt Nam luôn là một công cụ quan trọng để thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng và làm cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Từ năm 2004, bằng việc ban hành LCT năm 2004 và ban hành các chính sách liên quan, Chính phủ Việt Nam đã từng bước nâng cao PLCT Việt Nam để đạt được sự cạnh tranh hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của khách hàng Tham gia nhiều Hiệp định thương mại thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA… đặt ra một yêu cầu cho Chính phủ Việt Nam phải chuẩn bị cải cách CSCT toàn diện bao gồm vai trò của khu vực quốc doanh, các quy định chống cạnh tranh và cải cách cạnh tranh luật để đảm bảo hiệu lực cho các cam kết của mình Cùng với việc LCT mới năm

Trang 13

5

2018 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2019, Việt Nam đã và đang trên đường giải quyết hiệu quả các vấn đề nổi cộm của hợp tác quốc tế trong bối cảnh các cam kết EVFTA Những đóng góp của công trình này được trình bày như sau:

- Phân tích ba khung lý thuyết và khái niệm chính: khái niệm về cạnh tranh; mối quan hệ giữa CSCT, quy LCT và phát triển kinh tế; và mục tiêu của PLCT Việt Nam Sau đó, xem xét kỹ lưỡng cách PLCT Việt Nam điều chỉnh bối cảnh chống cạnh tranh của toàn cầu hóa, đặc biệt là về mặt hình thức của các điều khoản trong các hiệp định thương mại tự do

- Phân tích lý thuyết và có hệ thống ở trên là cần thiết để đánh giá chi tiết hơn liệu Việt Nam có pháp luật toàn diện về cạnh tranh quy định hành vi chống cạnh tranh hoặc nghiêm cấm hành vi phản cạnh tranh của công ty có VTTLTT,… và cung cấp các công cụ thực thi cần thiết để phát hiện ra các hành vi bất hợp pháp đó hay không; (ví dụ: các chương trình khoan hồng, quyền điều tra, v.v.) hoặc đủ quyền lực để thực hiện hành động thích hợp đối với hành vi đó nhằm đảm bảo các mục tiêu này hay không?

- Sau khi khẳng định những phát hiện về những tồn tại, thậm chí là kẽ hở trong CSCT ở Việt Nam, khóa luận sẽ đề xuất những kiến nghị để cải thiện khung pháp lý hiệu quả, cơ quan cạnh tranh độc lập và có nguồn lực tốt, môi trường CTLM để chuẩn

bị tốt cho EVFTA

7 Kết cấu nội dung của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh Việt Nam và Hiệp

định EVFTA

- Chương 2: Đánh giá sự phù hợp của pháp luật cạnh tranh Việt Nam với những

cam kết trong Hiệp định EVFTA

- Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Việt Nam theo những cam kết gia nhập hiệp định EVFTA

Trang 14

6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VÀ

HIỆP ĐỊNH EVFTA 1.1 Khái quát về cạnh tranh

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất và có mối quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu… Đây là một khái niệm rất rộng và từ trước đến nay đã có khá nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này

Chẳng han như theo Black’s law Dictionary, cạnh tranh được định nghĩa là “sự

nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”1 Hay theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong từ điển

ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) được hiểu là “một sự kiện hoặc một

cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối với phía mình”2 Tuy vậy, Từ điển tiếng Việt lại định nghĩa “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần

hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.3

Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù nêu được chừng mực nhất định những đặc điểm căn bản của cạnh tranh, tuy nhiên, chúng đều có những hạn chế và chưa đảm bảo tính khái quát cao và bao trùm trong thực tiễn Trong lĩnh vực khoa học kinh tế, cạnh tranh được các nhà kinh tế học hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng Cạnh tranh

có thể xuất hiện ở cả giữa những người bán hàng và giữa những người mua hàng, nhưng cạnh tranh xuất hiện giữa những người bán hàng là phổ biến

1 Bryan A Garner, Black’ Law Dictionary (St Paul, 1999), tr 278

2 CUTS – All About Competition Policy & Law For the advanced learner, 2000, page 1

3 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, Nxb, Đà Nẵng, 1997, tr 108

Trang 15

1.1.1.2 Các hình thức cạnh tranh

(i) Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết

của nhà nước

Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của Nhà

nước và thị trường cạnh tranh tự do “tồn tại khi không có sự can thiệp của Chính phủ và

tại đó, các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tư do”4

Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp

bằng các CSCT của Nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển theo trật tự nhất định, bảo đảm, tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng

(ii) Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh

không hoàn hảo và độc quyền

Thứ nhất, cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) hay còn được gọi là cạnh

tranh thuần túy (Pure Competition) là hình thức cạnh tranh diễn ra trên thị trường có những đặc tính sau:

- Có sự tham gia của nhiều người bán và nhiều người mua trên thị trường, thị

phần của người bán và khả năng tiêu thụ của người mua đều nhỏ đến mức không ai có

đủ sức mạnh tác động tới giá cả của sản phẩm

- Sản phẩm do những người bán cung ứng không có sự khác biệt dẫn đến các sản phẩm trên thị trường được bán ở cùng một mức giá Giá cả sản phẩm được hình thành

4 David W Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (Hà Nội: tái bản lần 4, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1999), tr

397

Trang 16

8

khách quan thông qua quan hệ cung cầu và không chịu sự tác động của các chủ thể tham gia thị trường

- Các chủ thể kinh doanh tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường

Thứ hai, cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh diễn ra trong thị

trường có sự khuyết đi một trong các yếu tố của cạnh tranh hoàn hảo Thực tế, trên mỗi thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, mỗi thành viên đều có một sức mạnh nhất định,

đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm theo những mức độ nhất định

Thứ ba, độc quyền là hình thức cạnh tranh tồn tại trên thị trường có đặc trưng:

- Chỉ có chủ thể duy nhất cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm mà không có sản

phẩm thay thế cùng loại hay gần giống với nó

- DN độc quyền là người có quyền quyết định giá sản phẩm đối với loại mặt hàng nhất định Họ có thể nâng giá hoặc hạ giá sản phẩm để thu được nhiều lợi nhuận độc quyền nhất

- Rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các DN khác rất khó khăn hoặc không thể tham gia thị trường được

(iii) Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Thứ nhất, CTLM là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng

giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh.5 CTLM là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo dức kinh doanh truyền thống như: nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí

Thứ hai, CTKLM là phương thức cạnh tranh được DN thực hiện bởi những cách

thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh như ấn định giá bất hợp lý với khách hàng, sắp đặt mức giá thấp hơn giá thị trường để loại bỏ đối thủ, quảng cáo, khuyến mại với mục đích lôi kéo khách hàng của đối thủ…

(iv) Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi cạnh tranh gây ra đối với môi trường cạnh tranh, pháp luật của một số nước đã chia cạnh tranh thanh hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh

5 Bryan A Garner, sdd, tr 279

Trang 17

9

Thứ nhất, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi hình thành từ những thủ đoạn

lũng đoạn thị trường của các tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế

kỉ XIX và luôn hướng tới việc hình thành SMTT hoặc lạm dụng SMTT làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo

Thứ hai, hành vi CTKLM là những hành vi của DN nhằm mục đích cạnh tranh

trái với chuẩn mực đạo đức, đi ngược với thông lệ thiện chí, trung thực trong kinh doanh Những hành vi này phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các DN đã đẩy cạnh tranh lên quá mức bằng những thủ đoạn thái quá gây thiệt hại cho đối thủ hoặc một bộ phận NTD,

1.1.1.3 Vai trò của cạnh tranh

Thứ nhất, cạnh tranh là một trong những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội Hệ quả của cạnh tranh là DN nào có tiềm lực, có chiến lược kinh doanh đúng đắn, hiệu quả sẽ tiếp tục vươn lên tồn tại, DN nào không đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ bị loại khỏi cuộc chơi

Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, cải tiến

công nghệ nhằm kinh doanh có hiệu quả và tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn trên thị trường

Thứ ba, cạnh tranh dẫn đến giá thấp hơn cho NTD và làm thỏa mãn nhu cầu của

NTD Bởi vậy, trong điều kiện có cạnh tranh, NTD là thượng đế, là trung tâm thị trường

và có quyền lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua

Thứ tư, cạnh tranh buộc các DN cũng như các quốc gia phải sử dụng các nguồn

lực, đặc biệt là nguồn tài nguyên một cách tối ưu và mang lại hiệu quả cũng như năng suất cao nhất

1.1.2 Khái quát về chính sách cạnh tranh

1.1.2.1 Khái niệm về chính sách cạnh tranh

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về CSCT Có quan điểm cho rằng, CSCT bao gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế.6

Bên cạnh đó, nhiều nhà kinh tế và các luật gia cho rằng cần hiểu CSCT theo nghĩa

rộng hơn Theo đó, chính sách cạnh tranh là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của

Nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế, duy

6 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế (sách dịch), Nxb Thống kê, Hà Nội, 1997, tr 58

Trang 18

10

trì môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng phù hợp với lợi ích chung của xã hội.7Theo nghĩa này, CSCT là một phần của chính sách kinh tế sẽ bao gồm hàng loạt các cải cách và chính sách mà Chính Phủ đưa ra ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của DN và cấu trúc ngành trong quá trình cạnh tranh,

1.1.2.2 Nội dung của chính sách cạnh tranh

CSCT được ban hành với mục tiêu chủ yếu là để duy trì và phát huy cạnh tranh như phương thức để phẩn bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho các DN gia nhập và rút lui khỏi thị trường đồng thời tạo điều kiện để NTD được cung cấp đầy

đủ hàng hóa với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất CSCT bao gồm nhưng không giới hạn những nội dung chính sau:

(i) Chính sách thương mại quốc tế: Chính sách thương mại quốc tế của một

quốc gia có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cạnh tranh trong nền kinh

tế Lượng hàng hóa trong nội địa phụ thuộc vào độ mở của nền kinh tế với nước ngoài

Do đó nếu thắt chặt chính sách thương mại với nước ngoài có thể dẫn đến các DN trong nước thao túng thị trường

(ii) Chính sách công nghiệp: Các quy định điều chỉnh về việc gia nhập và thành

lập DN ở một quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với môi trường cạnh tranh hiệu quả Nếu một quốc gia thực hiện chính sách hạn chế sự gia nhập và tăng trưởng của các công

ty gắn với điều kiện cấp phép và các điều kiện nghiêm ngặt cho việc ra đời của DN thì

sẽ ít công ty tham gia vào thị trường do đó mức độ cạnh tranh sẽ thấp Do đó, một CSCT

có hiệu quả là ủng hộ việc gỡ bỏ các rào cản và tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng đầu

tư cũng như các thủ tục hành chính đơn giản cho hoạt động đầu tư thành lập DN

(iii) Chính sách tư nhân hóa (cổ phần hóa): Để đảm bảo môi trường cạnh tranh,

chính phủ các nước đều áp dụng giải pháp tư nhân hóa, cổ phần hóa để nâng cao hiệu quả phát triển của toàn bộ nền kinh tế

(iv) Chính sách lao động: Các quy tắc lao động ảnh hưởng lớn đến chi phí và

tiện ích sản xuất, do đó, nếu quy định của luật lao động nghiêm ngặt có thể được coi là rào cản gia nhập và rút lui khỏi thị trường, từ đó làm giảm hành vi hạn chế cạnh tranh

7 Trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr 29, Tài liệu của khóa học, “Đào tạo chuyên sâu luật và chính sách cạnh tranh” ngày 21 - 24/9/2010 tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 19

11

(v) Cải cách điều tiết kinh tế ngành: Sự mở cửa các các lĩnh vực như điện, nước,

viễn thông cho tư nhân tham gia kinh doanh cho thấy nhu cầu cấp thiết phải có quy định pháp luật điều tiết hoạt động kinh tế trong lĩnh vực này

(vi) Chính sách về quyền sở hữu trí tuệ: CSCT có liên quan đến chính sách về

quyền sở hữu trí tuệ và luôn ủng hộ việc các DN tham gia vào các lĩnh vực tồn tại độc quyền Bởi vậy, một cách lý tưởng nhất là luật sở hữu trí tuệ vừa tạo ra các cơ chế linh hoạt cho phép bảo hộ người sáng tạo, đồng thời tạo khoảng trống để chính phủ có thể hành động trong trường hợp có sự lạm dụng những quyền này

(vii) Luật cạnh tranh: PLCT đóng một vai trò quan trọng trong hiệu quả của việc

thực thi CSCT Việc có một khung pháp lý chặt chẽ và hoàn thiện sẽ giúp tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do Cơ sở pháp lý tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các DN Chỉ khi được tự do gia nhập thị trường, tự do giao kết và bảo đảm quyền thì các chủ thể tham gia thị trường mới có đủ năng lực để quyết định phương thức kinh doanh Lúc đó, cạnh tranh mới có thể tồn tại và phát huy tác dụng PLCT còn giúp cho quyền lợi của DN và NTD được bảo vệ Việc xóa bỏ mọi kiềm chế không phù hợp đối với hoạt động kinh doanh, PLCT giúp đảm bảo cho các DN hoạt động kinh doanh tự do trên một thị trường tự do Sự hiện diện của PLCT giúp thiết lập trật tự thị trường, giải phóng các DN khỏi những biểu hiện không lành mạnh Một trong những vai trò của PLCT là bảo vệ NTD Với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại

bỏ các biểu hiện không lành mạnh trên thị trường quốc gia, PLCT có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sự lành mạnh và khả năng phát triển tự thân của nền kinh tế nội địa, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần phát triển lợi thế so sánh của từng thị trường thành viên

1.2 Khái quát về Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Pháp luật Cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của cơ chế thị trường, đồng thời còn là thuộc tính của kinh tế thị trường, vì vậy, nó hiện diện trong nền kinh tế như một yếu tố tất yếu Xét theo phương diên tích cực, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, song xét theo những phương diện khác, chính cạnh tranh là yếu tố đưa lại những hậu quả tiêu cực về kinh tế - xã hội Cạnh tranh gay gắt sẽ dẫn đến tình trạng CTKLM, hạn chế cạnh tranh, và tất yếu độc quyền xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu và bóp

Trang 20

là một đạo luật và những văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh hoạt động cạnh tranh nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng.8

Khác với các lĩnh vực pháp luật về kinh tế khác, PLCT có các đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, PLCT chỉ quy định các hành vi bị ngăn cấm trong hoạt động canh tranh

chứ không hướng dẫn các chủ thể kinh doanh cần làm những gì hoặc phải làm gì trong quá trình cạnh tranh trên thị trường (nói cách khác, PLCT có tính tiếp cận từ mặt trái) Bởi vậy, PLCT thuộc loại pháp luật mang tính “can thiệp” hay “ngăn cản”

Thứ hai, PLCT thường đặt ra các điều khoản mở và những quy định miễn trừ cho

phép cơ quan thi hành LCT có thể áp dụng một cách linh hoạt Trên thực tế, có những hành vi ở thời điểm này được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh nhưng ở thời điểm và hoàn cảnh khác thì hành vi đó lại không xâm phạm tới ích công

và không đáng bị ngăn cản

Thứ ba, ngoài các quy định về nội dung điều chỉnh hành vi cạnh tranh, PLCT còn

có các quy định để đảm bảo thực thi LCT Đó là các quy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm PLCT Cụ thể, không giống như các lĩnh vực pháp luật khác, PLCT còn bao gồm nhiều quy phạm quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các

vụ việc thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm hay các hành vi CTKLM và các biện pháp xử lý đối với các chủ thể có hành vi VPPL

1.2.2 Lịch sử hình thành phát triển của pháp luật cạnh tranh Việt Nam

Trước thời kỳ đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế (trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986), nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nên chưa có điều kiện cho sự tồn tại của cạnh tranh

Từ sau năm 1986, nền kinh tế đất nước chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định

8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;tr.66

Trang 21

13

hướng xã hội chủ nghĩa nên hình thành các điều kiện để cạnh tranh tồn tại Trong thời gian này, mặc dù chưa có văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh hoạt động cạnh tranh nhưng trong một số văn bản luật khác đã xuất hiện các quy định nhằm điều tiết cạnh tranh, góp phần tạo nên môi trường CTLM Chẳng hạn như trong Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định một số vấn đề mang tính nguyên tắc làm tiền đề để bảo vệ duy trì cạnh tranh như: ghi nhận nguyên tắc tự do kinh doanh (Điều 57); ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 22), Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các nhà sản xuất và NTD (Điều 28)… Ngoài ra, việc điều chỉnh hành vi CTKLM và hành vi hạn chế cạnh tranh trong một số lĩnh vực cụ thể đã xuất hiện trong một số văn bản pháp luật khác nhau như: Trong lĩnh vực quảng cáo: Luật thương mại năm 1997, Pháp lệnh bảo vệ NTD năm

1999, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá năm 2000;…

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần điều tiết nền kinh tế thị trường, kiểm soát độc quyền và tạo lập, duy trì mối trường kinh doanh bình đẳng, Quốc Hội khóa XI đã ban hành LCT năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005 Sau đó, các CQNN có thẩm quyền của Việt Nam cũng lần lượt ban hành các văn bản để hướng dẫn, thực thi Luật, trong đso có văn bản quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT, văn bản quy định

về xử lý VPPL trong lĩnh vực cạnh tranh… Tuy nhiên, sau hơn 12 năm thi hành, với sự thay đổi của bối cảnh và điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường pháp lý và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Luật năm 2004 đã dần bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn.9 Đến ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thông qua LCT số 23/2018/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 với 10 chương và 118 điều luật đã khắc phục được khá nhiều bất cập trong LCT năm 2004

1.2.3 Nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành

LCT năm 2018 quy định một số nội dung cơ bản như sau:

(i) Xác định thị trường liên quan, xác định thị phần và thị phần kết hợp

Xuất phát từ tầm quan trọng và tính xuyên suốt của quy định về thị trường liên quan, thị phần trong việc kiểm soát các hành vi vi phạm PLCT, LCT năm 2018 đã xây dựng một Chương riêng quy định về thị trường liên quan và thị phần, trên cơ sở thừa kế các điều,

9 Xen thêm tại: https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=40994

Trang 22

14

khoản trong LCT năm 2004 và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm

2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT

(ii) Các vấn đề liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Đây là

chương mới được xây dựng trên cơ sở Mục 1, Mục 4 Chương II LCT năm 2004 Việc tách các quy định tại Mục 1 và Mục 4 Chương II LCT năm 2004 thành chương riêng do đây là nhóm quy định riêng biệt về một trong những hành vi phản cạnh tranh cơ bản được điều chỉnh, là một trong những trụ cột của PLCT

(iii) Các vấn đề liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền Đây là chương mới được xây dựng trên cơ sở Mục 2 Chương

II LCT năm 2004, trong đó tách các quy định về làm dụng VTTLTT, làm dụng vị trí độc quyền thành chương riêng, do đây là những nhóm quy định về hành vi riêng biệt

(iv) Các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm Về tập trung kinh tế, đây là chương mới, được tách từ Mục 3

Chương II LCT năm 2004 Việc tách tập trung kinh tế thành một chương riêng xuất phát

từ sự thay đổi về cách tiếp cận trong kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế nhằm ngăn ngừa việc tập trung kinh tế có thể hình thành nên SMTT, tiềm ẩn khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường Về hành vi CTKLM bị cấm, trên cơ sở chuẩn hóa các quy định về hành vi CTKLM, đồng thời rà soát, loại bỏ các hành vi không phù hợp về mặt bản chất, Điều 45 LCT năm 2018 đã sửa đổi, bổ sung một số hành vi được quy định tại Điều 39 LCT năm 2004

(v) Quy định một số cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý như Ủy ban Cạnh tranh quốc gia, thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia LCT năm 2018

quy định thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trên quan điểm tổ chức lại các cơ quan cạnh tranh theo LCT năm 2004 bao gồm: Cơ quản quản lý cạnh tranh (hiện nay là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ NTD) và Hội đồng Cạnh tranh (bao gồm cả bộ phận giúp việc là Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh)

(vi) Các vấn đề liên quan đến tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm pháp luật

về cạnh tranh Các quy định về trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh trong Luật đã

được hoàn thiện theo hướng đơn giản hơn, rút ngắn thời gian và có sự phân định rõ các khâu trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, từ phát hiện, điều tra cho đến xử lý

và giải quyết khiếu nại

Trang 23

15

(vii) Một số vấn đề liên quan đến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định trong một số luật khác không phù hợp với quy định của Luật cạnh tranh, điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành Về sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định trong một số

luật khác (Điều 116), để đảm bảo hiệu lực thi hành của các quy định và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, điều này quy định về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định

Về điều khoản chuyển tiếp (Điều 118), để đảm bảo hiệu lực thi hành của Luật, tránh xảy

ra các khoảng trống pháp lý trong việc điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh khi LCT năm 2018 có hiệu lực

1.2.4 Nguồn của Pháp luật cạnh tranh

PLCT bao gồm các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp, điều chỉnh hoạt động cạnh tranh, hoạt động tố tụng cạnh tranh, các quy định

về tổ chức, hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan cạnh tranh và các biện pháp xử

lý VPPL về cạnh tranh

Ở Việt Nam hiện nay, PLCT bao gồm các văn bản pháp luật chủ yếu sau:

Thứ nhất, điều ước quốc tế ĐƯQT liên quan đến cạnh tranh là sự thỏa thuận giữa

các chủ thể của công pháp quốc tế (chủ yếu là các quốc gia) nhằm thiết lập những nguyên tắc pháp lý bắt buộc để xác định thay đổi hoặc hủy bỏ quyền và nghĩa vụ với nhau trong hoạt động cạnh tranh ĐƯQT có giá trị áp dụng trên toàn lãnh thổ của tất cả các quốc gia tham gia điều ước và được ưu tiên áp dụng tại Việt Nam khi có sự mâu thuẫn và khác biệt với quy định của LCT Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác, đầu tư với nhiều quốc gia trên thế giới và đã kí kết hoặc tham gia một số ĐƯQT song phương hoặc đa phương liên quan đến cạnh tranh Một số ĐƯQT nổi bật:

- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA): EVFTA chính thức có

hiệu lực từ ngày 1/8/2020, là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Quy tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Đầu tư, Phòng vệ thương mại,

Trang 24

16

Cạnh tranh, DNNN, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý),

Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý

- Hiệp định Đối tác toàn diện, tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính

thức có hiệu lực từ ngày 14/01/2019 Hiệp định được ký kết bởi 11 Quốc gia và được đánh giá là mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với kinh tế Việt Nam CSCT của hiệp định CPTPP đưa ra các nguyên tắc chung nhằm đảm bảo khuôn khổ cạnh tranh bình đẳng trong khu vực qua đó thúc đẩy mục tiêu về thương mại

và đầu tư của Hiệp định Theo đó, các nước thành viên CPTPP cam kết phải đảm bảo một số yêu cầu chung như sau: Ban hành và thực thi PLCT quốc gia để xử lý các hoạt động gây nguy hại đến môi trường cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả kinh tế và lợi ích của NTD; Duy trì cơ quan thực thi PLCT, bảo vệ môi trường cạnh tranh trên nguyên tắc không phân biệt đối xử…

Thứ hai, các văn bản luật được Quốc Hội thông qua, bao gồm:

2020, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Thứ ba, các văn bản dưới Luật do Chính phủ và các CQNN có thẩm quyền ban

hành hướng dẫn thi hành LCT và các luật khác có liên quan đến hoạt động cạnh tranh

Có thể kể đến một số văn bản thuộc nguồn này như Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/03/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LCT năm 2018; Nghị định

số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/09/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh…

Trang 25

17

1.3 Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam

1.3.1 Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam

1.3.1.1 Khái quát về Hiệp định EVFTA

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU), gọi tắt

là Hiệp định EVFTA đã được khởi động và kết thúc trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư

EVFTA được bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 6 năm 2012 Đây là một HĐTM thế hệ mới với mức độ hội nhập sâu rộng và toàn diện nhất từ trước đến nay Không giống như các HĐTM trước đây, EVFTA có một số đặc điểm nổi bật như: Phạm

vi cam kết rất rộng, không chỉ bao gồm các cam kết thương mại thuần túy mà mở rộng thêm những cam kết khác như lao động, DN nhà nước, mua sắm công,…; Mức độ mở cửa rộng hơn so với WTO: xóa bỏ hầu hết các dòng thuế, mở cửa mạnh các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ cạnh tranh, và lộ trình thực thi cam kết tương đối ngắn: thông thường khoảng từ 5 – 10 năm

Đối với Việt Nam, việc thực hiện EVFTA là bước đi quan trọng nhằm đa dạng hóa đối tác thương mại – đầu tư, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một khu vực cụ thể Có thể thấy, trong giai đoạn trước năm 2010, hầu hết các FTA

mà Việt Nam tham gia đều với các đối tác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như: HĐTM tự do mà Việt Nam cùng ASEAN ký với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,… Từ năm 2010 trở lại đây, Việt Nam mới tích cực thúc đẩy đàm phán các thỏa thuận thương mại tự do với đối tác ở nhiều khu vực khác nhau như EU, CPTPP, trong

đó có một số nước châu Mĩ, Liên minh Kinh tế Á – Âu trong dó có Nga, khối các nước Bắc Âu (EFTA),… Các thỏa thuận này khi được thực hiện sẽ tạo thành một hệ thống quan hệ thương mại tự do toàn diện và ổn định giữa Việt Nam với tất cả các đối tác thương mại lớn trên thế giới

1.3.2.2 Hành trình đàm phán ký kết EVFTA

Tháng 10 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý

khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA

Tháng 6 năm 2012: Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại

EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA

Trang 26

18

Tháng 12 năm 2015: Kết thúc đàm phán và bắt đầu khởi động tiến trình rà soát

pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định

Tháng 6 năm 2017: Hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật

Tháng 9 năm 2017: EU chính thức đề nghị Việt Nam tách riêng nội dung bảo hộ

đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư (ISDS) ra khỏi Hiệp định EVFTA thành một hiệp định riêng do phát sinh một số vấn đề mới liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do của EU hay từng nước thành viên

Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách riêng

EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)

và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA); chính thức kết thúc toàn bộ quá trình rà soát pháp lý Hiệp định EVFTA và thống nhất toàn bộ các nội dung của Hiệp định IPA

Ngày 17 tháng 10 năm 2018: Ủy ban châu Âu đã chính thức thông qua EVFTA Ngày 25 tháng 6 năm 2019: Hội đồng châu Âu phê duyệt cho phép ký Hiệp định Ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA

Ngày 21 tháng 1 năm 2020: Ủy ban Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu

thông qua khuyến nghị phê chuẩn EVFTA

Ngày 12 tháng 2 năm 2020: Nghị viện châu Âu chính thức phê chuẩn EVFTA Ngày 30 tháng 3 năm 2020: Hội đồng châu Âu thông qua Hiệp định EVFTA Ngày 08 tháng 6 năm 2020: tại buổi họp đầu tiên giai đoạn 2, Kỳ họp thứ 9, Quốc

hội khóa XIV, Nghị quyết phê chuẩn thông qua Hiệp định EVFTA đã được 100% số đại biểu (457/457 đại biểu) biểu quyết thông qua

1.3.2.3 Nội dung chính của Hiệp định EVFTA

Hiệp định thương mại tự do EVFTA là một hiệp định thế hệ mới với nhiều cam kết cao hơn quy định của WTO về mở cửa thị trường, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, phát triển bền vững, giải quyết tranh chấp EU đã dành cho Việt Nam một số ưu đãi trong việc thực hiện EVFTA; đây vừa là thiện chí của EU, vừa thể hiện quan hệ tốt đẹp giữa hai bên Hiệp định EVFTA gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là:

(i) Thương mại hàng hóa

Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất

Trang 27

19

khẩu của Việt Nam sang EU Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu) Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu) Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO

(ii) Thương mại dịch vụ và đầu tư

Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một số dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối Ví dụ như: Dịch vụ ngân hàng - Trong vòng 05 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU nâng mức nắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 02 ngân hàng thương mại

cổ phần của Việt Nam Tuy nhiên, cam kết này không áp dụng với 04 ngân hàng thương mại cổ phần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank;

(iii) Mua sắm của Chính phủ

Việt Nam cam kết mở cửa mua sắm của các Bộ, ngành trung ương, một số đơn

vị trực thuộc Bộ Quốc phòng (đối với các hàng hóa và dịch vụ mua sắm thông thường không phục vụ mục tiêu an ninh – quốc phòng), thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tổng công ty đường sắt Việt Nam, 34 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và một số Viện thuộc trung ương

(iv) Sở hữu trí tuệ

Cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kết liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v., cụ thể:

- Về chỉ dẫn địa lý: Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm

28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam

Trang 28

20

- Về nhãn hiệu: Hai bên cam kết áp dụng thủ tục đăng ký thuận lợi, minh bạch,

bao gồm việc phải có cơ sở dữ liệu điện tử về đơn nhãn hiệu đã được công bố và nhãn hiệu đã được đăng ký để công chúng tiếp cận, đồng thời cho phép chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký nhưng không sử dụng một cách thực sự trong vòng 5 năm

(v) Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)

Hiệp định EVFTA chỉ điều chỉnh hoạt động thương mại của các DN do Nhà nước

sở hữu hoặc kiểm soát và DN độc quyền có quy mô hoạt động thương mại đủ lớn đến mức có ý nghĩa trong cạnh tranh

(vi) Thương mại điện tử

Để phát triển thương mại điện tử giữa Việt Nam và EU, hai bên cam kết không đánh thuế nhập khẩu đối với giao dịch điện tử Hai bên cũng cam kết hợp tác thông qua việc duy trì đối thoại về các vấn đề quản lý được đặt ra trong thương mại điện tử, bao gồm một số vấn đề như trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong việc truyền dẫn hay lưu trữ thông tin; bảo vệ NTD khi tham gia giao dịch điện tử…

(vii) Minh bạch hóa

Xuất phát từ thực tiễn môi trường pháp lý trong nước có ảnh hưởng lớn đến thương mại, Hiệp định EVFTA dành một chương riêng về minh bạch hóa với các yêu cầu chung nhất để đảm bảo một môi trường pháp lý hiệu quả và có thể dự đoán được cho các chủ thể kinh tế, đặc biệt là DN vừa và nhỏ

(viii) Thương mại và phát triển bền vững

Hai bên khẳng định cam kết theo đuổi phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác thông qua cơ chế chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về thúc đẩy việc phê chuẩn và thực thi các công ước về lao động và môi trường trong một số lĩnh vực như biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản…

(ix) Các nội dung khác của Hiệp định EVFTA

Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý - thể chế, CSCT và trợ cấp Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy

sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai Bên

Trang 29

21

1.3.1.4 Tác động của Hiệp định EVFTA tới Việt Nam

Thứ nhất, tác động tới tăng trưởng kinh tế Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và

Đầu tư về tác động của EVFTA, nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để, kết hợp với một số yếu tố từ chiến tranh thương mại, Anh rời khỏi

EU (Brexit), sự thay đổi chính sách của các nước… tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Hiệp định EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% (cho giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57-5,30% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 7,07-7,72% (cho giai đoạn 05 năm sau đó)

Thứ hai, tác động đến thương mại Tham gia Hiệp định EVFTA dự kiến giúp kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định Xét về tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới, dự kiến kim ngạch của Việt Nam sẽ tăng trung bình 5,21-8,17% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 11,12-15,27% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo)

và 17,98-21,95% (cho giai đoạn 05 năm sau đó)

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU quý III mặc dù giảm so với quý II/2021 nhưng vẫn giữ nguyên đà tăng so với cùng kỳ năm 2020 Tính chung 9 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU tăng đáng kể (13,4%) so với 9 tháng năm 2020:

Quý III/2021 So với quý

II/2021

So với quý III/2020

9 tháng năm

2021

So với 9 tháng năm

Chuyên san thương mại 10

10 Bộ Công Thương, Chuyên san thương mại Việt Nam - EU số Quý III/2021

Trang 30

22

Thứ ba, tác động đến ngân sách nhà nước (NSNN) Cắt giảm thuế quan theo Hiệp

định EVFTA sẽ có tác động hai chiều đến nguồn thu NSNN, cụ thể: Giảm thu NSNN

do giảm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu; tăng thu NSNN do có thu thêm từ thu nội địa dưới tác động tích cực của thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế Dự kiến, tổng mức giảm thu NSNN từ giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo lộ trình của Hiệp định EVFTA là 2.537,3 tỷ đồng

Thứ tư, tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

khi EVFTA thực thi, Việt Nam kỳ vọng có nhiều đổi mới và thể chế, cải thiện môi trường đầu tư do thực hiện Hiệp định sẽ tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư Các cam kết rộng và sâu về đầu tư của Hiệp định sẽ giúp Việt Nam tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư EU kinh doanh tại Việt Nam Mặt khác, các cam kết về thuận lợi hóa đầu

tư cùng với mức độ tự do hóa các ngành dịch vụ của Việt Nam dành cho các nhà cung cấp dịch vụ của EU tăng lên, đặc biệt là dịch vụ môi trường, Điều này sẽ thúc đẩy dòng vốn nước ngoài từ EU vào Việt Nam tăng trong thời gian tới

Thứ năm, tác động thay đổi pháp luật, thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh

Hiệp định EVFTA là cơ hội để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế-pháp luật theo hướng tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động kinh doanh khác, bao gồm các giao dịch xuyên quốc gia, các loại hình dịch vụ cung cấp qua biên giới

1.3.2 Nội dung những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA

Hiệp định EVFTA được ký kết giữa Việt Nam và EU bao gồm ba nội dung chính liên quan đến những cam kết về cạnh tranh, đó là: Điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh, Trợ cấp và các quy định về DN thuộc sở hữu nhà nước, DN được cấp đặc quyền hoặc

ưu tiên, DN độc quyền chỉ định trong Hiệp định EVFTA

1.3.2.1 Điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA

Như các Hiệp định FTA khác, điều khoản xử lý hiệu quả các hành vi phản cạnh tranh cũng là yếu tố then chốt đối với các cam kết liên quan đến cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA Theo đó, nguyên tắc của chính sách này được đề cập đến ở ngay những

điều khoản đầu tiên của chương 10, đó là: “Các Bên công nhận tầm quan trọng của cạnh

tranh không bị làm sai lệch trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa các Bên Các Bên

Trang 31

(i) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: là thỏa thuận giữa các DN, quyết định của

hiệp hội DN và các hành vi phối hợp có mục đích hoặc tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch cạnh tranh Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm sức ép cạnh tranh và khiến thị trường bị một nhóm đối tượng thao túng Về lâu dài, hành vi này sẽ dẫn đến xóa bỏ cạnh tranh, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NTD và gây thiệt hại

cho các DN không tham gia việc thỏa thuận Vì vậy, điểm a Khoản 2 Điều 10.2 Hiệp

định EVFTA đã quy định về việc hạn chế các thỏa thuận cạnh tranh, đó là:

“2 Trong phạm vi lãnh thổ tương ứng của mỗi Bên, pháp luật cạnh tranh phải

xử lý một cách hiệu quả:

(a) thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và các hành vi phối hợp có mục đích hoặc tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch cạnh tranh;”

(ii) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của một hoặc nhiều

DN Trong bản gốc, Hiệp định EVFTA có sử dụng thuật ngữ “Dominant” trong Điểm b

Khoản 2 Điều 10.2 và theo bản dịch tiếng việt Hiệp định EVFTA11 của Trung tâm WTO,

“dominant” có nghĩa là “thống lĩnh” của DN Tuy nhiên, “dominant” theo từ điển Anh

- Việt có nghĩa là “thống trị, có ưu thế hơn, và có ảnh hưởng lớn và chi phối” Vì vậy,

có thể thấy, bản dịch này chưa thể hiện đầy đủ và toàn bộ ý nghĩa của “dominant” và khi áp dụng vào Việt Nam, chúng ta nên hiểu “dominant” có nghĩa là cả “thống lĩnh” và

“độc quyền” EVFTA - Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Châu Âu cũng

đã có quy định về hành vi lạm dụng VTTLTT, vị trí độc quyền tại điểm b khoản 2 Điều

10.2 theo đó trong phạm vi lãnh thổ của mình, PLCT mỗi bên phải xử lý một cách hiệu

quả các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của một hoặc nhiều DN Tuy nhiên, cần lưu ý, CSCT của EU không ngăn cấm việc có vị trí thống lĩnh của các DN

mà chỉ ngăn cản việc lạm dụng vị trí thống lĩnh gây cản trở đến cạnh tranh hiệu quả, ví

11 https://trungtamwto.vn/file/19731/chuong-10-evfta.pdf

Trang 32

lực giữa các DN cũng là một trong những hành vi gây tác động rất lớn đến thị trường

CTLM của thị trường Hành vi này được quy định tại Điểm b khoản 2 Điêu 10.2 Hiệp

định EVFTA, theo đó, hành vi tập trung quyền lực giữa các DN gây cản trở đáng kể đến

cạnh tranh hiệu quả cũng bị yêu cầu bởi PLCT của mỗi bên trong phạm vi lãnh thổ của mình

1.3.2.1.2 Những cam kết về tổ chức thực hiện liên quan đến hành vi phản cạnh tranh

(i) Tự chủ trong xây dựng và thực thi luật cạnh tranh của mình: Về quyền

tự chủ trong xây dựng và thi hành PLCT, Khoản 1 Điều 10.3 Hiệp định EVFTA có yêu

cầu mỗi Bên tham gia ký kết Hiệp định phải duy trì quyền tự chủ trong xây dựng và thực thi LCT của mình Việt Nam và các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu được quy định phải thông qua hoặc duy trì LCT quốc gia mình nhằm nghiêm cấm các hành vi kinh doanh phản cạnh tranh và nỗ lực áp dụng các luật này cho tất cả các hoạt động thương mại trên lãnh thổ của họ Hiệp định EVFTA yêu cầu các văn bản pháp lý về cạnh tranh của các nước thành viên phải quy định nghiêm cấm các hành vi cấu kết có hệ quả làm sai lệch hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường CTLM, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và phúc lợi NTD

(ii) Cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh

Theo Khoản 2 Điều 10.3 Hiệp định EVFTA, mỗi Bên phải duy trì các cơ quan

chịu trách nhiệm áp dụng đầy đủ và thực thi có hiệu quả PLCT, và đảm bảo rằng các cơ quan được trang bị phù hợp và có quyền hạn cần thiết để thực hiện trách nhiệm của mình Đồng thời, Hiệp định này cũng nhấn mạnh vào sự hợp tác và phối hợp giữa các

cơ quan quản lý cạnh tranh của các bên về thực thi quy chế cạnh tranh Cam kết phối hợp bao gồm việc trao đổi các thông tin không bí mật và/hoặc công khai giữa các bên

và nghĩa vụ thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh của bên kia về các hoạt động thực thi Ngoài ra, EVFTA cũng yêu cầu sự hợp tác trong trường hợp cơ quan quản lý cạnh tranh của một bên yêu cầu sự trợ giúp của bên kia trong việc xử lý các hành vi chống cạnh tranh Điều này có thể liên quan đến việc trao đổi thông tin để cơ quan quản lý

Trang 33

25

cạnh tranh lập hồ sơ, hoặc cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia có thể yêu cầu cơ quan ở quốc gia khác có hành động cưỡng chế đối với một DN có hành vi phản cạnh tranh làm ảnh hưởng tiêu cực đến DN của nước kia

(iii) Đối tượng áp dụng Pháp luật cạnh tranh: Một trong những nguyên tắc

đóng vai trò nền tảng trong Hiệp định EVFTA đó là nguyên tắc không phân biệt đối xử

và xử lý công bằng giữa cả DNNN và DN tư nhân Nguyên tắc này được quy định rõ

trong khoản 3, 4 Điều 10.3 của Hiệp định này:

“3 Tất cả các doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước đều là đối

tượng của luật cạnh tranh theo Điều 10.2 (Khuôn khổ pháp lý)

4 Mỗi Bên phải áp dụng pháp luật cạnh tranh một cách minh bạch và không phân biệt đối xử đối với cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, tôn trọng các nguyên tắc công bằng trong tố tụng và quyền được bảo vệ của doanh nghiệp liên quan.”

(iv) Các nguyên tắc trong tố tụng cạnh tranh: Cũng theo Khoản 4 Điều 10.3 Hiệp định EVFTA yêu cầu mỗi bên ký kết phải tôn trọng các nguyên tắc công bằng, bình đẳng

giữa các đối tượng liên quan và quyền được bảo vệ của các DN liên quan Ngoài ra, khi

tranh chấp phát sinh, Điều 10.13 của Hiệp định EVFTA cũng quy định rõ ràng rằng,

không bên nào được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo Hiệp định này đối với bất kỳ vấn đề nào phát sinh tại Mục A (Hành vi phản cạnh tranh) và Điều 10.8 của Chương

này

(v) Miễn trừ trong Luật Cạnh tranh: Trong một số trường hợp, các hành vi phản

cạnh tranh nếu mang lại lợi ích cho NTD, tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, tăng cường sức mạnh của cạnh tranh của DN, thì có thể được hưởng miễn trừ Đồng

thời, để đảm bảo các nhiệm vụ công ích cụ thể của DN, Khoản 5 Điều 10.3 Hiệp định

EVFTA quy định các miễn trừ áp dụng PLCT của một Bên phải được giới hạn trong

phạm vi nhiệm vụ công ích đó, phải tương ứng với mục tiêu chính sách công tương ứng

và phải minh bạch

1.3.2.2 Trợ cấp trong Hiệp định EVFTA

Việt Nam và Liên minh châu Âu thống nhất rằng các Bên đều có quyền trợ cấp

để thực hiện mục tiêu chính sách công khi cần thiết Tuy nhiên, một số dạng trợ cấp nhất định có thể có tác động đến sự vận hành đúng đắn của thị trường và làm suy giảm lợi ích của quá trình tự do hóa thương mại Vì vậy, hai Bên đã thống nhất một số nguyên

Trang 34

26

tắc khi đưa ra các chính sách và chương trình trợ cấp trên cơ sở tương thích với các nguyên tắc của WTO, tương tự các Hiệp định FTA khác của hai Bên và đảm bảo phù hợp với trình độ phát triển khác nhau của mỗi Bên Cụ thể như sau:

(i) Các Bên phải đảm bảo rằng các DN khi nhận được trợ cấp để thực hiện một mục tiêu chính sách công thì cần phải sử dụng đúng mục đích khoản trợ cấp đó

(ii) Các Bên có nghĩa vụ đảm bảo tính minh bạch khi cung cấp các khoản trợ cấp dành riêng cho DN khi khoản trợ cấp đó có giá trị vượt quá ngưỡng quy đổi tương đương

10 tỷ VNĐ trong khoảng thời gian 3 năm Lưu ý rằng không phải bất kỳ khoản hỗ trợ nào của nhà nước dành cho DN cũng là trợ cấp dành riêng thuộc đối tượng điều chỉnh của Hiệp định này

(iii) Các Bên cũng cam kết khi trợ cấp cho một DN dưới hình thức xử lý nợ hoặc

hỗ trợ DN gặp khó khăn thì sẽ có những giới hạn và điều kiện để DN có trách nhiệm trong việc nhận được hỗ trợ và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai Bên

(iv) Ngoài ra, Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng thiết lập một cơ chế tham vấn để nỗ lực cùng nhau đối thoại hoặc xử lý khi có quan ngại về tác động bất lợi của trợ cấp dành riêng tới quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai Bên Hai Bên cũng sẽ tăng cường hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát hiệu quả sử dụng trợ cấp

Các quy định về trợ cấp nói trên được quy định trong chương về CSCT, tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, CSCT của mỗi quốc gia đều rất rộng và PLCT chỉ là một phần nhỏ trong chính sách này Trong LCT Việt Nam hiện hành, cụ thể là LCT năm 2018 cũng không có quy định về vấn đề này Vì vậy, tác giả sẽ không nghiên cứu và đưa ra đánh giá những cam kết về trợ cấp trong Hiệp định EVFTA

1.3.2.3 Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp được cấp đặc quyền hoặc ưu tiên, doanh nghiệp độc quyền chỉ định trong Hiệp định EVFTA

Chương 11 của Hiệp định EVFTA có quy định về ba nhóm DN đặc biệt chịu sự điều chỉnh, đó là: (i) Doanh nghiệp nhà nước, (ii) Doanh nghiệp được cấp đặc quyền hoặc ưu tiên đặc biệt, (iii) Doanh nghiệp độc quyền chỉ định

Hiệp định EVFTA cũng quy định ba nhóm tiêu chí để xác định một DNNN hoặc các hoạt động của một DNNN có thuộc diện điều chỉnh của Chương 11 Hiệp định này hay không, gồm: (i) Tiêu chí về nguồn gốc vốn sở hữu hoặc phạm vi quyền; (ii) Tiêu chí về lĩnh vực hoạt động; (iii) Tiêu chí về quy mô doanh thu

Trang 35

27

Theo đó, một DNNN hoặc phần hoạt động của DNNN chỉ bắt buộc phải tuân thủ cam kết tại Chương 11 EVFTA khi đáp ứng đồng thời cả ba tiêu chí này Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp thuộc ba nhóm nêu trên đều sẽ thuộc diện điều chỉnh

và phải tuân thủ các cam kết trong Hiệp định EVFTA, theo đó, EVFTA có quy định giới hạn cụ thể về phạm vi các DNNN thuộc diện điều chỉnh, bao gồm:

- Giới hạn DNNN áp dụng chung cho tất cả các Bên trong Hiệp định (Việt Nam,

EU và các nước thành viên EU)

- Cả ngoại lê chung cho cả Việt Nam và EU về trường hợp DNNN hoặc hoạt động của DNNN không thuộc diện điều chỉnh của Chương 11 Hiệp định EVFTA

- Các ngoại lệ riêng về một số DNNN nhất định (chủ yếu là ngoại lệ riêng cho Việt Nam)

Mặt khác, căn cứ theo Khoản 1 Điều 28 LCT năm 2018 quy định về kiểm soát

DN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm soát hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp: (i) Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước (ii) Quyết định số lượng, khối lượng, phạm vi thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước, ((iii) Định hướng, tổ chức các thị trường liên quan đến hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật

có liên quan

Như vậy, có thể thấy việc kiểm soát các DN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước (hay chính là độc quyền trong pháp luật DN) được thực hiện bằng những biện pháp đặc biệt Hay nói cách khác, DN độc quyền Nhà nước, DN thuộc sở hữu nhà nước,

DN được cấp đặc quyền hoặc ưu tiên, DN độc quyền chỉ định trong Hiệp định EVFTA

sẽ không chịu sử điều chỉnh của LCT mà sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật chuyên ngành quy định trực tiếp các lĩnh vực độc quyền Do đó, trong pham vi khóa luận của mình, tác giả sẽ không tiến hành nghiên cứu và hay đưa ra đánh giá về vấn đề này

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trang 36

28

Chương 1 đã giải quyết được một số vấn đề sau:

Thứ nhất, làm rõ các vấn đề cơ bản về khái niệm cạnh tranh, chính sách và PLCT;

trong đó đã phân tích các quan điểm nhận thức khác nhau về cạnh tranh trong khoa học kinh tế và trong khoa học pháp lý hiện nay Trên cơ sở đó, thấy được tầm quan trọng và vai trò của chính sách và PLCT đối với việc đảm bảo một môi trường CTLM, minh bạch

và hiệu quả cho các DN kinh doanh trên thị trường

Thứ hai, giới thiệu khái quát về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và

Liên minh Châu Âu Hiệp định thương mại tự do EVFTA là một hiệp định thế hệ mới với nhiều cam kết cao hơn quy định của WTO về mở cửa thị trường, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, phát triển bền vững, giải quyết tranh chấp EU đã dành cho Việt Nam một số ưu đãi trong việc thực hiện EVFTA; đây vừa là thiện chí của EU, vừa thể hiện quan hệ tốt đẹp giữa hai bên

Thứ ba, trong chương này, tác giả cũng chỉ ra các tác động của hiệp định EVFTA

đến Việt Nam, bao gồm tác động về thương mại, tăng trưởng kinh tế, ngân sách nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động thay đổi pháp luật, thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt là những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định Và cuối cùng, Chương 1 đưa ra ba nội dung chính liên quan đến những cam kết về cạnh

tranh Hiệp định EVFTA được ký kết giữa Việt Nam và EU, đó là: Điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh, Trợ cấp và các quy định về DN thuộc sở hữu nhà nước, DN được cấp đặc quyền hoặc ưu tiên, DN độc quyền chỉ định trong Hiệp định EVFTA Tuy nhiên, trên cơ sở pháp luật và phạm vi của khóa luận, tác giả chỉ tập trung phân tích và đưa ra đánh giá về nội dung đầu tiên, bao gồm những những cam kết liên quan đến điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh và những cam kết tổ chức thực hiện liên quan đến hành vi phản cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA

Trang 37

29

Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam - EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU Về mặt chiến lược, việc đàm phán và thực thi các Hiệp định này cũng gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định

CSCT trong EVFTA là một trong những chính sách quan trọng nhất và tác động lớn đến thị trường cũng như các DN của Việt Nam ngay sau khi hiệp định này được ký kết Về mặt tổng quan, PLCT hiện hành đã tương thích khá đầy đủ những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định này Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn chưa tương thích, những khó khăn, vướng mắc, thiếu cụ thể trong quy định pháp luật, sự thiếu hợp lý và tính độc lập, minh bạch chưa cao khiến cho việc áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý cạnh tranh đối với các vụ việc cụ thể còn nhiều lúng túng:

2.1 Đánh giá quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam về hành vi phản cạnh tranh

so với những cam kết trong Hiệp định EVFTA

Có thể nói, PLCT của Việt Nam hiện hành đã đáp ứng tương đối đầy đủ đòi hỏi của những nguyên tắc trong cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA, không có

sự phân biệt đối xử giữa các DN có quốc tịch khác nhau, tính minh bạch cũng đã được luật quy định ở mức độ nhất định, không có sự đối xử khác biệt giữa DN quốc tịch khác nhau hay các hình thức sở hữu của DN trong thủ tục tố tụng Ngoài ra, PLCT Việt Nam hiện hành cũng đưa ra những quy định khá chặt chẽ và nghiêm ngặt đối với các hành vi phản cạnh tranh, cụ thể là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng VTTLTT, hành lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung quyền lực giữa các DN gây cản trở đáng kể đến cạnh tranh hiệu quả Điều này thể hiện ở các khía cạnh sau:

2.1.1 Quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Có thể thấy các quy định sửa đổi về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong LCT năm 2018 đã phù hợp với xu hướng của LCT ở các nước phát triển trên thế giới nói

chung cũng như tương thích và tuân thủ Điểm a khoản 2 Điều 10 Hiệp định EVFTA nói riêng Cụ thể là: “Thỏa thuận giữa các DN, quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và

các hành vi phối hợp có mục đích hoặc tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch cạnh tranh”

Ngày đăng: 27/04/2022, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế - So sánh pháp luật Cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh nghiệm quốc tế - So sánh pháp luật Cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2017
3. Cục Quản lý cạnh tranh (2012), Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, Cục Quản lý cạnh tranh phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Năm: 2012
4. Đinh Đức Minh (2012), “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Đức Minh
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Trâm (2020), “Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (số 1/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Trâm
Năm: 2020
8. Nguyễn Việt Hùng (2020), Những khía cạnh pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động – thực tiễn và một số kiến nghị, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khía cạnh pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lao động – thực tiễn và một số kiến nghị
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2020
9. OECD (2018), “Đánh giá của OECD về Luật và Chính sách Cạnh tranh”, http://oe.cd/vtn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá của OECD về Luật và Chính sách Cạnh tranh
Tác giả: OECD
Năm: 2018
10. Phạm Phương Thảo (2013), Tăng cường năng lực thực thi pháp luật hạn chế cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực thực thi pháp luật hạn chế cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh Việt Nam
Tác giả: Phạm Phương Thảo
Năm: 2013
11. Phạm Phương Thảo (2021), Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Phương Thảo
Năm: 2021
12. Trần Đức Tuấn (2016), “Hạn chế, bất cập của pháp luật về cạnh tranh và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học (số 3/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế, bất cập của pháp luật về cạnh tranh và phương hướng hoàn thiện”," Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Đức Tuấn
Năm: 2016
13. Trần Thăng Long (2014), “Hành vi hạn chế cạnh tranh của các hiệp hội ngành nghề”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam (số 01(80)/2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi hạn chế cạnh tranh của các hiệp hội ngành nghề”," Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam
Tác giả: Trần Thăng Long
Năm: 2014
14. Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Cạnh Tranh, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh Tranh
Tác giả: Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
15. Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Cạnh Tranh, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh Tranh
Tác giả: Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu khoa học cấp Trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2018
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh tranh
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2020
18. Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2020
19. Văn phòng Quốc Hội (2016), “Thực tiễn và thách thức trong chuyển hóa pháp luật tại Việt Nam: chia sẻ kinh nghiệm của liên minh Châu Âu”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn và thách thức trong chuyển hóa pháp luật tại Việt Nam: chia sẻ kinh nghiệm của liên minh Châu Âu
Tác giả: Văn phòng Quốc Hội
Năm: 2016
20. Viện Ngôn ngữ học – Gs. Hoàng Phê (Chủ biên) (2018), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học – Gs. Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2018
2. Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004 Khác
3. Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2018 Khác
4. Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ban hành ngày 26 tháng 09 năm 2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w