2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN HỌC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐỀ TÀI ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hồ Chí Minh, Tháng 42022 LỜI MỞ ĐẦU Hôn nhân là nền tảng của gia đình, mà gia đình lại chính là tế bào của xã hội Vì có mối liên quan mật thiết với nhau nên “hôn nhân, “gia đình” và “xã hội” trong từng thời kỳ xây dựng, củng cố phát triển của đất nước ta luôn nhận được sự.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
\
MÔN HỌC: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
ĐỀ TÀI: ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2014 Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hồ Chí Minh, Tháng 4/2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân là nền tảng của gia đình, mà gia đình lại chính là tế bàocủa xã hội Vì có mối liên quan mật thiết với nhau nên “hôn nhân, “giađình” và “xã hội” trong từng thời kỳ xây dựng, củng cố phát triển củađất nước ta luôn nhận được sự chú trọng, quan tâm của Đảng và Nhànước lãnh đạo thông qua cách đề ra những chủ trương đường lối, chínhsách nhằm góp phần vào việc quản lý xã hội
Để gia đình được hình thành giữa nam và nữ thì sự kiện xảy ra để
mở đầu cho sự hình thành đó chính là kết hôn Trước khi có sự xuất hiệncủa Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000, nam nữ chỉ cần chung sốngnhư vợ chồng thì đã được công nhận là vợ chồng Nam nữ chỉ cần tổchức lễ cưới theo phong tục hoặc theo nghi thức tôn giáo thì họ đượcxem như đã kết hôn Nhưng từ khi có sự xuất hiện của Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 và sau đó là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thìviệc kết hôn của nam nữ phải được đăng ký tại cơ quan đơn vị chứcnăng có thẩm quyền của nhà nước thì mới thật sự được pháp luật côngnhận và bảo vệ Có thể nói Luật Hôn nhân và gia đình là công cụ để Nhànước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội
Thật hiển nhiên, kết hôn được xem là quyền thiêng liêng và tất yếucủa cuộc đời mỗi cá nhân và điều đó đã được quy định tại điều 36 Hiếnpháp năm 2013 Kết hôn luôn dựa trên tinh thần tự nguyện và bình đẳnggiữa đôi bên, nhưng nam nữ muốn kết hôn và được pháp luật Việt Namcông nhận, bảo vệ thì đôi bên phải cam kết đảm bảo đáp ứng đượcnhững điều kiện kết hôn do Luật Hôn nhân và gia đình quy định Nhữngquy định pháp luật về điều kiện kết hôn được đánh giá là một yếu tố
Trang 3quan trọng cần được quan tâm và sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp vàlinh hoạt, mang tính chất bao quát và ứng dụng cao đối với những biếnđộng trong xã hội ngày nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chỉ
rõ các điều kiện để mối quan hệ hôn nhân được Nhà nước và pháp luậtcông nhận, nhưng không phải ai trong chúng ta cũng đều thật sự hiểu rõ
và tuân thủ đúng những điều kiện đã được quy định này Chính vì lý do
đó mà nhóm chúng em lựa chọn phân tích đề tài “Điều kiện kết hôntheo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014” Do kiến thức và sự hiểu biếtcủa chúng em về mảng luật pháp và các quy định, văn bản có liên quancòn hạn hẹp nên trong bài làm vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, chúng
em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy để phần bài làm cũng như kiếnthức của chúng em được củng cố hoàn thiện hơn
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy!
Trang 4CHƯƠNG I Khái niệm điều kiện kết hôn
Có thể nói chức năng quan trọng nhất của gia đình để duy trì xã hộiloài người là chức năng tái sản xuất ra con người Sự xác định của hệthống hôn nhân giữa hai người là khởi nguồn của gia đình, được nhànước tôn trọng và bảo vệ Xem xét về mặt lý luận, nếu nền tảng của xãhội là gia đình, và để xây dựng nền tảng này thì điều kiện kết hợp là yếu
tố pháp lý Điều kiện kết hôn là những đòi hỏi do pháp luật quy định vàchỉ khi thỏa những đòi hỏi đó thì hai người mới được phép kết hôn vớinhau Hơn hết, việc đưa ra những đòi hỏi như vậy phải được tổng hợp vàthống nhất và được đưa ra từ kho tàng tri thức của nhiều ngành như tâm
lý học, xã hội học, những điều kiện được đưa ra trong luật, cũng đượctác động truyền thống, nét văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc Tuynhiên, trên thực tế, khi có những thay đổi nhất định về xã hội, về tưtưởng của con người, mà khi đó những quy định kết hợp điều kiện cần cónhững thay đổi hợp lý để phù hợp với tình hình trước mắt Các quy địnhcũng như các điều kiện đưa ra cũng góp phần hạn chế các phong tục tậpquán cổ hữu, các loại tệ nạn như tảo hôn, để từ đó tạo ra được mộtnguồn nhân lực chất lượng cũng như là vì sự phát triển lâu dài của nhânloại
Nói chung, việc đưa ra những đòi hỏi khi kết hôn là hết sức cầnthiết, nhưng phải phù hợp với tình hình, đáp ứng những cần thiết của xãhội, phù hợp với đường lối và hướng phát triển của Đảng
CHƯƠNG II Điều kiện kết hôn
1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn:
Trang 5Tuổi kết hôn được hiểu là tuổi mà một người được phép lấychồng/vợ cũng như
quyền làm hoặc buộc phải làm cha mẹ hoặc các hình thức đồngthuận khác
Luật hôn nhân và gia đình quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ
đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn Theo quy định này thì "Nam từhai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên" Theo quy định này thìkhông bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mườitám tuổi trở lên mới được kết hôn; Do đó, nam đã bước sang tuổi haimươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điềukiện về tuổi kết hôn (theo mục 1 điểm a Nghị quyết số 02/2000/NQ -HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn ápdụng một số quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2000).Chẳng hạnnhư chị C sinh ngày 29/05/1995 thì sẽ tròn 17 tuổi vào ngày 29/05/2012,bắt đầu từ sau ngày 29/05/2012 chị C chính thức bước sang tuổi 18, nếulúc này chị C kết hôn thì không bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn vàngược lại
Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, đảm bảo giốngnòi phát triển, thế hệ sau sinh ra khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ màpháp luật ban hành ra quy định về độ tuổi kết hôn Ngoài ra, việc quyđịnh này còn thể hiện được việc không phân biệt giữa các dân tộc, nhằmtránh việc tảo hôn, loại bỏ tập quán lấy vợ, chồng sớm ở các đồng bàodân tộc thiểu số Từ đó, hai bên nam, nữ đủ điều kiện về sức khoẻ vàkhả năng để chăm lo cuộc sống gia đình góp phần xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc vững vàng
Trang 6Khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì con người mới có suy nghĩthật sự nghiêm túc và đúng đắn trong việc kết hôn của mình, hơn nữa làkhả năng tạo ra thu nhập từ việc tham gia vào quá trình lao động Điềunày đảm bảo cuộc sống của họ có thể độc lập về kinh tế, tâm lý vữngvàng, đầy đủ ý thức xã hội để thực hiện các chức năng của gia đình vàduy trì tế bào của xã hội Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền về
hộ tịch cấp là cơ sở để xác định tuổi kết hôn
2 Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ trong kết hôn:
“Theo từ điển tiếng Việt, "Tự nguyện" là tự mình muốn làm hoặc domình muốn như thế, không ai có thể bắt buộc được Tự nguyện kết hôn
là việc hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn được thể hiệnthông qua sự đồng ý trở thành vợ chồng của hai bên mà không bị tácđộng của bất kỳ người nào.” – Theo trang web https://luatminhkhue.vn/
Để bảo đảm việc hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc tựnguyện thì nam, nữ khi đến độ tuổi kết hôn có quyền bày tỏ ý chí củamình trong việc chọn người “bạn đời”, phải xuất phát từ tình yêu thươnggiữa họ và nhằm mục đích cùng nhau xây dựng một gia đình ấm no,hạnh phúc là cơ sở cho cuộc hôn nhân của họ được lâu dài, hạnh phúc,bền vững
Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ là nguyên tắc cơ bản của Luật hônnhân và gia đình được thể hiện ở việc cùng nhau đi đăng ký kết hôn và ýchí nhận thức của một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trongtình trạng hoàn toàn tỉnh táo Do đó, đối với những người bị mắc bệnhtâm thần hoặc một bệnh lý nào đó không có khả năng nhận thức, điềukhiển hành vi của mình và bị tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi
Trang 7dân sự thì pháp luật cũng cấm kết hôn Trong trường hợp người có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự nhưng bị chấn động về thần kinh hoặc đangtrong tình trạng say rượu, bia thì họ cũng tạm thời không được đăng kýkết hôn cho đến khi hồi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo
Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì pháp luật cũng
có một số quy định như sau:
Thứ nhất, những người muốn kết hôn phải cùng có mặt nộp tờ khaiđăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn Trong trường hợp bất khả kháng,nếu một người vắng mặt có lý do chính đáng thì có thể gửi cho UBNDnơi đăng ký kết hôn đơn in nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn nêu rõ lý dovắng mặt, có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú Đến ngày UBND tiếnhành đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì đôi nam nữđều phải có mặt để cả hai trả lời trước cán bộ hộ tịch và đại diện cơquan đăng ký kết hôn ràng, lúc đó họ phải hoàn toàn tự nguyện kết hônvới nhau
Thứ hai, việc đăng ký kết hôn là quan hệ nhân thân làm phát sinhquyền và nghĩa vụ pháp lý mà chỉ có các chủ thể trong quan hệ đó mớiđược quyền quyết định có xác lập quan hệ đó hay không, nên khi xáclập quan hệ hôn nhân cả hai phía nam và nữ phải trực tiếp có mặt tại cơquan đăng ký kết hôn để bày tỏ ý muốn tự nguyện kết hôn của mình vàkhông thể uỷ quyền cho bất kì người nào khác nhân danh mình quyếtđịnh thay Lễ đăng ký kết hôn của các công dân Việt Nam với nhau sẽđược tiến hành tại UBND cấp xã Nhưng đối với khu vực miền núi, vùngsâu, vùng xa có điều kiện đi lại quá khó khăn thì lễ đăng ký kết hônđược tổ chức tại thôn, bản, phum, sóc hoặc nơi cư trú của một trong hai
Trang 8người ( điều 8 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chínhphủ quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với dân tộcthiểu số) Trong thực tế, có những trường hợp vì lý do khách quan haychủ quan khi tổ chức đăng ký kết hôn mà chỉ có một bên nam hoặc nữthì việc kết hôn vẫn được công nhận là hợp pháp nếu: " trước khi tổ chứcđăng ký kết hôn, cả hai bên đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 điều
13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ thực sự về chung sống vớinhau" ( Theo mục 2 điểm c Nghị quyết số 02/20002/NĐ-HĐTP)
Thứ ba, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 5 Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 cấm “cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn"những trường hợp kết hôn do cưỡng ép, bị lừa dối sẽ được coi là kết hôntrái pháp luật Theo điều 146 BLHS quy định về Tội cưỡng ép kết hônhoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ như sau: "Người nào cưỡng épngười khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kếthôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành
hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạnkhác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bịphạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ batháng đến ba năm.".Qua đó, nhà nước sẽ chế tài hình sự đối với nhữnghành vi vi phạm sự tự nguyện tiến bộ nhằm đảm bảo sự tự nguyện trongviệc kết hôn của công dân
3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại điều 10 Luật hôn nhân và gia đình:
Điều kiện tiên quyết để có thể đăng ký kết hôn là nam và nữ phảiđảm bảo không thuộc một trong các trường hợp không được phép kết
Trang 9hôn được liệt kê theo quy định của pháp luật nhà nước Pháp luật quyđịnh có 08 trường hợp bị cấm kết hôn, được nêu rõ tại Điều 5 của LuậtHôn nhân và Gia đình.
* Kết hôn giả tạo:
Theo khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình, kết hôn giả tạo
là việc lợi dụng kết hôn để xuất, cảnh nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịchViệt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc
để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình
Hiện nay một số cặp vợ chồng trước khi kết hôn đã đặt ra một hợpđồng hôn nhân, vậy những điều khoản trong hợp đồng như thế nào, liênquan đến những gì thì sẽ không bị xem là trái pháp luật và kết hôn giảtạo?
Trước nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về hợp đồnghôn nhân là gì nhưng Luật Hôn nhân và Gia đình đã đề cập đến thỏathuận về tài sản của vợ, chồng trước khi kết hôn Đây có thể coi là mộttrong các hình thức của hợp đồng hôn nhân hiện nay Và những điềukhoản trong hợp đồng phải vì mục đích xây dựng gia đình, nếu khôngcặp đôi lập ra bản hợp đồng hôn nhân ấy sẽ xem như kết hôn giả tạo,kết hôn vì mục đích khác ngoài mục đích xây dựng gia đình và sẽ bịpháp luật xử lý nghiêm khắc
Những điều khoản trong hợp đồng chỉ có thể liên quan đến vấn đềtài sản chung và riêng của cặp đôi dự định sẽ kết hôn Việc phân chia tàisản chung và riêng của vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi ngườiđối với các khối tài sản này; điều kiện, thủ tục phân chia tài sản khi lyhôn Ngoài những hợp đồng hay còn gọi là thỏa thuận về chế độ tài sản
Trang 10của vợ chồng thì những thỏa thuận khác đều không được pháp luật quyđịnh.
Như vậy, có thể thấy chỉ có thỏa thuận về tài sản của vợ chồng làđược pháp luật công nhận còn các trường hợp lập hợp đồng hôn nhânkhác đều chưa được pháp luật quy định và nếu giữa vợ chồng có nhữngbản hợp đồng hay thỏa thuận không liên quan đến tài sản sản thì đều cóthể bị coi là kết hôn giả tạo Khi đó, quan hệ hôn nhân sẽ không đượcNhà nước công nhận Các cặp vợ chồng có thể lập hợp đồng hôn nhânnhưng chỉ dùng để thỏa thuận về vấn đề tài sản của vợ, chồng màkhông đề cập đến các vấn đề khác
* Cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn:
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình, cưỡng ép kết hônđược quy định như sau: là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ ngượcđãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác buộc người khác phải kết hôn
Trang 11trái ý muốn của họ Đồng thời một trong những điều kiện quan trọng vàtiên quyết để nam, nữ được phép kết hôn là “việc kết hôn do nam, nữ tựnguyện quyết định” – “theo điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và giađình”.
Chính vì thế, có thể nói hành vi ép buộc, cưỡng chế người khác kếthôn trong trường hợp trái với ý muốn của họ là vi phạm về nguyên tắc
tự nguyện trong kết hôn đã được pháp luật bảo vệ
Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam có hủ tục gọi là “bắt vợ”, đâyđược xem là nét truyền thống văn hóa lâu đời của một vài dân tộc miềnnúi cao, hiện nay theo điều tra đã có nhiều biến tướng của hủ tục nóitrên dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật đáng lên án Nhiều người lợidụng hủ tục này để bắt ép các cô gái ở vùng núi cao phải đồng ý kếthôn với mình Thậm chí, có nhiều bé gái chưa đủ 18 tuổi cũng là nạnnhân xấu số của hủ tục lạc hậu và đáng phê phán này, nó không chỉ viphạm pháp luật mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người
và sự phát triển tâm sinh lý về sau của nạn nhân Những hành vi này làtrái với pháp luật và các trường hợp như thế quan hệ hôn nhân sẽ khôngđược pháp luật công nhận, thậm chí pháp luật sẽ thẳng tay trừng trịnhững người có hành vi bắt buộc, cưỡng ép người khác kết hôn với mình
* Cản trở kết hôn:
Khoản 10 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình định nghĩa hành vi cảntrở kết hôn là những việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi,yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người
có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này
* Kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng:
Trang 12Việc kết hôn với người đang có vợ hoặc đang có chồng hay còn gọi
là hành vi ngoại tình với người đang có vợ hoặc đang có chồng gồm cáctrường hợp sau đây:
+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác
+ Người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người mà mìnhbiết rõ đang có chồng, có vợ
Đây không chỉ là hành vi vi phạm đạo đức mà ở một mức độ nào
đó, hành vi này còn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu tráchnhiệm hình sự
Hệ thống pháp luật nước ta quy định khi kết hôn nam nữ phải tuântheo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Những người được quyềnkết hôn phải là những người chưa có vợ có chồng hoặc đã có vợ/chồngnhưng vợ/chồng chết hay vợ chồng đã ly hôn Pháp luật cấm nhữngngười đang có vợ/chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác nhằm xóa bỏ chế độ đa thê dưới thời đại phong kiến Hônnhân một vợ một chồng lấy tình yêu giữa nam và nữ làm cơ sở xác lậphôn nhân và lấy tình yêu làm cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân Tuy nhiênđối với những trường hợp nam nữ lấy nhau nhưng không đăng ký kếthôn và chung sống với nhau trong quan hệ vợ chồng trên thực tế trướckhi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực thì vẫn được Nhànước thừa nhận Ngoài ra người đang có vợ, có chồng còn bao gồm cảnhững người đã sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày3/1/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
“Hiện nay vẫn còn tồn tại một số trường hợp một chồng hai vợhoặc một vợ hai chồng Đó là trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có
Trang 13vợ, có chồng ở miền Nam nhưng khi tập kết ra Bắc lại lấy vợ, lấy chồngkhác Nhà nước đặc biệt quan tâm tới vấn đề này và coi đây là hậu quảchiến tranh, những trường hợp này theo nhà nước là cần được bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, đặc biệt là đối với phụ nữ
và con Trên tinh thần đó Tòa án nhân dân tối cao đã ra thông tư số 60/
DS ngày 22/2/1978 hướng dẫn các tòa án địa phương khi giải quyết các
vụ việc liên quan Do đó, tuy vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, mộtchồng nhưng không bị coi là kết hôn trái pháp luật.” – Theo tranghttps://luatvietnam.vn/
* Trường hợp những người không được kết hôn với nhau:
Không chỉ kết hôn với người đang có vợ hoặc đang có chồng màLuật Hôn nhân và gia đình còn cấm kết hôn giữa những người có cácmối quan hệ sau đây:
+ Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ: Là những người cóquan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau(theo khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình)
+ Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời: Là những ngườicùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha
mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, emcon chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba – “theo khoản 18Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình” Nguyên nhân pháp luật đưa vào quyđịnh cấm này bởi nó gây ra và để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng chothế hệ trẻ em của đất nước ngày sau Đó không chỉ là kết quả củanhững cuộc hôn nhân trực hệ nói riêng mà còn dẫn đến những ảnhhưởng xấu đối với truyền thống văn hóa và hình ảnh đất nước, tăng