1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên

65 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 812,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1.MỞ ĐẦU (10)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (10)
    • 1.2. Mục tiêu của đề tài (11)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (11)
      • 1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học (11)
      • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn (12)
    • 1.4. Đóng góp mới của đề tài (12)
    • 1.5. Bố cục của đề tài (12)
  • Phần 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN (13)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (13)
      • 2.1.1. Các khái niệm cơ bản (13)
      • 2.1.2. Đặc điểm của liên kết trong sản xuất nông nghiệp (14)
      • 2.1.3. Vai trò của nhũng liên kết trong sản xuất nông nghiệp (17)
      • 2.1.4. Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ (19)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (25)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm thúc đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp tại một số địa phương (25)
      • 2.2.2. Bài học kinh nghiệm được rút ra để thúc đẩy liên kết hộ nông dân và (30)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (32)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 3.1.2. Nội dung nghiên cứu (32)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 3.2.1. Tiếp cận có sự tham gia (32)
      • 3.2.2. Tiếp cận theo loại hình hộ xác định số mẫu điều tra (33)
      • 3.2.3. Phương pháp thu thập thông tin (33)
      • 3.2.4. Phương pháp xử lý thông tin (33)
      • 3.2.5. Phương pháp phân tích thông tin (33)
    • 3.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích (34)
  • PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (0)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội xã Tức Tranh (36)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (36)
      • 4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (38)
    • 4.2. Thực trạng phát triển sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức (44)
      • 4.2.1. Quy mô và địa điểm sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức Tranh huyện Phú Lương (44)
      • 4.2.2. Đặc điểm chung của hộ nông dân trồng chè hữu cơ (46)
      • 4.2.3. Cơ cấu giống chè của các hộ trồng chè hữu cơ (47)
      • 4.2.4. Mức độ đầu tư thâm canh của hộ cho chè hữu cơ (48)
      • 4.2.5. Kết quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất chè hữu cơ (50)
    • 4.3. Thực trạng liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (52)
      • 4.3.1. Lĩnh vực và hình thức liên kết (53)
      • 4.3.2. Cấu trúc tổ chức trong liên kết (53)
      • 4.3.3. Quy tắc ràng buộc trong liên kết (54)
    • 4.4. Giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (55)
      • 4.4.1. Thực hiện quy hoạch và xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật (55)
      • 4.4.2. Xây dựng và lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất (56)
      • 4.4.3. Có cơ chế hỗ trợ nông dân, cơ sở chế biến trong tổ chức các hoạt động liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ (56)
      • 4.4.4. Nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng và ý thức pháp luật của các chủ thể trong liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản (57)
  • PHẦN 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (0)
    • 5.1. Kết luận (58)
    • 5.2. Kiến nghị (59)

Nội dung

ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Theo thống kê, tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu ở một số địa phương mạnh về nông nghiệp còn thấp, với lúa hàng hóa chỉ đạt 2,1%, cà phê 2,5%, rau màu 2,9%, chè 9%, thủy sản 13% và chế biến gỗ 16,7% Một số mặt hàng như sữa, mía đường và bông có tỷ lệ cao hơn, nhưng các số liệu này chưa phản ánh đầy đủ tính ràng buộc và pháp lý của hợp đồng liên kết Hình thức liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản chủ yếu diễn ra ở những ngành hàng đặc thù, trong khi các mặt hàng dễ tiêu thụ như lúa, rau màu, thủy sản, chè và cà phê thường chỉ có liên kết mang tính hình thức Đáng chú ý, khoảng 90% hợp tác xã nông nghiệp chưa tham gia hoặc ít tham gia vào việc tiêu thụ nông sản.

Xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nổi bật với diện tích chè lớn và đang chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ Hiện tại, xã đã có 40ha chè trồng theo hướng hữu cơ, mang lại lợi ích rõ rệt cho người sản xuất Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn gặp khó khăn trong việc phân biệt chè hữu cơ và chè không hữu cơ Do đó, cần thiết phải cải thiện hình thức tổ chức sản xuất và tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ tiêu thụ, quảng bá và nâng cao giá trị chè hữu cơ tại xã Tức Tranh.

Liên kết giữa các hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất hữu cơ hiện đang gặp nhiều hạn chế, chủ yếu do quy mô sản xuất nhỏ và thiếu sự hài hòa về lợi ích giữa các bên Ngoài ra, việc thiếu cơ chế chính sách đồng bộ và tình trạng vi phạm hợp đồng thường xuyên xảy ra cũng góp phần làm cho liên kết này không bền vững Tại xã Tức Tranh, tình trạng này cũng diễn ra tương tự trong sản xuất chè hữu cơ Do đó, việc đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại đây là rất cần thiết, nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững cho mô hình này.

Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Thực trạng liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Để tăng cường liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cần đề xuất một số giải pháp như: xây dựng các mô hình hợp tác sản xuất, tổ chức các khóa đào tạo về kỹ thuật canh tác chè hữu cơ cho nông dân, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ các ngân hàng, và thiết lập hệ thống tiêu thụ sản phẩm chè hữu cơ ổn định thông qua hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chè tại địa phương.

Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã họcc tại giảng đường vào thực tiễn

- Nâng cao tinh thần học tập, tìm tòi, phát huy khả năng sáng tao, tính tự giác và chủ động trong các hoạt động nghiên cứu của mình

- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phát triển sản xuất chè hữu cớ và liên kết sản xuất tại địa phương

- Kết quả của đề tài hiện nay sẽ giúp bổ sung tài liệu hữu ích cho công tác nghiên cứu và thực hành khoa học

- Nắm bắt được tình hình sản xuất chè và vị trí của cây chè trong phát triển kinh tế tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương

- Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc sản xuất chè hữu cơ và liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp

Đóng góp mới của đề tài

Bài viết đánh giá thực trạng liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Đồng thời, bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác này, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè hữu cơ và phát triển bền vững cho cả nông dân và doanh nghiệp trong khu vực.

Bố cục của đề tài

Phần 2: Cơ sở lý luận và cớ sở thực tiễn

Phần 3: Đối tương, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

+ Khái niệm liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Liên kết trong sản xuất nông nghiệp được giải thích tại khoản 6 Điều

3 Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn như sau:

Liên kết trong sản xuất nông nghiệp hiện nay là hình thức hợp tác giữa các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp Các liên kết này được thiết lập dựa trên hợp đồng và thực hiện trong các khâu sản xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp dịch vụ đầu vào, thu mua sản phẩm, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

+ Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là những gia đình chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, mặc dù họ cũng tham gia vào nhiều hoạt động khác nhưng thường chỉ mang tính phụ Phương thức sản xuất của hộ nông dân chủ yếu dựa vào lao động gia đình, với việc thuê lao động bên ngoài chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Theo FAO, nông dân gia đình bao gồm nhiều nhóm như người dân bản địa, cộng đồng truyền thống, ngư dân, nông dân miền núi và người chăn thả gia súc, đại diện cho đa dạng khu vực và quần xã.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tài sản, tên riêng và trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường (Theo mục 7 điều 1 chương 1 luật doanh nghiệp 2020).

2.1.2 Đặc điểm của liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản hiện nay là các hoạt động kinh tế tự nguyện, tạo ra lợi ích chung cho các bên liên quan Sự liên kết này được thiết lập thông qua các thỏa thuận giữa các chủ thể sản xuất và doanh nghiệp chế biến, nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong quá trình hợp tác Liên kết sản xuất không chỉ là hình thức phối hợp giữa các giai đoạn trong chuỗi giá trị nông sản mà còn liên quan đến các loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau trong ngành nông nghiệp Ngoài ra, liên kết này còn chịu sự chi phối của các thể chế, giúp các bên tham gia đạt được mục tiêu chung trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản.

Thứ nhất, về chủ thể của liên kết

Theo quan niệm về liên kết trong sản xuất nông nghiệp, có ba nhóm chủ thể tham gia vào ba khâu chính: sản xuất, chế biến và tiêu thụ Mỗi nhóm chủ thể có mức độ tổ chức và hình thức liên kết khác nhau, thể hiện sự đan xen giữa các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ Đặc biệt, sự khác biệt về trình độ sản xuất giữa các chủ thể liên kết cũng là yếu tố quan trọng cần lưu ý.

Sự liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng Mặc dù sản xuất nông nghiệp là khởi đầu của chuỗi liên kết, nhưng tổ chức liên kết còn nhiều hạn chế Các nhóm chủ thể trong quá trình này có sự chênh lệch về vai trò, với chế biến và tiêu thụ góp phần tạo ra giá trị cao hơn cho sản phẩm nông sản Do đó, sự chi phối của liên kết chế biến và tiêu thụ trong chuỗi nông sản là rất lớn, có thể tạo ra mức chênh lệch giá trị đáng kể so với giá trị ban đầu.

Liên kết kinh tế giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản là một quá trình tất yếu nhưng gặp nhiều khó khăn Nông dân là chủ thể sản xuất, trong khi doanh nghiệp đảm nhận vai trò chế biến và tiêu thụ Sự chênh lệch lớn trong trình độ tổ chức giữa các chủ thể sản xuất và mối quan hệ với thị trường, đặc biệt là ở vùng miền núi, đang cản trở sự phát triển hiệu quả của ngành nông nghiệp.

Trong chuỗi giá trị nông sản, những người sản xuất thường gặp khó khăn và thiệt thòi hơn, trong khi những người tham gia vào chế biến và tiêu thụ nông sản lại giữ vai trò chủ động và hưởng lợi nhiều hơn từ chuỗi giá trị này.

Hiện nay, có một vấn đề đáng chú ý là những người cần liên kết lại thiếu trình độ tổ chức các hoạt động liên kết, trong khi những người có khả năng tổ chức thì không muốn tham gia Do đó, vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức và duy trì các hoạt động liên kết trở nên vô cùng quan trọng.

Thứ hai, về các hình thức liên kết

Sự đa dạng trong các hình thức liên kết kinh tế giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản xuất phát từ chính các chủ thể tham gia Các chủ thể này có trình độ và hoạt động khác nhau, buộc họ phải lựa chọn nhiều hình thức liên kết Thông thường, liên kết kinh tế diễn ra ở hai cấp độ: vĩ mô và vi mô Ở cấp vĩ mô, liên kết được thực hiện thông qua các hoạt động quản lý nhà nước, quy hoạch và chính sách hỗ trợ ngành hàng, tạo ra môi trường liên kết cho hoạt động quản lý kinh tế Trong khi đó, ở cấp vi mô, liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản thông qua các hình thức liên kết nội bộ, chuyển đổi các mối quan hệ bên ngoài thành bên trong, từ đó tạo điều kiện cho việc tổ chức sản xuất, cung ứng kỹ thuật, vốn và các yếu tố đầu vào, cũng như chuyển hóa nông sản từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.

Sự đa dạng hóa hình thức liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản hiện nay thể hiện rõ nét trong các ngành hàng nông sản Điều này dẫn đến sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, với các mức độ và trình độ thực thi liên kết không đồng đều Do đó, việc xem xét kỹ lưỡng các vấn đề này là cần thiết để lựa chọn phương án liên kết phù hợp.

Thứ ba, về tính chất của sự liên kết

Liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản là vô cùng cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Sự liên kết giá trị giữa các khâu này không chỉ phản ánh tính chất của ngành hàng nông sản mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất Đối tượng sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống, do đó, quy luật sinh học không chỉ diễn ra trong quá trình sản xuất mà còn tiếp tục sau khi thu hoạch, ảnh hưởng đến tiêu thụ Tính thời vụ cao của nông sản đòi hỏi phải có phương pháp bảo quản hợp lý, nếu không, sản phẩm sẽ dễ hư hỏng và chất lượng giảm nhanh chóng, dẫn đến hiệu quả nông nghiệp có thể giảm từ 5-10 lần.

Trong bối cảnh hiện nay, không gian liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản đã mở rộng ra không chỉ trong phạm vi địa phương hay quốc gia mà còn vươn ra tầm quốc tế Sự hội nhập sâu rộng của các quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu đã tạo ra những mối quan hệ liên kết chặt chẽ và đa dạng Điều này đặt ra những thách thức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động liên kết, trong đó vai trò kết nối giữa các chủ thể sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản trở nên cực kỳ quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của toàn bộ chuỗi giá trị nông sản.

2.1.3 Vai trò của nhũng liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản đang được nhiều địa phương chú trọng nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, bảo đảm giá cả ổn định cho nông dân Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, hiện có 56 địa phương đã ban hành chính sách khuyến khích liên kết, với 48 địa phương xác định các ngành hàng chủ lực cần ưu tiên Đến nay, đã có 359 dự án liên kết được phê duyệt, trong đó có 26 mô hình liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp Từ năm 2018, các địa phương đã hỗ trợ xây dựng 74 chuỗi liên kết, tổ chức 2.048 lớp đào tạo và chứng nhận an toàn cho 257 sản phẩm Để phát triển liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân, cần tăng cường tuyên truyền, quy hoạch vùng sản xuất, xây dựng thương hiệu và đào tạo kỹ thuật cho người dân, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp với công nghệ hiện đại.

2.1.4 Vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

2.1.4.1 Sự cần thiết của sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Việc lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng như đất đai bạc màu, sự tiến hóa của sâu bệnh và tác động tiêu cực đến sức khỏe con người Do đó, xu hướng chuyển hướng sang nền nông nghiệp hữu cơ đang được cả thế giới, bao gồm Việt Nam, quan tâm và phát triển Nhà nước cũng đang tích cực khuyến khích và hỗ trợ cho mô hình nông nghiệp bền vững này.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm thúc đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp tại một số địa phương

2.2.1.1 Bức tranh về sản xuất chè theo hướng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Chè là cây công nghiệp quan trọng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế và tạo việc làm cho hàng trăm nghìn hộ dân ở miền Bắc và các tỉnh khác Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu chè hiện nay chủ yếu từ các giống chất lượng thấp, dẫn đến sản phẩm chè hàng hóa chủ yếu ở dạng thô, thiếu đa dạng về chủng loại và chất lượng, mẫu mã chưa hấp dẫn, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường.

Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chè là cây công nghiệp lâu năm tại Việt Nam, được phát triển từ năm 1913 với các vùng sản xuất tập trung ở Cầu Đất, Biển Hồ và Thanh Ba Hiện nay, cả nước có 34 tỉnh, thành phố trồng chè trên diện tích khoảng 123.000 ha, năng suất đạt 94,8 tạ/ha, sản lượng vượt một triệu tấn Các tỉnh trồng chè chủ yếu bao gồm Thái Nguyên với hơn 22.000 ha, Hà Giang 21.500 ha, Phú Thọ 16.000 ha và Lâm Đồng 10.800 ha.

Tính đến hết năm 2020, diện tích trồng chè tại Thái Nguyên ước đạt 22.500 ha, với năng suất chè búp tươi đạt hơn 119 tạ/ha, sản lượng đạt 239 nghìn tấn Quy mô sản xuất chè của tỉnh không ngừng ổn định và gia tăng qua các năm, đồng thời chất lượng và giá trị sản phẩm cũng được nâng cao Hiện tại, thu nhập từ cây chè dao động từ 300 đến 500 triệu đồng/ha, giúp chè Thái Nguyên khẳng định vị thế trên thị trường nội địa và mở rộng ra thị trường quốc tế Sản xuất chè không chỉ góp phần xóa đói, giảm nghèo mà còn là nguồn thu nhập chủ yếu của hàng chục nghìn hộ dân trong khu vực.

Tỉnh Sơn La đang phát triển cây chè thành một cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, giúp nông dân cải thiện thu nhập và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Hiện tại, toàn tỉnh có hơn 5.200 ha chè, trong đó 214 ha là diện tích trồng mới, sản lượng đạt 45.310 tấn với năng suất khoảng 106 tạ/ha Các vùng sản xuất chè chính như Mộc Châu và Vân Hồ đã áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt và thu hái, dẫn đến năng suất chè búp tươi tăng liên tục Các diện tích trồng truyền thống mang lại thu nhập từ 120 triệu đến 150 triệu đồng/ha/năm, trong khi diện tích được tưới bằng công nghệ nhỏ giọt có thể thu hoạch từ 180 triệu đến 200 triệu đồng/ha/năm.

Cây chè đang trở thành cây trồng chủ lực tại nhiều địa phương, với 38 doanh nghiệp và 77 hợp tác xã tại Thái Nguyên, hình thành hơn 186 chuỗi liên kết sản xuất chè an toàn Tại Phú Thọ, chuỗi cung ứng chè đã tạo ra mối liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến chế biến, trong khi Tuyên Quang có nhiều doanh nghiệp thực hiện liên kết với hộ dân, quản lý chất lượng nguyên liệu từ khâu trồng Tuy nhiên, theo Cục Trồng trọt, trồng chè vẫn manh mún với 65% diện tích sản xuất theo nông hộ, và nhiều địa phương sử dụng giống chè chất lượng thấp Để phát triển bền vững, cần thúc đẩy mô hình trang trại, hợp tác xã, đào tạo người dân về sản xuất chè an toàn, quy hoạch vùng sản xuất và tránh tình trạng tranh mua nguyên liệu Doanh nghiệp cũng cần đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm để nâng cao giá trị sản xuất chè.

2.2.1.2 Kinh nghiệm thúc đẩy liên kết để xuất khẩu chè đen xuất khẩu của các công ty nhà nước Đây là mô hình phổ biến của các công ty nhà nước đã và chưa cổ phần hóa Mô hình này chiếm thị phần lớn trong ngành chè Phần lớn các công ty nằm trong mối liên hệ sản xuất, chế biến và xuất khẩu chè đen đều thực hiện mô hình loại này Các tác nhân trong mô hình liên kết loại này bao gồm:

Công ty xuất khẩu chè (có thể vừa xuất khẩu vừa kết hợp sản xuất) Các công ty sản xuất và chế biến chè đen

Các hộ công nhân viên chức nhận khoán đất trồng chè;

Các hộ nông dân sản xuất chè nguyên liệu trong vùng;

Các đại lý thu gom chè nguyên liệu hiện đang là mô hình phổ biến nhất, chiếm thị phần lớn trong ngành trà Họ đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ một lượng lớn chè Việt Nam sang nhiều thị trường quốc tế như Iraq, Trung Đông, Mỹ, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc.

Thể chế liên kết trong mô hình sản xuất chè đen giữa các công ty có sự khác biệt, nhưng chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa nhà chế biến và người sản xuất, dựa trên đất đai trồng chè và cơ chế khoán đã tồn tại Để tham gia, cần có đất hoặc nhận giao đất trồng chè, và phải chấp nhận cơ chế khoán cũng như tuân thủ quy trình kỹ thuật từ bên giao khoán Giao đất và khoán theo sản lượng, với khả năng đầu tư ứng trước, là hình thức phổ biến trong cơ chế liên kết này Mức sản lượng khoán phụ thuộc vào đối tượng nhận khoán và mối quan hệ đất đai của họ với bên giao khoán; thường thì cán bộ nhân viên công ty hoặc đất đai từ công ty sẽ có mức khoán sản lượng cao hơn.

Cơ chế phân phối lợi ích trong mô hình xuất khẩu chè đen không tạo ra giá trị gia tăng lớn, mà phụ thuộc vào diễn biến giá thị trường thế giới Lợi ích của người sản xuất chè nguyên liệu được xác định qua sản lượng bán cho doanh nghiệp và giá bán Đối với cán bộ công nhân viên được giao đất, sản lượng bán cho doanh nghiệp thường cao hơn so với các đối tượng khác Hơn nữa, giá mua nguyên liệu còn phụ thuộc vào mức độ đầu tư ứng trước của doanh nghiệp.

Vào năm 2004-2005, công ty chè Phú Bền đã ký hợp đồng với 850-900 hộ nông dân, đầu tư ứng trước từ 260-300 triệu đồng và thu mua 2500-2600 tấn chè búp tươi Tuy nhiên, khi giá chè búp tươi tăng trên thị trường, nông dân không tuân thủ hợp đồng và tự ý bán ra ngoài Kết quả là trong hai năm này, công ty chỉ thu mua được 55-60% khối lượng chè đã ký kết.

Kinh nghiệm rút ra từ mô hình liên kết này là:

Hình thức liên kết giữa nhà máy chế biến và hộ sản xuất chè hiện nay chủ yếu dựa trên hợp đồng khoán, tạo ra một mối quan hệ thị trường bán phần Trong đó, các hộ nông dân trồng chè trên đất của mình hoạt động theo cơ chế thị trường hoàn toàn, trong khi những người khác thường là công nhân viên hoặc người nhận đất giao khoán Hợp đồng giao khoán quy định giá cả giữa hai bên, tôn trọng nguyên tắc thị trường, nhưng doanh nghiệp cũng phải chịu nhiều rủi ro, đặc biệt khi giá thị trường tăng cao và nhiều hộ nông dân không thực hiện nghĩa vụ cung cấp nguyên liệu Các hoạt động hỗ trợ như hướng dẫn kỹ thuật và đầu tư ứng trước là những chi phí giao dịch cần thiết cho doanh nghiệp.

Trong bối cảnh giá sản phẩm chè không ổn định và chi phí giao dịch gia tăng, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc duy trì đầu tư và quản lý chất lượng do rủi ro cao.

(3) Nên phân loại thị trường chè đen theo giá mua và yêu cầu chất lượng phù hợp

2.2.1.3 Kinh nghiệm thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp tại công ty chè Phú Đa Thanh Sơn Phú Thọ

Vào năm 2005, khi cây chè chưa được liên kết với công ty, tỷ lệ đói nghèo ở xã đạt gần 60%, mặc dù nhiều hộ dân đã trồng chè Tuy nhiên, từ khi giao một phần đất cho công ty để sản xuất chè, người dân đã có việc làm và thu nhập cao hơn nhờ vào việc trồng, chăm sóc và thu hoạch chè.

Tại Xí nghiệp chè Phú Đa, 300 công nhân chăm sóc và thu hoạch từ 3000-5000 m2 chè, với các hộ gia đình có cả hai vợ chồng làm công nhân có thể quản lý tới 7000 m2 Hiện tại, cây chè là cây trồng mang lại thu nhập cao nhất tại xã Quan trọng hơn, người dân đã học hỏi được những phương pháp sản xuất mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như giống chất lượng cao, giúp nhiều diện tích chè mới đạt hiệu quả kinh tế cao Sau 4-5 năm, năng suất chè đạt từ 12-18 tấn/ha, gấp 2-3 lần so với các phương pháp cũ Nhờ cây chè, chúng tôi đã giảm được 30% tỷ lệ hộ nghèo trong những năm qua.

Mô hình liên kết "công nhân nông dân" tại xã Long Cốc đã giúp người nông dân không chỉ chăm sóc và thu hoạch chè mà còn thực hiện các công việc khác, từ đó tạo ra thêm nguồn thu nhập Tiền từ cây chè được tích lũy để xây dựng nhà cửa và mua sắm vật dụng cần thiết, trong khi các nguồn thu nhập khác được sử dụng cho chi phí sinh hoạt hàng ngày Với gần 300 ha đất nông lâm nghiệp giao cho Công ty chè Phú Đa, mô hình này đã tạo ra sự hợp tác hiệu quả giữa doanh nghiệp và nông dân, cùng chia sẻ lợi ích và khó khăn trong sản xuất kinh doanh, cho phép nông dân trở thành công nhân ngay trên quê hương mình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các hộ dân sản xuất chè hữu cơ và các doanh nghiệp thu mua chè trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương

Khóa luận tập trung nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cớ sở thực tiễn về liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ

- Đánh giá thực trạng sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã tức tranh huyện Phú Lương

- Đánh giá thực trang liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh huyện Phú Lương

- Giải pháp nâng cao liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh huyện Phú Lương.

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1.Tiếp cận có sự tham gia

Cách tiếp cận có sự tham gia được áp dụng trong tất cả các giai đoạn nghiên cứu, từ điều tra, khảo sát đến đánh giá thực trạng nguồn lực của hộ nông dân sản xuất chè Sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm nông dân, nhà quản lý, lãnh đạo địa phương, cơ quan ban ngành và chuyên gia, là rất quan trọng trong việc phân tích tác động của phương thức sản xuất chè hữu cơ đến hiệu quả kinh tế Phương pháp này yêu cầu tiếp xúc gần gũi với người dân, giúp họ bộc lộ những khó khăn và thuận lợi trong sản xuất Đồng thời, các công cụ đánh giá nhanh có sự tham gia được sử dụng linh hoạt để thu thập thông tin cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ.

3.2.2 Tiếp cận theo loại hình hộ xác định số mẫu điều tra

Tại xã Tức Tranh, hiện có 40 ha chè được trồng theo hướng hữu cơ, trong đó 20 ha do trung tâm khuyến nông tỉnh và 20 ha do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên quản lý, với sự tham gia của 79 hộ dân Khóa luận này tập trung vào việc khảo sát toàn bộ 79 hộ trồng chè hữu cơ, chủ yếu tại ba xóm Khe Cốc, xóm Bãi Bằng và xóm Tân Thái.

3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

Thông tin thứ cấp được tác giả thu thập thông qua các nguồn tài liệu được thu thập từ UBND xã, các trang Web, tài liệu báo trí

3.2.3.2 Thông tin sơ cấp Để có sơ cấp tác giả tiến hành điều tra tại các hộ nông dân trồng chè hữu cơ tại xã Tức Tranh và các doanh nghiệp thu mua chè trên địa bàn

3.2.4 Phương pháp xử lý thông tin

Thông tin được thu thập và phân loại sẽ được nhập vào máy tính để tạo ra hệ thống cơ sở dữ liệu Sau đó, phần mềm chuyên dụng như Excel sẽ được sử dụng để tính toán, xử lý và tổng hợp dữ liệu thành các bảng biểu, đồ thị và biểu đồ phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin

Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng nhiều phương pháp phân tích thông tin, bao gồm phân tích dãy số theo thời gian, thống kê mô tả và phương pháp so sánh.

* Phương pháp phân tích dãy số thời gian

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc (∆i)

Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối của chỉ tiêu nghiên cứu trong khoảng thời gian dài Công thức tính:

Trong đó: yi là mức độ tuyệt đối ở thời gian i y1 là mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu

- Tốc độ phát triển định gốc (Ti)

Tốc độ phát triển định gốc được dùng để phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng trong khoảng thời gian tương đối dài

Phương pháp này nhằm tính toán tốc độ tăng trưởng và xác định mức biến động tương đối cũng như tuyệt đối của các hộ sản xuất chè Nó cho phép so sánh hiệu quả sản xuất chè trước và sau khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, đồng thời so sánh giữa hai nhóm hộ sản xuất chè: một nhóm tuân thủ tiêu chuẩn VietGAP và một nhóm không tuân thủ.

* Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội thông qua việc phân tích và mô tả số liệu thu thập được Phương pháp này được áp dụng để đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của thành phố, cũng như phân tích việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất chè của nông hộ Đồng thời, nó cũng giúp đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ nông dân trồng chè qua các năm.

Hệ thống chỉ tiêu phân tích

- Năng suất bình quân (AP) là mức sản lượng thu được trong quá trình điều tra đối với cây chè trên một đơn vị diện tích

Giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Đối với sản xuất chè của nông hộ, GO bao gồm giá trị của chè khô và chè tươi mà họ thu hoạch trong một vụ hoặc trong một năm Công thức tính GO giúp đánh giá hiệu quả sản xuất chè của nông dân.

Trong đó: GO là giá trị sản xuất

Qi là khối lượng sản phẩm loại i Pi Giá cả sản phẩm i

Chi phí trung gian (IC) bao gồm tất cả các khoản chi phí vật chất, ngoại trừ khấu hao tài sản cố định, cùng với các dịch vụ sản xuất được tính theo chu kỳ của sản phẩm.

Trong đó: IC là chi phí trung gian

Ci là các khoản chi phí thứ i trong một chu kỳ sản xuất

Giá trị gia tăng (VA) là giá trị của sản phẩm và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất Công thức tính giá trị gia tăng được xác định để phản ánh sự đóng góp của các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế.

Thu nhập hỗn hợp (MI) là tổng thu nhập thuần tuý của người sản xuất, bao gồm thu nhập từ công lao động và lợi nhuận trên mỗi đơn vị diện tích, được tính theo chu kỳ của GO Công thức tính thu nhập hỗn hợp giúp xác định giá trị thực tế mà người sản xuất nhận được từ hoạt động của mình.

MI= VA-(A + T + chi phí thuê lao động ngoài)

Trong đó: MI: thu nhập hỗn hợp

VA: Giá trị gia tăng

A: Khấu hao tài sản cố định

T: Các khoản thuế, phí phải nộp

QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội xã Tức Tranh

Tức Tranh là xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Nguyên, nằm ở phía Đông Nam huyện và cách trung tâm huyện khoảng 9 km Xã có tổng diện tích tự nhiên là 2.537,21 ha, với 2.297 hộ dân và tổng số 8.941 nhân khẩu.

- Phía Đông giáp với Phú Đô (huyện Phú Lương) và xã Minh Lập (huyện Đồng Hỷ),

- Phía Tây giáp với xã Phấn Mễ,

- Phía Nam giáp với xã Vô Tranh,

- Phía Bắc giáp xã Phú Đô và Yên Lạc

-Có đường trục chính Giang Tiên-Phú Đô-Núi Phấn và đường Thái Nguyên-Chợ Mới (Bắc Kạn) đi qua xã

Tức Tranh là một địa điểm nằm dọc theo dòng Sông Cầu, chảy từ Bắc Kạn và phân giới giữa xã Minh Lập thuộc huyện Đồng Hỷ và xã Tức Tranh của huyện Phú Lương, hướng về Thái Nguyên.

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.537,21ha, chủ yếu là đất đồi thấp, phục vụ cho việc phát triển các loại cây như chè và cây ăn quả Diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp và đất ở chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích này.

Tài nguyên nước mặt đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, chủ yếu từ các hệ thống sông suối Tuy nhiên, chất lượng nước hiện nay không đạt tiêu chuẩn vệ sinh do ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi, như phân và nước thải gia súc, cùng với thức ăn thừa không được xử lý Những hóa chất độc hại từ cây trồng cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

Nguồn nước ngầm của xã chưa được khảo sát về trữ lượng, nhưng thực tế cho thấy các hộ dân sử dụng giếng khoan có chất lượng nước khá tốt Tuy nhiên, địa hình cao của xã hạn chế khả năng giữ nước vào mùa khô.

Xã Do nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, có địa hình phức tạp với tỷ lệ đồi núi chiếm diện tích lớn Địa hình xã dốc dần từ Bắc xuống Nam, điều này tạo ra những thách thức cho việc xây dựng Tuy nhiên, khu vực này lại có tiềm năng phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và lâm nghiệp, mặc dù không thuận lợi cho việc trồng lúa.

Xóm Tân Thái và xóm Bãi Bằng có địa hình đồi núi trung du khá giống nhau còn xóm Gốc Gạo địa hình khá bằng phẳng

4.1.1.4 Khí hậu và thủy văn

Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình dao động từ 30 đến 37 độ C, trong khi mùa đông có nhiệt độ khoảng 11 đến 20 độ C Thời gian khô hạn từ tháng 1 đến tháng 3 ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt.

+ Nắng: Số giờ nắng trung bình 1 năm là 1.628 giờ

+ Mưa: lượng mưa trung bình của xã từ 2.000mm đến khoảng 2.100mm/năm Từ tháng 4 và đến tháng 10 mưa rất nhiều, chiếm trên khoảng 90% lượng mưa trong năm

Xã Tức Tranh có địa hình đồi núi dốc, với sự phân bố rải rác của các ngọn núi, kết hợp với lượng mưa lớn đã tạo ra sự biến đổi lưu lượng nước theo từng mùa Trong mùa khô, nước cạn, trong khi mùa mưa dễ gây ra lũ lụt cục bộ tại các khu vực ven suối Tuy nhiên, phía Đông Nam của xã tiếp giáp với sông Cầu, cho phép kết hợp với các hệ thống sông suối nhỏ để tiêu lũ hiệu quả.

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Tức Tranh là một xã thuần nông với tổng diện tích tự nhiên 2.537,21 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 2064,64 ha, chủ yếu được sử dụng để trồng chè và rau màu Mặc dù vậy, chăn nuôi tại các hộ gia đình vẫn là hoạt động chính, với quy mô nhỏ và chưa có nhiều trang trại phát triển.

Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của xã đã có sự chuyển dịch tích cực từ một xã thuần nông sang việc tăng giá trị sản xuất của ngành tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là chế biến chè đặc sản, cùng với sự phát triển dịch vụ - thương mại Để phát triển kinh tế xã hội trong tương lai, xã sẽ tiếp tục phát huy nội lực và tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ nhà nước, tập trung vào hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn, với cây chè là mũi nhọn.

4.1.2.1.Tình hình sử dụng đất

Qua bảng số liệu cho thấy: Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2537,21 ha được chia làm 3 loại đất chính:

Nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất với diện tích 2064,64 ha, tương đương 81,37%, trong đó 1199,24 ha được sử dụng để sản xuất nông nghiệp, bao gồm trồng chè, lúa, cây hoa màu và một số loại cây ăn quả Với địa hình chủ yếu là đồi núi, 820,76 ha còn lại được dành cho việc trồng rừng, chủ yếu là các loại cây như bạch đàn và keo.

Diện tích nuôi trồng thủy sản tại xã chỉ có 44,64 ha, bao gồm ao hồ và kênh mương, phục vụ cả nhu cầu nước sinh hoạt và nuôi tôm cá để tạo thu nhập cho người dân Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp chưa được người dân địa phương chú trọng đầu tư phát triển do điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho các hoạt động này.

STT Mục đích sử dụng Diện Tích (ha) Tỷ lệ (%)

- Đất sản xuất nông nghiệp 1199,24 47,27

+ Đất trồng cây hoa màu 100,6 3,97

+ Đất trồng cây ăn quả 60,45 2,38

- Đất trồng cây lâm nghiệp 820,76 32,35

- Đất nuôi trồng thủy sản 44,64 1,76

2 Nhóm đất phi nông nghiệp 469,55 18,51

+ Đất trụ sở cơ quan 0,25 0,009

+ Đất sản xuất phi nông nghiệp 10,99 0,43

+ Đất có mục đích công cộng 145,79 5,75

- Đất tôn giáo tín ngưỡng 0.34 0,01

- Đất nghĩa, địa nghĩa trang 3,58 0,14

3 Nhóm đất chưa sử dụng 3,02 0,12

- Đất bằng chưa sử dụng 0 0

(Nguồn: UBND xã Tức Tranh năm 2020)

Nhóm đất thứ 2 bao gồm đất phi nông nghiệp, chiếm 18,51% tổng diện tích toàn xã, tương đương 469,55 ha Nhóm đất này bao gồm các loại đất như đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất sông suối, và đất nghĩa trang, nghĩa địa.

Nhóm đất thứ 3 bao gồm đất chưa sử dụng, chiếm tỷ lệ 0,12% trong tổng diện tích với diện tích 3,02 ha, chủ yếu là đất đồi chưa được khai thác Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do nhiều hộ gia đình không tận dụng hết diện tích đất nông nghiệp của mình, hoặc do các thành viên trong gia đình đi xuất khẩu lao động.

Nhóm đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn và đóng vai trò quan trọng tại xã Tức Tranh, chủ yếu được sử dụng cho việc trồng chè, cây hoa màu và cây ăn quả.

Xã hiện có 2297 hộ với 8.941 nhân khẩu

Số lượng lao động trong độ tuổi: 5.898 người;

Tỷ lệ lao động đã qua đào tào so với tổng số lao động: 37%

Thực trạng phát triển sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức

4.2.1 Quy mô và địa điểm sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức Tranh huyện Phú Lương

Tại xã Tức Tranh, hiện có 40 ha chè hữu cơ được quản lý bởi Trung Tâm Khuyến nông tỉnh Thái Nguyên (20 ha) và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (20 ha) Dự án này được triển khai tại ba xóm: Xóm Tân Thái, Xóm Khe Cốc và Xóm Bãi Bằng.

- Về công tác triển khai

Sau khi có chương trình thực hiện sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tức Tranh đã có công tác triển khai như sau

Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm triển khai mô hình nhằm tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của sản xuất nông nghiệp bền vững Mục tiêu của chương trình là giải quyết các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp, giúp người dân áp dụng các phương pháp canh tác hiện đại và hiệu quả.

Phòng NN & PTNT huyện, TTDV nông nghiệp phối hợp triển khai, thực hiện

UBND xã Tức Tranh đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối hợp chặt chẽ trong công tác điều hành và sản xuất Sự bàn bạc thống nhất cao giữa các bên liên quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả triển khai, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Các hộ nông dân tham gia mô hình chè tự nguyện và cam kết tuân thủ quy trình cũng như chỉ đạo từ cán bộ kỹ thuật của UBND xã và tổ chức chứng nhận Họ tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, ghi chép sổ nhật ký nông hộ và theo dõi các chỉ tiêu kỹ thuật, đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Trong trường hợp gặp khó khăn, nông dân cần báo ngay cho cán bộ kỹ thuật để được hỗ trợ kịp thời Ngoài ra, các hộ cũng tạo điều kiện cho cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu học tập, tham quan mô hình Cuối cùng, họ phải tuân thủ quy định về sử dụng vật tư hỗ trợ, đảm bảo nguồn nhân lực, đối ứng kinh phí đầy đủ và an toàn lao động trong quá trình triển khai mô hình.

- Về Công tác chọn hộ, chọn điểm

Trung tâm Khuyến nông, Trường Đại học Nông Lâm đã hợp tác với UBND xã Tức Tranh để triển khai mô hình chọn hộ tham gia dựa trên các tiêu chí ưu tiên, bao gồm việc lựa chọn các hộ có vườn chè liền kề nhằm thuận lợi cho công tác quản lý và chăm sóc, đồng thời đảm bảo vùng đệm cách ly an toàn theo tiêu chuẩn TCVN 11041-2:2017.

Tự nguyện tham gia mô hình sản xuất chè hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 11041-2:2017, cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và hướng dẫn của cán bộ chỉ đạo Mô hình này sẽ được duy trì đến hết năm 2022, với lực tài chính đảm bảo đáp ứng vốn đối ứng cần thiết.

Có kinh nghiệm trong sản xuất, chế biến chè ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Có cam kết thực hiện đúng theo yêu cầu mô hình, không sử dụng vật tư hỗ trợ vào mục đích khác

Kết quả: Sau khi khảo sát chọn điểm, chọn hộ chúng tôi đã lựa chọn được

79 hộ với diện tích 40 ha trực tiếp tham gia mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ VietNam 11041 – 2:2017

4.2.2 Đặc điểm chung của hộ nông dân trồng chè hữu cơ

Theo tiêu chuẩn hiện hành, 79 hộ trồng chè hữu cơ đã được lựa chọn, với thông tin chi tiết được trình bày trong bảng 4.2 Đối với những hộ này, cây chè không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn là nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình.

Bảng 4.2: Đặc điểm chung của các hộ trồng chè hữu cơ

Chỉ tiêu ĐVT Số lượng

Tổng số hộ trồng hữu cơ Hộ 79

Tuổi bình quân của chủ hộ Tuổi 44,03

Trình độ văn hoá của chủ hộ chủ yếu Cấp 3

Kinh nghiệm làm chè của chủ hộ Năm 20

Bình quân số nhân khẩu/hộ Người 4,63

Bình quân lao động NN/hộ LĐ 2,20

Bình quân diện tích trồng chè/hộ Ha 0,51

Tuổi chè bình quân/hộ Năm 16,5

Bình quân giá trị tài sản của hộ Nhìn đồng 30.461

Bình quân giá trị máy móc phục vụ SX Nghìn đồng 19.174

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Tuổi trung bình của các chủ hộ được khảo sát là 44,03 tuổi, cho thấy họ đã có sự ổn định về cơ sở vật chất và kinh nghiệm trong sản xuất chè Điều này tạo ra thuận lợi đáng kể cho sự phát triển kinh doanh cây chè Tuy nhiên, trình độ văn hóa của chủ hộ vẫn còn thấp, chủ yếu nằm trong khoảng từ cấp 1 đến cấp 3, với số lượng lớn chủ hộ chỉ đạt trình độ cấp 3, không có ai có bằng cao đẳng hay đại học.

Trình độ văn hóa có ảnh hưởng lớn đến quyết định sản xuất, trách nhiệm và phương thức sản xuất của mỗi gia đình Vì vậy, nâng cao trình độ văn hóa cho các chủ hộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong thời gian tới Cần tổ chức nhiều lớp tập huấn hơn để hỗ trợ các hộ gia đình.

Bình quân số nhân khẩu của các hộ là 4,63 nhân khẩu/hộ, cho thấy các hộ có đủ nguồn nhân lực để sản xuất chè hữu cơ Phương tiện phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng rất quan trọng, với hình thức chế biến chè chủ yếu diễn ra tại các hộ gia đình Do đó, các phương tiện sản xuất chính bao gồm máy vò chè mini, máy sao quay tay và máy sao cải tiến, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sản xuất của các hộ.

Hiện nay, nhiều hộ trồng chè đã trang bị đầy đủ máy móc phục vụ sản xuất, nhưng do điều kiện kinh tế còn hạn chế, phần lớn các phương tiện vẫn còn đơn giản Chỉ một số ít hộ có khả năng đầu tư vào máy móc hiện đại để thâm canh chè, trong khi nhiều hộ khác phải thuê dịch vụ để sản xuất.

4.2.3 Cơ cấu giống chè của các hộ trồng chè hữu cơ

Sản xuất chè hữu cơ là một phương pháp hiện đại, đòi hỏi việc chọn giống chè chất lượng cao Chất lượng chè thành phẩm phụ thuộc vào nguyên liệu, mà nguyên liệu lại chịu ảnh hưởng từ đặc điểm sinh lý và sinh hóa của giống chè Do đó, việc lựa chọn giống chè tốt và cơ cấu giống hợp lý là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng chè, đặc biệt trong lĩnh vực chè hữu cơ.

Hộ SX chè hữu cơ

Số lượng (ha) Cơ cấu (%)

Tổng Diện tích chè hữu cớ 40 100

Giống Trung du (Chè hạt) 35 87,50

Giống chè khác như Bát Tiên, chè cành, 5 12,50

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Theo bảng 4.3, các nông hộ trồng chè hữu cơ chủ yếu chọn giống chè trung du, nổi bật với khả năng cho búp nhiều hơn chè cành Những búp chè xanh tươi non không chỉ giúp nông dân tỉnh này bán được giá cao mà còn có tuổi thọ lâu dài, thậm chí lên tới hàng trăm năm Tại xã Tức Tranh, có những cây chè cổ thụ vẫn cho năng suất tốt trong điều kiện khắc nghiệt của mùa đông và mùa hè Giống chè trung du có rễ bám sâu, giúp chống xói mòn đất hiệu quả và có khả năng kháng bệnh tốt hơn so với chè cành, dẫn đến năng suất cao Vì vậy, diện tích trồng chè trung du hiện chiếm 87,5% tổng diện tích chè hữu cơ.

4.2.4 Mức độ đầu tư thâm canh của hộ cho chè hữu cơ Để thấy được mức độ đầu tư cho 1 ha chè hữu cơ một cách đầy đủ và chính xác Tác giả tiến hành tính toán để so sánh chi phí 1 ha chè hữu cơ và 1 ha chè truyền thống Kết quả tính toán được thể hiện ở bảng 4.4

Qua bảng 4.4 cho thấy: Mức độ đầu tư của 1 ha chè hữu cơ thấp hơn mức đầu tư của 1 ha chè truyền thống

Phân hoá học được sử dụng phổ biến trong sản xuất chè truyền thống do khả năng kích thích nảy mầm nhanh và rút ngắn thời gian thu hái, từ đó nâng cao năng suất Tuy nhiên, việc này có thể ảnh hưởng đến chất lượng chè và an toàn cho người tiêu dùng Ngược lại, phân BIOGRO và phân chuồng ủ là nguồn cung cấp vi sinh vật tốt nhất, giúp cải thiện màu sắc của đất và được áp dụng trong quy trình canh tác chè hữu cơ Mặc dù vậy, theo kinh nghiệm của các hộ dân, năng suất chè hữu cơ thường thấp hơn so với chè truyền thống.

Thực trạng liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương

Liên kết kinh tế giữa hộ nông dân và doanh nghiệp là một mô hình quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hiện đại Liên kết này thường được thể hiện qua bốn khía cạnh chính, bao gồm lĩnh vực liên kết, cấu trúc tổ chức, quy tắc ràng buộc và các yếu tố khác Trong sản xuất chè hữu cơ tại xã Tức Tranh, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra liên kết kinh tế này.

4.3.1 Lĩnh vực và hình thức liên kết

Các hình thức liên kết kinh tế phổ biến giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trồng chè hữu cơ bao gồm hợp đồng sản xuất và tiêu thụ, hợp đồng đầu tư, hợp đồng giao nhận khoán, hợp đồng mua bán và ký gửi sản phẩm Liên kết này không chỉ tập trung vào tiêu thụ sản phẩm mà còn bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, vật tư, phân bón, máy móc và chia sẻ thông tin Hiện tại, tại xã Tức Tranh, chè chủ yếu được bán cho công ty chè Hoàng Bình.

4.3.2 Cấu trúc tổ chức trong liên kết

Có bốn hình thức cấu trúc tổ chức điển hình trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân sản xuất chè hữu cơ, bao gồm: tập trung trực tiếp, hạt nhân trung tâm, trung gian và phi chính thức.

Hình thức doanh nghiệp ký kết hợp đồng trực tiếp với từng hộ nông dân, không qua trung gian, mang lại nhiều lợi ích như tính chặt chẽ của liên kết và khả năng quản lý diện tích sản xuất, kỹ thuật và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, do áp lực trách nhiệm xã hội và khó khăn trong thương thảo hợp đồng, doanh nghiệp thường chỉ ký hợp đồng kinh tế khi có đầu tư vật tư đầu vào Nếu không có đầu tư, các bên chỉ ký Bản cam kết, mặc dù đã nêu rõ trách nhiệm nhưng giá trị pháp lý không cao.

Hạt nhân trung tâm là hình thức doanh nghiệp nắm quyền sở hữu chính đất đai, mang lại lợi ích kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào chính sách doanh nghiệp có thể dẫn đến xung đột giữa nông dân và doanh nghiệp Để giảm thiểu xung đột, các hộ sản xuất thường thông qua các trung gian như HTX, đại lý, giúp doanh nghiệp tránh phải thương lượng trực tiếp với hàng ngàn nông dân Mô hình HTX không chỉ tạo ra sức mạnh tập thể cho các thành viên mà còn giúp doanh nghiệp thực hiện chính sách hiệu quả hơn Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần có những chính sách đặc thù và chi phí hợp lý cho các đối tác trung gian.

Phi chính thức là hình thức giao dịch chủ yếu giữa hộ nông dân và các đại lý thu mua, cũng như doanh nghiệp thu mua chè tư nhân nhỏ và vừa tại xã Tức Tranh Thỏa thuận miệng giữa hai bên là phương thức chủ yếu để thực hiện mua bán và ký gửi sản phẩm Tuy nhiên, hình thức này dễ dẫn đến xung đột, đặc biệt là về lợi ích kinh tế, và được cho là liên kết không bền vững Mặc dù vậy, phi chính thức vẫn là hình thức giao dịch chính tại xã Tức Tranh hiện nay.

4.3.3 Quy tắc ràng buộc trong liên kết

Quy tắc ràng buộc trong hợp đồng liên kết sẽ xác định trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên tham gia, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của mối liên kết Những quy tắc này sẽ bao gồm các yếu tố quan trọng như thời gian, số lượng và chất lượng sản phẩm, giá cả, cũng như phương thức giao nhận, thanh toán, và cách xử lý rủi ro cùng tranh chấp.

Trong các hợp đồng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, hầu hết sẽ quy định rõ chỉ tiêu sản lượng mà nông dân phải cung cấp Đối với những hình thức liên kết khác, doanh nghiệp không yêu cầu số lượng cụ thể, cho phép nông dân tự do chọn đối tác tiêu thụ hoặc bán sản phẩm theo ý muốn Mức độ sâu của liên kết và các ràng buộc về khối lượng sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến quyền lựa chọn này Các hợp đồng giao nhận khoán và hợp đồng liên kết có đầu tư từ doanh nghiệp sẽ chỉ định tỷ lệ quả chín khi thu hái, trong khi các hợp đồng dưới dạng “bản cam kết” hay “bản thỏa thuận” chỉ yêu cầu nông dân thực hành nông nghiệp tốt trong quá trình chăm sóc chè.

Về giá cả và địa điểm sẽ giao nhận sản phẩm, thanh toán: Thì toàn bộ hợp đồng liên kết sẽ được thực hiện theo giá thời điểm

Trong việc xử lý rủi ro và tranh chấp, các yếu tố khách quan như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh và biến động giá cả có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng Do đó, hai bên cần cùng nhau thảo luận để tìm ra giải pháp thực hiện Nếu không thể tự giải quyết tranh chấp, Tòa án kinh tế cấp tỉnh sẽ là cơ quan phán quyết cuối cùng đối với các hợp đồng kinh tế Đối với các hợp đồng dưới dạng cam kết hoặc thỏa thuận, hộ nông dân có thể bị loại bỏ bởi các đối tác nếu không thực hiện đúng cam kết.

Giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

4.4.1.Thực hiện quy hoạch và xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cho vùng nguyên liệu

Việc quy hoạch và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp cần ưu tiên phát triển bền vững các loại cây trồng và vật nuôi chủ đạo Tùy thuộc vào đặc điểm từng vùng, cần tập trung xây dựng các yếu tố trong hệ thống hạ tầng Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy đầu tư vào hệ thống kỹ thuật là yếu tố quyết định cho sự phát triển nông nghiệp Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong công tác quy hoạch, thiết kế, huy động vốn, xây dựng công trình và quản lý khai thác các công trình phục vụ người dân.

Để phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất, hệ thống cơ sở hạ tầng cần được xây dựng và cải thiện Các đơn vị cần thực hiện tốt phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", trong đó nhân dân đóng vai trò chính trong các công trình liên quan trực tiếp đến sản xuất, với sự hỗ trợ hợp lý tùy theo điều kiện của từng địa phương.

4.4.2 Xây dựng và lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất

Mỗi hình thức tổ chức sản xuất nông sản có cách quản lý và nội dung khác nhau, phù hợp với từng khâu trong chuỗi cung ứng Để tối ưu hóa liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, cần lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp, đồng thời phân tích ưu nhược điểm của từng hình thức Việc đánh giá sự phù hợp của các hình thức tổ chức với đặc điểm của từng ngành hàng và địa phương là rất quan trọng Tổ chức lại sản xuất cần đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ và hài hòa lợi ích giữa các khâu nuôi trồng, thu mua, chế biến và xuất khẩu, trong đó mô hình quản lý cộng đồng như nhóm hộ, hợp tác xã và hiệp hội cần được áp dụng Hệ thống chế biến và tiêu thụ cũng cần được sắp xếp hợp lý theo vùng sản xuất nguyên liệu để nâng cao hiệu quả hoạt động.

4.4.3 Có cơ chế hỗ trợ nông dân, cơ sở chế biến trong tổ chức các hoạt động liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ

Tham gia liên kết của các hộ nông dân và cơ sở chế biến nhỏ gặp khó khăn do hạn chế về thông tin và trình độ Việc soạn thảo và thực thi hợp đồng liên kết thường phát sinh nhiều vấn đề pháp lý và kinh tế, bởi sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố khách quan và kỷ luật thực thi pháp luật về kinh tế còn thấp Do đó, triển khai các hoạt động liên kết trở thành yêu cầu cấp thiết.

4.4.4 Nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng và ý thức pháp luật của các chủ thể trong liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Hiệp hội ngành hàng đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp nông nghiệp Việc phát triển và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng là cần thiết để thúc đẩy liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.

LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 27/04/2022, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

lực tài chính để đáp ứng vốn đối ứng của mô hình. - Đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
l ực tài chính để đáp ứng vốn đối ứng của mô hình (Trang 46)
Qua bảng 4.3 cho thấy các nông hộ trồng theo hướng hữu cơ chủ yếu trồng giống chè trung du  là giống chè cho búp nhiều hơn chè cành, chính búp xanh  tươi non như ngọc này giúp các hộ nông dân của tỉnh có thể bán được giá cao  hơn, chè trung du có tuổi thọ - Đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
ua bảng 4.3 cho thấy các nông hộ trồng theo hướng hữu cơ chủ yếu trồng giống chè trung du là giống chè cho búp nhiều hơn chè cành, chính búp xanh tươi non như ngọc này giúp các hộ nông dân của tỉnh có thể bán được giá cao hơn, chè trung du có tuổi thọ (Trang 48)
Bảng 4.4: Bình quân đầu tư cho 1ha chè hữu cơ và chè truyền thống - Đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.4 Bình quân đầu tư cho 1ha chè hữu cơ và chè truyền thống (Trang 49)
Bảng 4.5: So sánh kết quả, hiệu quả sản xuất chè hữu cơ trước và sau chuyển đổi của các hộ - Đánh giá và đưa ra giải pháp thức đẩy liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ tại xã tức tranh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.5 So sánh kết quả, hiệu quả sản xuất chè hữu cơ trước và sau chuyển đổi của các hộ (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w