1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

83 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tuân Thủ Dùng Thuốc Và Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Trên Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Típ 2
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Y Học
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Investigation of medication adherence and related factors in patients with type 2 diabetes Không tuân thủ được coi là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc kém kiểm soát bệnh đái tháo đường, do đó, xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ là bước đầu tiên để thiết lập các can thiệp cải thiện tuân thủ. Tuân thủ là một vấn đề đa chiều chịu tác động lẫn nhau của 5 nhóm yếu tố  Các yếu tố kinh tế và xã hội: Dân trí, nghề nghiệp, tôn giáo, sắc tộc, tình trạng thu nhập, các hỗ trợ xã hội, nơi cư trú, khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế.  Các yếu tố liên quan đến hệ thống và đội ngũ chăm sóc sức khỏe: Mức độ đồng chi trả, có bảo hiểm y tế, hệ thống phân phối và cấp phát thuốc, sự có sẵn các hướng dẫn chuyên môn, khả năng tư vấn và giáo dục bệnh nhân, mối quan hệ với bệnh nhân, kiến thức về tuân thủ điều trị.  Các yếu tố liên quan đến bệnhtình trạng sức khỏe: Thời gian mắc bệnh, mức độ nặng của bệnh, bệnh lý mắc kèm (thể chất và tâm thần)  Các yếu tố liên quan đến liệu pháp điều trị: Thời gian điều trị, tần suất dùng thuốc, số viên uống trong ngày, số thuốc khác nhau, thời điểm dùng thuốc, gặp tác dụng phụ của thuốc.  Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân: Các yếu tố thể chất như tuổi, giới, đãng trí, khả năng nuốt viên thuốc, thị lực, thính lực; các yếu tố về tâm lýxã hội như kiến thức về thuốc và bệnh, năng lực tự chăm sóc, thái độ đối với việc điều trị, nhận thức về bệnh, niềm tin tôn giáo, niềm tin vào thuốc, tiếp biến văn hóa, năng lực sức khỏe, tự tin dùng thuốc, mức độ hài lòng với dịch vụ y tế và cản bộ y tế.

Trang 1

THUYẾT MINH ĐỀ CƯƠNG Tên đề tài (tiếng Việt) Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng

trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Tên đề tài (tiếng Anh) Investigation of medication adherence and related factors

in patients with type 2 diabetes

Thời gian thực hiện 12 tháng

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và sự cần thiết tiến hành nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tuân thủ dùng thuốc

1.1.1.1 Định nghĩa tuân thủ dùng thuốc

Tổ chức y tế thế giới (WHO, 2003) [19] đã đưa ra định nghĩa tuân thủ (adherence) liệu pháp điều trị dài hạn (long-term therapy) là “mức độ hành vi của bệnh nhân tuân theo một chế độ ăn, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với các khuyến nghị từ nhân viên y tế sau khi đã đồng thuận”

Tuân thủ dùng thuốc là “mức độ bệnh nhân dùng thuốc như đã được bác sĩ

kê đơn”, có nghĩa là “dùng thuốc như được kê về liều dùng, thời gian dùng và tần suất dùng trong khoảng thời gian được kê đơn” [82]

Mức độ tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân có bệnh cấp tính thường cao hơn trên bệnh nhân có bệnh lý mạn tính Sự kiên trì dùng thuốc ở bệnh nhân có bệnh mạn tính thường giảm đáng kể sau khoảng 6 tháng đầu điều trị [82]

1.1.1.2 Vai trò của tuân thủ dùng thuốc

Đối với các bệnh mạn tính, tuân thủ là yếu tố quyết định hiệu quả điều trị Tuân thủ kém đi đôi với giảm lợi ích lâm sàng, gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến

an toàn điều trị cho bệnh nhân [19] Đái tháo đường là bệnh mạn tính đòi hỏi bệnh nhân phải thực hiện các hành vi tự chăm sóc phức tạp hàng ngày Tuân thủ dùng thuốc là một trong 7 hành vi tự chăm sóc thiết yếu để tự quản lý đái tháo đường [84] Các nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường đã ghi nhận mối liên quan

Trang 2

giữa tuân thủ dùng thuốc và các kết cục về sức khỏe và chi phí Tuân thủ dùng thuốc tốt liên quan chặt chẽ đến kiểm soát tốt đường huyết [28], [29], [88] và lipid máu [28] Tuân thủ dùng thuốc là yếu tố dự đoán độc lập chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường [61] Ngoài ra, tuân thủ dùng thuốc còn liên quan đến giảm chi phí y tế và giảm sử dụng các nguồn lực y tế [29], [60] do giảm nguy

cơ nhập viện và cấp cứu, giảm thời gian nằm viện, giảm nguy cơ gặp các biến chứng cấp tính do đái tháo đường [41]

1.1.1.3 Các phương pháp đánh giá tuân thủ dùng thuốc

Tuân thủ dùng thuốc có thể được đánh giá bằng phương pháp tính toán dữ liệu hoặc thu thập dữ liệu Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng, hiện không phương pháp nào được coi là tiêu chuẩn vàng

 Phương pháp tính toán dữ liệu:

Cơ sở của phương pháp này là sử dụng các dữ liệu lĩnh thuốc sẵn có của bệnh nhân như bệnh án, dữ liệu dược, dữ liệu thanh toán, dữ liệu bảo hiểm để tính toán các chỉ số về mức độ tuân thủ [46] Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá mức độ tuân thủ trong các nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường bao gồm tỷ

lệ sở hữu thuốc (MPR, medication possession ratio) và phần trăm ngày có thuốc (PDC, percetage of days covered) [38] Các phương pháp tính toán dựa trên dữ liệu có sẵn về thuốc có ưu điểm là khách quan, tin cậy, tiết kiệm chi phí [46] Tuy nhiên, các phương pháp này thường ước tính mức độ tuân thủ cao hơn thực tế (overestimate) và không đem lại kết quả mong muốn ở những nơi nguồn lực hạn chế như thiếu dữ liệu điện tử về thuốc kê đơn, những nơi cho phép mua thuốc kê đơn không cần đơn [34]

 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Các phương thường dùng bao gồm đếm thuốc (pill count), giám sát biến cố thuốc (MEMS, medication event monitoring systems), giám sát thuốc (RTMM, real-time medication monitoring), giám sát bằng xét nghiệm hóa sinh (biochemical monitoring) và sử dụng bộ câu hỏi tự báo cáo (self-reported questionnaire) Sử dụng bộ câu hỏi tự báo cáo là phương pháp đánh giá chủ quan thông qua việc tự báo cáo của bệnh nhân Phương pháp này dễ thực hiện, chi phí

Trang 3

thấp, tuy nhiên có thể ước tính quá cao (overestimate) mức độ tuân thủ vì bệnh nhân có thể báo cáo không thành thật Tuy nhiên, phương pháp này có thể áp dụng trong nhiều loại thiết kế nghiên cứu, cho phép đánh giá hành vi của bệnh nhân liên quan đến kém tuân thủ và hỗ trợ xây dựng các can thiệp nhằm cải thiện tuân thủ [46], và được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá tuân thủ cho nhiều thuốc hay đa trị liệu [83]

Nhiều bộ câu hỏi đã được thẩm định để đánh giá tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường, như thang tuân thủ dùng thuốc Morisky (MMAS, Morisky Medication Adherence Scale) [72], các câu hỏi về tuân thủ dùng thuốc trên thang đánh giá các hành vi tự chăm sóc bệnh đái tháo đường (SDSCA, The Summary of Diabetes Self-care Activities) [96], thang báo cáo tuân thủ dùng thuốc (MARS-5, The Medication Adherence Report Scale) [39], thang đánh giá tuân thủ lĩnh thuốc và dùng thuốc (ARMS, The Adherence to Refills and Medication Scale) [63]

1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc

Không tuân thủ được coi là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc kém kiểm soát bệnh đái tháo đường, do đó, xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ

là bước đầu tiên để thiết lập các can thiệp cải thiện tuân thủ Tuân thủ là một vấn

đề đa chiều chịu tác động lẫn nhau của 5 nhóm yếu tố [4], [19], [56], [80], [90], [91], [98]:

 Các yếu tố kinh tế và xã hội: Dân trí, nghề nghiệp, tôn giáo, sắc tộc, tình trạng thu nhập, các hỗ trợ xã hội, nơi cư trú, khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế

 Các yếu tố liên quan đến hệ thống và đội ngũ chăm sóc sức khỏe: Mức độ đồng chi trả, có bảo hiểm y tế, hệ thống phân phối và cấp phát thuốc, sự có sẵn các hướng dẫn chuyên môn, khả năng tư vấn và giáo dục bệnh nhân, mối quan hệ với bệnh nhân, kiến thức về tuân thủ điều trị

 Các yếu tố liên quan đến bệnh/tình trạng sức khỏe: Thời gian mắc bệnh, mức độ nặng của bệnh, bệnh lý mắc kèm (thể chất và tâm thần)

 Các yếu tố liên quan đến liệu pháp điều trị: Thời gian điều trị, tần suất dùng thuốc, số viên uống trong ngày, số thuốc khác nhau, thời điểm dùng thuốc,

Trang 4

gặp tác dụng phụ của thuốc

 Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân: Các yếu tố thể chất như tuổi, giới, đãng trí, khả năng nuốt viên thuốc, thị lực, thính lực; các yếu tố về tâm lý-xã hội như kiến thức về thuốc và bệnh, năng lực tự chăm sóc, thái độ đối với việc điều trị, nhận thức về bệnh, niềm tin tôn giáo, niềm tin vào thuốc, tiếp biến văn hóa, năng lực sức khỏe, tự tin dùng thuốc, mức độ hài lòng với dịch vụ y tế và cản bộ

y tế

1.1.1.5 Thực trạng tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường

Không tuân thủ dùng thuốc là một thực trạng phổ biến và trở thành một trong những rào cản của việc tối ưu hóa hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường [95] Một phân tích gộp ước tính mức độ tuân thủ dùng hạ đường huyết đường uống trên bệnh nhân đái tháo đường cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ dùng thuốc (adherence) với MPR <80% là 67,9%, tỷ lệ duy trì thuốc (persistence) là 56,2% và tỷ lệ ngừng thuốc (discontinuation) là 31,8% [53]

Thực trạng về tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường trong một

số nghiên cứu công bố trong vòng 5 năm trở lại đây được tóm tắt dưới bảng sau Các nghiên cứu sử dụng công cụ đánh giá tuân thủ khác nhau, và tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ được báo cáo giữa các nghiên cứu cũng khác nhau, nhưng đều cho thấy mức độ tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường là chưa tối ưu

Bảng 1.1 Tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu Thiết kế/ cỡ mẫu Phương pháp Kết quả

Trang 5

1.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc

1.1.2.1 Tự tin vào khả năng tự chăm sóc và tự tin dùng thuốc

Tự tin vào khả năng tự chăm sóc (self-efficacy) là một trong những yếu tố quyết định việc tuân thủ các hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân [65] Một nghiên cứu gần đây trên bệnh nhân đái tháo đường ở Lào [58] cũng cho thấy tự tin vào khả năng tự chăm sóc là yếu tố quan trọng nhất giải thích sự thay đổi tuân thủ dùng thuốc

DMSES (Diabetes Management Self-Efficacy) [36] là công cụ tin cậy, được

sử dụng phổ biến để đánh giá sự tự tin vào khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường Công cụ DMSES ban đầu gồm 20 câu nhằm đánh giá mức độ tự tin của bệnh nhân khi thực hiện các hành vi tự chăm sóc như chọn thực phẩm phù hợp, điều chỉnh mức đường huyết Sau khi bộ công cụ được thẩm định trên bệnh nhân ở Anh, DMSES được giản lược còn 15 câu [16] DMSES đã được dịch và

áp dụng trên bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam [2]

Trang 6

Tự tin dùng thuốc (medication self-efficacy) là thuật ngữ để chỉ sự tự tin về khả năng dùng thuốc của bệnh nhân - một trong các hành vi tự chăm sóc quan trọng Tự tin dùng thuốc cũng được nhiều nghiên cứu khẳng định là yếu tố thúc đẩy tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường [24], [52] Tự tin dùng thuốc còn đóng vai trò trung gian (mediator) trong mối quan hệ giữa năng lực sức khỏe (health literacy) và tuân thủ dùng thuốc [6]

Để đánh giá mức độ tự tin dùng thuốc trên bệnh nhân có bệnh lý mạn tính, thang đo mức độ tự tin dùng thuốc đúng cách SEAMS (The Self-Efficacy for Appropriate Medication Use Scale) [85] là phương pháp được sử dụng phổ biến SEAMS được xây dựng và thẩm định trên bệnh nhân có bệnh mạch vành cho thấy

độ tin cậy cao (Cronbach’s α = 0,89) SEAMS có thể phù hợp để sử dụng cho cả bệnh nhân có trình độ dân trí thấp

1.1.2.2 Niềm tin về thuốc

Niềm tin về thuốc của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến mong muốn dùng thuốc của họ Các niềm tin khác nhau của bệnh nhân về thuốc nói chung (ví dụ, niềm tin thuốc là có hại, dùng thuốc là lạm dụng) và về thuốc đang sử dụng nói riêng (ví dụ niềm tin về sự cần thiết của các thuốc đang dùng, lo lắng về tác dụng phụ của chúng) có thể làm thay đổi tuân thủ dùng thuốc [5] Càng tăng niềm tin vào sự cần thiết của thuốc thì càng tăng tuân thủ, và ngược lại, càng lo lắng về ảnh hưởng và sự bất tiện của thuốc thì tuân thủ càng kém [50], [51]

Nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường cũng tìm thấy mối liên quan giữa niềm tin về thuốc đang sử dụng và tuân thủ dùng thuốc Khi bệnh nhân tin rằng không cần dùng thuốc đái tháo đường khi đường huyết ổn định, lo lắng về tác dụng phụ của thuốc đái tháo đường, cảm giác khó dùng thuốc, thì đây là những yếu tố dự đoán tuân thủ kém [71] Bệnh nhân đái tháo đường thường có các bệnh mắc kèm nên cần sử dụng thêm các thuốc khác như thuốc hạ huyết áp và hạ lipid máu Khi niềm tin về sự cần thiết của các thuốc thuốc hạ huyết áp và thuốc hạ lipid máu tăng lên thì việc tuân thủ các thuốc này cũng có xu hướng tăng lên [25]

Trang 7

BMQ (Beliefs about Medicines Questionnaire) [5] là công cụ phổ biến nhất dùng để đánh giá niềm tin của bệnh nhân về thuốc BMQ gồm 18 câu hỏi, chia thành 2 phần lớn là niềm tin về thuốc nói chung (BMQ-Chung) và niềm tin về thuốc bệnh nhân đang sử dụng (BMQ-Chuyên biệt) BMQ đã được thích ứng trên bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp ở Việt Nam [76]

1.1.2.3 Năng lực sức khỏe và năng lực thuốc

Năng lực hiểu và vận dụng thông tin về sức khỏe (health literacy, sau đây gọi tắt là năng lực sức khỏe) là “là mức độ mà mỗi cá nhân có thể thu nhận, xử lý, hiểu và sử dụng thông tin cần thiết liên quan đến sức khỏe để đưa ra các quyết định sáng suốt về sức khỏe” [35] Năng lực sức khỏe có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc như giáo dục, nhận thức, kiến thức về bệnh

và thuốc, hỗ trợ xã hội và tự tin vào khả năng tự chăm sóc, vì vậy năng lực sức khỏe có thể ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc Nhiều tác giả cho thấy năng lực sức khỏe không chỉ ảnh hưởng trực tiếp lên các hành vi tự chăm sóc trên bệnh nhân đái tháo đường, bao gồm tuân thủ dùng thuốc, mà còn có tác động gián tiếp lên các hành vi này thông qua điều hòa (moderator) các yếu tố khác như tự tin vào khả năng tự chăm sóc, lo lắng về thuốc và nhận thức về mối đe dọa của bệnh [66], [93]

HLS-SF12 là công cụ đánh giá năng lực sức khỏe ngắn gồm 12 câu, được xây dựng dựa vào công cụ 47 câu của châu Âu (European Health Literacy Questionnaire, HLS-EU-Q47) HLS-SF12 đã được thẩm định trên ở 6 nước châu

Á bao gồm Indonesia, Kazakhstan, Malaysia, Myanmar, Đài Loan và Việt Nam [45]

Năng lực hiểu và vận dụng thông tin về thuốc (medication literacy, sau đây gọi tắt là năng lực thuốc) - một khía cạnh của năng lực sức khỏe, là “mức độ mà mỗi cá nhân có thể thu nhận, hiểu, truyền đạt, tính toán và xử lý các thông tin cụ thể về thuốc của họ để đưa ra các quyết định sáng suốt về thuốc và sức khỏe nhằm

sử dụng thuốc hiệu quả và an toàn, bất kể phương thức truyền tải thông tin là gì (ví dụ: bằng văn bản, bằng miệng và hình ảnh)” [12] Ảnh hưởng của năng lực thuốc lên tuân thủ dùng thuốc hiện được ít các nghiên cứu đề cập [92], [102] Tuy

Trang 8

nhiên, các nghiên cứu này đều tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa năng lực thuốc và tuân thủ dùng thuốc Bệnh nhân có bệnh lý mạch vành hoặc tăng huyết áp có năng lực thuốc tốt thường có điểm tuân thủ dùng thuốc tối ưu [92], [102] Mối quan hệ giữa năng lực thuốc và tuân thủ dùng thuốc cần được chứng minh trên các đối tượng bệnh nhân khác

Một số công cụ đánh giá năng lực thuốc đã được xây dựng [87], [101], [103] Công cụ MedLixRx SE của Sauceda và cộng sự [87] có thể dùng cho nhiều đối tượng bệnh nhân và được sử dụng khá phổ biến MLM (Medication Literacy Measure) là một công cụ khác được xây dựng gần đây bao gồm 17 câu hỏi thuộc

4 vấn đề về từ vựng liên quan đến thuốc, nhãn thuốc OTC, quảng cáo thực phẩm

bổ sung và đơn kê [67], [101]

1.1.2.4 Kiến thức về bệnh

Kiến thức về bệnh đái tháo đường được coi là một trong những yếu tố quyết định việc tuân thủ các hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường Kiến thức về bệnh còn có mối liên quan chặt chẽ đến mức độ kiểm soát đường huyết Nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường cho thấy kiến thức về bệnh có mối tương quan thuận với tuân thủ dùng thuốc và chất lượng cuộc sống [26], [54]

Có nhiều công cụ đã được sử dụng để đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường, trong đó công cụ của Michigan (Diabetes Knowledge Test – DKT2) là công cụ tin cậy và được dùng phổ biến DKT2 [3] gồm 23 câu hỏi nhiều lựa chọn, trong đó có 14 câu về kiến thức chung và 9 câu về kiến thức sử dụng insulin DKT2 đã được dịch ra tiếng Việt và áp dụng trên bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam [2]

1.1.2.5 Nhận thức về bệnh

Nhận thức của một người về bệnh của mình có thể bao gồm các phương diện như nhận thức về ảnh hưởng của bệnh đến cuộc sống, thời gian kéo dài bệnh, khả năng tự kiểm soát bệnh [37] Một tổng quan hệ thống cho thấy nhiều nghiên cứu

đã ghi nhận mối liên quan giữa nhận thức về bệnh và tuân thủ dùng thuốc, trong

đó các nhận thức có thể làm tăng tuân thủ dùng thuốc là nhận thức về khả năng kiểm soát bệnh và tự kiểm soát bệnh, các nhận thức có thể làm giảm tuân thủ dùng

Trang 9

thuốc là nhận thức về triệu chứng bệnh, nguyên nhân của bệnh, hậu quả của bệnh [91] Trên bệnh nhân đái tháo đường, nhận thức về bệnh đóng vai trò quyết định tuân thủ dùng thuốc [30] Các phương diện nhận thức về bệnh đái tháo đường, có liên quan đến tuân thủ dùng thuốc bao gồm thời gian kéo dài bệnh, tự kiểm soát bệnh, liệu pháp điều trị kiểm soát bệnh, mức độ hiểu biết về bệnh, và ảnh hưởng của bệnh đến cảm xúc là những yếu tố dự đoán tuân thủ dùng thuốc [62]

B-IPQ (Brief-Illness Perceptions Questionnaire) [37] là công cụ tin cậy và được dùng phổ biến để đánh giá nhận thức của bệnh nhân về bệnh của họ B-IPQ gồm 8 câu hỏi và đã được thích ứng trên bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp ở Việt Nam [76]

1.1.2.6 Một số rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm)

Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ bị lo âu và trầm cảm cao gấp 2 lần so với người không bị bệnh Nhiều yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường như việc kiểm soát đường huyết, kết quả điều trị dài hạn, sự quan tâm của gia đinh, cảm giác không được các y bác sĩ quan tâm Những bệnh nhân

bị trầm cảm thường kém tuân thủ dùng thuốc và các hành vi khác như chế độ ăn, tập thể dục, và có xu hướng kiểm soát đường huyết kém [47] Mức độ triệu chứng trầm cảm càng nặng thì càng có liên quan đến không tuân thủ dùng thuốc [49] Bên cạnh đó, trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường còn liên quan đến tăng nguy

cơ biến chứng, giảm chất lượng cuộc sống, nguy cơ tàn tật và tử vong sớm [47] GAD-7 (Generalized Axiety Disorder) là công cụ tự báo cáo ngắn gọn để sàng lọc và đánh giá mức độ nặng của các trường hợp rối loạn lo âu lan tỏa trong chăm sóc sức khỏe ban đầu GAD-7 gồm 7 câu về tần suất xuất hiện những dấu hiệu liên quan đến lo âu [94] PHQ-8 (Patient Health Questionnaire [64] là công

cụ để chẩn đoán sơ bộ trầm cảm trong chăm sóc sức khỏe ban đầu PHQ-8 gồm 8 câu về tần suất xuất hiện những dấu hiệu liên quan đến trầm cảm Các công cụ này đã được dịch và áp dụng trên người Việt Nam [44]

Trang 10

1.1.2.7 Ảnh hưởng của bối cảnh COVID-19

Đại dịch COVID-19 có thể tác động trực tiếp lên tuân thủ dùng thuốc và/hoặc gián tiếp thông qua tác động lên các yếu tố khác liên quan đến tuân thủ như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc và tâm lý bệnh nhân

 Ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc

Đại dịch COVID-19 đã tạo ra những thử thách chưa từng có đối với các hệ thống y tế trên toàn thế giới Các bệnh viện nhanh chóng phải tái cấu trúc lại các dịch vụ để có thể đối phó với số lượng bệnh nhân COVID-19 tăng lên Điều này khiến cho nhiều hệ thống y tế phải trì hoãn hoặc thu hẹp phạm vi các hoạt động quản lý các bệnh không lây nhiễm như khám ngoại trú định kỳ, mổ phiên nhằm giảm số bệnh nhân đến bệnh viện vì lí do không quá cấp bách, từ đó giảm gánh nặng y tế cho các bệnh viện và giảm nguy cơ lây nhiễm Ở nhiều quốc gia còn xảy ra tình trạng thiếu hụt nhân viên y tế do nhiều người trong số họ đã bị nhiễm COVID-19 [10] Ngoài ra, nhiều bệnh nhân ngần ngại sử dụng các dịch vụ y tế

do lo ngại sự lây lan bệnh trong các cơ sở y tế, và cũng có thể do hiểu sai các hướng dẫn của chính phủ rằng các dịch vụ y tế không được mở cho các đối tượng không nhiễm COVID-19 Xu hướng này dẫn đến sự giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân đến khám chữa bệnh ở bệnh viện [15]

Trong giai đoạn đại dịch chưa từng có này, việc cung ứng thuốc toàn cầu có thể bị ảnh hưởng nặng nề Hậu quả của việc thiếu thuốc có thể sẽ thảm khốc và kéo dài, chủ yếu do sự gián đoạn kinh tế toàn cầu với tốc độ và qui mô chưa từng

có [32] Theo một báo cáo ở Mỹ [89], tình trạng thiếu thuốc trong năm 2020 tăng

so với năm 2019 và tiếp tục tăng trước những làn sóng mới của đại dịch

COVID-19 Việc thiếu hụt thuốc càng tác động mạnh hơn đến việc điều trị các bệnh lý không lây nhiễm, từ đó ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tử vong

 Ảnh hưởng lên tâm lý bệnh nhân

Đại dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của tất cả mọi người trên toàn thế giới Nỗi lo lắng thường trực về sự vô tình lây nhiễm virus, sự căng thẳng vì bị nhốt trong nhà và không thể gặp người thân và họ hàng

đã ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần của mọi người Ngoài ra, những tin

Trang 11

tức đột ngột vầ gần như liên tục về các đợt bùng phát có thể khiến bất cứ ai cảm thấy lo lắng [33] Các biện pháp cách ly và giãn cách xã hội sẽ dẫn đến giảm tiếp xúc xã hội, làm tăng nguy cơ dẫn đến những rối loạn về sức khỏe tâm thần, như

sợ hãi, lo âu, trầm cảm [10]

Bệnh nhân đái tháo đường có xu hướng có các rối loạn tâm lý như trầm cảm (depression) và lo âu (anxiety), và những rối loạn này sẽ trở nên trầm trọng hơn trong giai đoạn dịch bệnh Những cảm xúc tiêu cực này sẽ ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết trong giai đoạn dịch bệnh [33] Các biện pháp phong tỏa làm tăng căng thẳng và lo âu, tăng cân và giảm luyện tập trên bệnh nhân đái tháo đường [14] Việc tăng căng thẳng có thể dẫn đến khó kiểm soát đường huyết [70] Nâng cao năng lực sức khỏe có thể là một cách để bảo vệ tâm lý, từ đó có thể giúp cải thiện các hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân trong đại dịch [44], [74]

 Ảnh hưởng lên tuân thủ dùng thuốc

Tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân mắc bệnh mạn tính có thể giảm trong thời gian đại dịch COVID-19 Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ lĩnh thuốc hạ lipid máu và các liệu pháp sinh học tăng lên trong thời gian phong tỏa toàn lãnh thổ ở Italia [42] Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân mạn tính không giảm hoặc được cải thiện Nghiên cứu của Samargandy

và cs [86] ghi nhận thấy ở hầu hết bệnh nhân có bệnh lý tim mạch được nghiên cứu, tuân thủ dùng thuốc không thay đổi hoặc tăng lên trong giai đoạn đại dịch Kaye và cộng sự [59] rà soát dữ liệu điện tử về việc sử dụng các thuốc hít của bệnh nhân hen và COPD đã phát hiện sự tăng tuân thủ dùng các thuốc này trong giai đoạn COVID-19 Trên bệnh nhân đái tháo đường típ 1 ở Ả rập Saudi [70], việc phong tỏa hầu như không ảnh hưởng đến tuân thủ dùng insulin

1.1.3 Các nghiên cứu trên bệnh nhân Việt Nam

Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về tuân thủ dùng thuốc trong các bệnh lý lây nhiễm như lao, HIV đã được công bố [57], [75], [97] Trong khi đó, tuân thủ dùng thuốc trong các bệnh lý không lây nhiễm được đề cập rải rác trong một số công

bố quốc tế trên bệnh nhân tăng huyết áp [78], nhồi máu cơ tim [69], bệnh mạch vành [77] và COPD [73], [79], rất ít nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường

Trang 12

Những nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân có bệnh mạn tính chưa tốt Nguyen và cs [78] nghiên cứu trên bệnh nhân tăng huyết

áp ở 4 huyện miền núi phía Bắc, sử dụng phương pháp đếm thuốc (pill count) với ngưỡng tuân thủ ≥ 80%, cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc là là 49,8%, trong đó tuổi là yếu tố liên quan đến tuân thủ

Luu và cộng sự [69] khảo sát tuân thủ dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim sau can thiệp mạch vành ở Viện Tim mạch Việt Nam bằng bộ câu hỏi tự xây, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc ở tháng thứ nhất cao, nhưng sau đó giảm dần theo thời gian Những yếu tố liên quan đến tuân thủ tốt trên đối tượng bệnh nhân này bao gồm thu nhập hàng tháng, khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ và tái khám đúng lịch hẹn Nguyen và cộng sự [77] sử dụng bộ câu hỏi MMAS-8 để phỏng vấn bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp trong một thử nghiệm RCT, kết quả là 77% bệnh nhân ở nhóm chứng tuân thủ tốt

Trên bệnh nhân COPD, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ tốt dùng các thuốc điều trị COPD – đánh giá bằng MMAS-8 là 37,7% [79] Ngo và cộng sự [73] phát hiện 50% bệnh nhân COPD tại Trung tâm hô hấp bệnh viện Bạch Mai tuân thủ kém việc sử dụng dụng cụ hít

Thực trạng tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 được

mô tả trong một số ít công bố trong nước, cho thấy tuân thủ dùng thuốc trên đối tượng bệnh nhân này cần phải được cải thiện Nghiên cứu của Đỗ Hồng Thanh và

cs [20] đăng trên tạp chí Y học dự phòng 2017 tiến hành trên 822 bệnh nhân tại bệnh viện Thanh Nhàn phát hiện tỷ lệ bệnh nhân quên thuốc là 12,9% (trong đó 55,7% trường hợp quên thuốc viên uống và 44,3% quên thuốc tiêm) Nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang và Hà Văn Như [8] đăng trên tạp chí Y học thực hành năm 2013 trên 210 người bệnh Đái tháo đường típ 2 ngoại trú tại bệnh viện 198 phát hiện 21,9% không tuân thủ dùng thuốc Yếu tố liên quan đến không tuân thủ thuốc là không tự theo dõi đường huyết tại nhà và ở xa bệnh viện Báo cáo của Nguyễn Hồng Phát và cs [21] trong Hội nghị dược bệnh viện Hà Nội 2018 trên

282 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y Dược Huế

Trang 13

cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ kém là 31,9% Các yếu tố liên quan đến tuân thủ là trình độ học vấn, chế độ dùng thuốc, mức độ được nhắc nhở tuân thủ từ cán

bộ y tế, mức độ hài lòng về chất lượng y tế tại bệnh viện

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân mắc bệnh mạn tính nói chung và đái tháo đường nói riêng cho thấy tỷ lệ đáng kể bệnh nhân chưa tuân thủ Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số yếu tố liên quan đến tuân thủ, như các yếu tố về kinh tế-xã hội (thu nhập, trình độ học vấn), hệ thống y tế (khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, mức độ hướng dẫn của nhân viên

y tế, mức độ hài lòng về dịch vụ y tế) và thuốc (chế độ dùng thuốc) Các yếu tố tâm lý-xã hội của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc chưa được các nghiên cứu phát hiện

1.2 Sự cần thiết tiến hành nghiên cứu

Các bệnh không lây nhiễm, bao gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, ung thư

và COPD đang trở thành vấn đề y tế nghiêm trọng ở các nước có thu nhập thấp

và trung bình, như Việt Nam Đây là những quốc gia dễ chịu tổn thương trước tác động của các bệnh lý này lên phát triển kinh tế xã hội, phát triển nhân lực và sức khỏe cộng đồng [17], [40] Tỷ lệ tử vong do các bệnh không lây nhiễm ở nước ta ước tính chiếm khoảng 77% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân [9]

Tháng 3 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng chống các bệnh không lây nhiễm trong giai đoạn 2015-2025” trên quan điểm rằng các bệnh lý này đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng

và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước do số người mắc bệnh nhiều, gây tàn tật và tử vong cao Phòng chống các bệnh không lây nhiễm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân, trong đó ngành Y tế là nòng cốt Một trong

6 nhóm giải pháp được đưa ra là nâng cao năng lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực phòng chống bệnh [13] Đái tháo đường là một trong những bệnh lý ưu tiên trong chiến lược này Tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nước ta là 4,9%;

tử vong do đái tháo đường chiếm 3% tổng số trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân [18]

Trang 14

Giống như các bệnh mạn tính khác, việc điều trị đái tháo đường đòi hỏi bệnh nhân phải tự đưa ra các quyết định và thực hiện các hành vi tự chăm sóc hàng ngày Tuân thủ dùng thuốc là một trong 7 hành vi tự chăm sóc thiết yếu của bệnh nhân đái tháo đường để tự quản lý bệnh hiệu quả và thành công [84] Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới và một số ít nghiên cứu trong nước đều cho thấy tỷ

lệ bệnh nhân đái tháo đường không tuân thủ dùng thuốc là đáng kể và là vấn đề cấp bách cần được cải thiện

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ kém là bước đầu tiên để thiết lập các can thiệp nhằm cải thiện tuân thủ dùng thuốc Rất nhiều yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân có bệnh lý mạn tính đã được xác định, tuy nhiên, quan trọng hơn là cần phát hiện ra các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được Một số yếu tố thay đổi được liên quan đến bệnh nhân và có ý nghĩa hơn cả trong dự đoán tuân thủ dùng thuốc như tự tin vào năng lực bản thân, nhận thức về những rào cản và sự nhạy cảm của bệnh, niềm tin vào sự cần thiết của thuốc và lo lắng về thuốc [48] Trên bệnh nhân đái tháo đường, tự tin dùng thuốc là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc [58] Bên cạnh

đó, niềm tin về sự cần thiết của thuốc có liên quan thuận còn lo lắng về thuốc có liên quan nghịch đến tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường [23], [71] Trong khi niềm tin về thuốc và tự tin dùng thuốc có thể gây ảnh hưởng trực tiếp thì năng lực sức khỏe có thể ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp lên tuân thủ dùng thuốc [6], [11] Năng lực thuốc cũng là một yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc [92], [102], song bằng chứng cho mối quan hệ này còn hạn chế và chưa được xác minh trên bệnh nhân đái tháo đường Những rối loạn tâm lý ở bệnh nhân đái tháo đường như lo âu, trầm cảm cũng có khả năng ảnh hưởng đến hành

vi dùng thuốc của bệnh nhân, và mức độ ảnh hưởng có thể tăng lên trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 hiện nay

Một số nghiên cứu về tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân có bệnh mạn tính như đái tháo đường ở Việt Nam, tuy còn hạn chế, nhưng đã chỉ ra tuân thủ dùng thuốc là yếu tố cần cải thiện trên đối tượng bệnh nhân này Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường đã được ghi nhận

Trang 15

như trình độ học vấn, chế độ dùng thuốc, mức độ nhắc nhở của cán bộ y tế về tuân thủ, mức độ hài lòng về chất lượng y tế, việc tự theo dõi đường huyết tại nhà, khoảng cách từ nhà đến bệnh viện Trong các yếu tố này, một số có thể cải thiện được thông qua tư vấn và giáo dục bệnh nhân, tuy nhiên, để tăng cường tác động lên tuân thủ dùng thuốc, cần lưu ý thêm đến vai trò của các yếu tố tâm lý-xã hội thay đổi được trên bệnh nhân Các yếu tố tâm lý-xã hội thay đổi được liên quan đến bệnh nhân đã được khẳng định là có ý nghĩa hơn cả trong dự đoán tuân thủ, như tự tin dùng thuốc, niềm tin về thuốc, nhận thức về bệnh Xác định những yếu

tố thay đổi được thuộc về bệnh nhân sẽ giúp cải tiến những biện pháp tư vấn và giáo dục nhằm cải thiện chất lượng sử dụng thuốc cho bệnh nhân đái tháo đường Các công cụ tự báo cáo nhằm đánh giá tuân thủ dùng thuốc và các yếu tố tâm lý-xã hội của bệnh nhân đã được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu và trong thực hành lâm sàng ở nhiều nước trên thế giới Đề tài được tiến hành cũng nhằm mục đích áp dụng thử các bộ công cụ này trên bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam,

từ đó xác định được mức độ tin cậy và khả thi khi sử dụng những công cụ này trên bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài có 4 nội dung được thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân Mục tiêu của từng nội dung là:

Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của năng lực thuốc và tự tin dùng thuốc lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Khảo sát thực trạng tuân thủ dùng thuốc, năng lực thuốc, tự tin dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Xác định ảnh hưởng của năng lực thuốc và tự tin dùng thuốc lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của những rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm) và năng lực sức khỏe lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Khảo sát sàng lọc rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm) và năng lực sức khỏe trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Trang 16

- Xác định ảnh hưởng của những rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm) qua sàng lọc và năng lực sức khỏe lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Nội dung 3 : Khảo sát ảnh hưởng của kiến thức về đái tháo đường và tự tin vào khả năng tự chăm sóc lên tuân thủ dùng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Khảo sát thực trạng tuân thủ dùng thuốc, kiến thức về bệnh đái tháo đường

và tự tin vào khả năng tự chăm sóc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Xác định ảnh hưởng của kiến thức về bệnh đái tháo đường và tự tin vào khả năng tự chăm sóc lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân

Nội dung 4: Khảo sát ảnh hưởng của nhận thức về bệnh, niềm tin về thuốc lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp

- Khảo sát nhận thức về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp, niềm tin về thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp, và tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và

hạ tăng huyết áp trên bệnh nhân mắc đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp

- Xác định ảnh hưởng của nhận thức về bệnh và niềm tin về thuốc lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp trên bệnh nhân mắc đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp

Trường hợp không thể tiếp cận bệnh nhân để phỏng vấn trực tiếp, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn bệnh nhân qua điện thoại nội dung Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19, với mục tiêu:

- Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và các hành vi tự chăm sóc khác của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 trong giai đoạn COVID-19 bao gồm: tuân thủ chế độ

ăn lành mạnh, tập thể dục, tự theo dõi đường huyết

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết trong giai đoạnh dịch bệnh COVID-19

Trang 17

3 Nội dung nghiên cứu

4 nội dung đầu tiên dự kiến được thực hiện qua phương pháp phỏng vấn bệnh nhân trực tiếp Trường hợp không tiếp cận được bệnh nhân do bối cảnh COVID-

19, nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện phỏng vấn qua điện thoại

3.1 Khảo sát ảnh hưởng của năng lực thuốc và tự tin dùng thuốc lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Mô tả đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý, đặc điểm liên quan đến COVID-19, đặc điểm cận lâm sàng, đặc điểm về thuốc đang sử dụng theo đơn

- Xác định độ tin cậy nội tại (hệ số Cronbach’s α và hệ số tương quan tổng của từng câu hỏi) của các bộ công cụ đánh giá tuân thủ dùng thuốc MARS-

biến-5, tự tin dùng thuốc SEAMS và năng lực thuốc MLM

- Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc, tự tin dùng thuốc và năng lực thuốc

- Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc và mức độ ảnh hưởng của tự tin dùng thuốc và năng lực thuốc đến tuân thủ dùng thuốc

3.2 Khảo sát ảnh hưởng của những rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm) và năng lực sức khỏe lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

- Mô tả đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý, đặc điểm liên quan đến COVID-19, đặc điểm cận lâm sàng, đặc điểm về thuốc đang sử dụng theo đơn

- Xác định độ tin cậy nội tại (hệ số Cronbach’s α và hệ số tương quan tổng của từng câu hỏi) của các bộ công cụ đánh giá mức độ lo âu GAD-7, trầm cảm PHQ-8 và năng lực sức khỏe HLS-SF12

biến Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc, mức độ rối loạn tâm lý (lo âu, trầm cảm) qua sàng lọc và năng lực sức khỏe

- Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc và mức độ ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm và năng lực sức khỏe đến tuân thủ dùng thuốc

3.3 Khảo sát ảnh hưởng của kiến thức về bệnh đái tháo đường và tự tin vào khả năng tự chăm sóc lên tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường

Trang 18

típ 2

- Mô tả đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý, đặc điểm liên quan đến COVID-19, đặc điểm cận lâm sàng, đặc điểm về thuốc đang sử dụng theo đơn

- Xác định độ tin cậy nội tại (hệ số Cronbach’s α và hệ số tương quan tổng của từng câu hỏi) của các bộ công cụ đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường DKT2 và tự tin vào khả năng tự chăm sóc DMSES

biến Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc, kiến thức về bệnh đái tháo đường và

tự tin vào khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân

- Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và mức độ ảnh hưởng của kiến thức về bệnh đái tháo đường và tự tin vào khả năng

tự chăm sóc đến tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết

3.4 Khảo sát ảnh hưởng của nhận thức về bệnh, niềm tin về thuốc lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường típ

2 kèm tăng huyết áp

- Mô tả đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý, đặc điểm liên quan đến COVID-19, đặc điểm cận lâm sàng, đặc điểm về thuốc đang sử dụng theo đơn

- Xác định độ tin cậy nội tại (hệ số Cronbach’s α và hệ số tương quan tổng của từng câu hỏi) của các bộ công cụ đánh giá niềm tin về thuốc BMQ và nhận thức về bệnh B-IPQ

biến Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp, niềm tin về thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp, nhận thức về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp

- Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và

hạ huyết áp, mức độ ảnh hưởng của niềm tin về thuốc và nhận thức về bệnh đến tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp

3.5 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 (qua điện thoại)

- Mô tả đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm

Trang 19

bệnh lý, đặc điểm liên quan đến COVID-19, đặc điểm cận lâm sàng, đặc điểm về thuốc đang sử dụng theo đơn

- Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết và các hành vi tự chăm sóc khác: tuân thủ chế độ ăn lành mạnh, tập thể dục, tự theo dõi đường huyết tại nhà trong giai đoạn COVID-19

- Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 ngoại trú thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ như sau:

 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Đối với Nội dung 1, 2, 3 và nội dung thực hiện qua điện thoại, tiêu chuẩn lựa chọn là bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường típ 2, tuổi từ 18 trở lên và đang sử dụng ít nhất 1 thuốc hạ đường huyết theo đơn

- Đối với Nội dung 4, tiêu chuẩn lựa chọn là bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 và tăng huyết áp, tuổi từ 18 trở lên và đang sử dụng ít nhất 1 thuốc hạ đường huyết và 1 thuốc hạ huyết áp theo đơn

 Tiêu chuẩn loại trừ

Tiêu chuẩn loại trừ cho cả 4 nội dung là những bệnh nhân:

- Phụ nữ có thai và cho con bú;

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu;

- Có vấn đề sức khỏe tâm thần, không thể giao tiếp được

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang Tại thời điểm tái khám, mỗi bệnh nhân được tuyển chọn vào nghiên cứu sẽ được phỏng vấn qua bộ câu hỏi cấu trúc Trường hợp không thể tiếp cận bệnh nhân để phỏng vấn trực tiếp do bối cảnh của dịch COVID-19, nghiên cứu viên sẽ gọi điện để phỏng vấn bệnh nhân

Ngoài ra, nghiên cứu sẽ thu thập các thông tin về cận lâm sàng và đơn thuốc của bệnh nhân dựa vào bệnh án điện tử, bệnh án giấy hoặc sổ y bạ của bệnh nhân

Trang 20

4.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian thực hiện nghiên cứu: 12 tháng

- Địa điểm: một số bệnh viện có quản lý bệnh nhân đái tháo đường típ 2 ngoại trú và chấp thuận tiến hành nghiên cứu, dự kiến bao gồm:

Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn;

Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An;

Bệnh viện Đa khoa Ba Vì;

Trung tâm y tế Quế Võ;

Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Ninh;

Bệnh viện ĐK Tư nhân Hùng Vương;

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình;

Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh;

Trung tâm Y tế huyện Đoan Hùng

Mỗi nội dung nghiên cứu được thực hiện tại ít nhất 1 bệnh viện Mỗi bệnh viện có thể triển khai một hoặc nhiều nội dung nghiên cứu

Các bệnh viện dự kiến triển khai sẽ được xin xác nhận phối hợp thực hiện đề tài Vì tình hình dịch bệnh COVID-19 có thể làm quá trình thu thập số liệu tại các bệnh viện bị gián đoạn hoặc không thực hiện được, do đó, kết quả của đề tài sẽ được báo cáo dựa vào số liệu thực tế thu thập được

4.2.3 Phương pháp lấy mẫu

 Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu thuận tiện

 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được ước tính theo số lượng biến độc lập dự kiến được

sử dụng để xác định mối liên quan đến kết cục chính (tuân thủ dùng thuốc) Mỗi biến độc lập nên tương ứng ít nhất 10 đối tượng nghiên cứu, do đó, cỡ mẫu ước tính cho mỗi nội dung nghiên cứu như sau:

- Nội dung 1: Số biến độc lập dự kiến là 25 Cỡ mẫu dự kiến là 250

- Nội dung 2: Số biến độc lập dự kiến là 25 Cỡ mẫu dự kiến là 250

- Nội dung 3: Số biến độc lập dự kiến là 25 Cỡ mẫu dự kiến là 250

- Nội dung 4: Số biến độc lập dự kiến là 25 Cỡ mẫu dự kiến là 250

- Trường hợp phỏng vấn qua điện thoại: Số biến độc lập dự kiến là 25 Cỡ

Trang 21

mẫu dự kiến là 250

Tình hình dịch bệnh COVID-19 có thể làm quá trình thu thập số liệu tại các bệnh viện bị gián đoạn hoặc không thực hiện được, do đó, kết quả của từng nội dung sẽ được báo cáo dựa vào số lượng bệnh nhân thực tế thu thập đủ thông tin

 Lựa chọn bệnh nhân:

Trường hợp phỏng vấn bệnh nhân trực tiếp: dựa vào thông tin của bệnh nhân trên bệnh án, sổ y bạ hoặc đơn thuốc (khi bệnh đến khám hoặc lĩnh thuốc), bệnh nhân sẽ được sàng lọc theo tiêu chuẩn lựa chọn Những bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được mời tham gia nghiên cứu

Trường hợp phỏng vấn bệnh nhân qua điện thoại: bệnh nhân được sàng lọc theo tiêu chuẩn lựa chọn dựa vào thông tin bệnh nhân được lưu trên hệ thống quản

lý của bệnh viện Số điện thoại của những bệnh nhân được lựa chọn được trích xuất từ hệ thống quản lý này Bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được gọi điện mời tham gia nghiên cứu

4.3 Qui trình nghiên cứu:

4.3.1 Chuẩn bị các công cụ đánh giá

Các công cụ sử dụng bao gồm: công cụ đánh giá tuân thủ MARS-5, tự tin dùng thuốc SEAMS, năng lực thuốc MLM, lo âu GAD-7, trầm cảm PHQ-8, năng lực sức khỏe HLS-FS12, kiến thức về đái tháo đường DKT2, tự tin vào khả năng

tự chăm sóc DMSES, niềm tin về thuốc BMQ, nhận thức về bệnh B-IPQ Nhóm nghiên cứu phải xin phép tác giả gốc của các bộ công cụ này trước khi sử dụng trong nghiên cứu

Các bộ công cụ đã có sẵn bản tiếng Việt là: GAD-7, PHQ-8, HLS-FS12, DKT2, DMSES, BMQ và B-IPQ Các bộ MARS-5, SEAMS và MLM được dịch

từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt theo qui trình sau: dịch xuôi Anh-Việt, dịch ngược Việt-Anh, xin ý kiến chuyên gia và tác giả về bản dịch, thử trên 5 bệnh nhân về mức độ dễ hiểu rồi chỉnh sửa và hoàn thiện bản dịch

4.3.2 Xây dựng phiếu thu thập thông tin cho từng nội dung nghiên cứu

4.3.2.1 Phiếu thu thập thông tin cho nội dung 1 (Phụ lục 1)

Phiếu được tích hợp các câu hỏi về:

Trang 22

 Thông tin về nhân khẩu học

- Tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo

- Cân nặng, chiều cao

- Nơi ở (thành thị, nông thôn, miền núi)

- Tình trạng hôn nhân (độc thân, kết hôn, li dị, li thân, vợ/chồng đã mất)

- Học vấn (dưới phổ thông, phổ thông, đại học/cao đẳng/trung cấp)

- Tình trạng việc làm (đi làm, tự sản xuất kinh doanh, nghỉ hưu, không có việc làm)

- Thu nhập hàng tháng, tình trạng thu nhập so với trước thời kì COVID (tăng, giảm, giữ nguyên)

- Bảo hiểm y tế (không có, bảo hiểm chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, bảo hiểm chi trả một phần chi phí khám chữa bệnh)

 Đặc điểm bệnh lý và dùng thuốc

- Thời gian mắc bệnh đái tháo đường

- Các bệnh lý mắc kèm

- Các biến chứng bệnh đái tháo đường

- Được kê đơn insulin

- Tự dùng thêm các thuốc và các sản phẩm hỗ trợ điều trị ngoài đơn

 Đặc điểm liên quan đến COVID-19

- 1 câu hỏi về mức độ ảnh hưởng của tình trạng COVID-19 đến cảm xúc (căng thẳng, sợ hãi, lo âu, trầm cảm) Mức độ ảnh hưởng được tính trên thang từ

0 đến 10; 0 là không ảnh hưởng chút nào; 10 là cực kỳ ảnh hưởng

- 1 câu hỏi về ảnh hưởng của COVID đến việc tái khám và lĩnh thuốc

 Công cụ đánh giá tuân thủ dùng thuốc

- Dùng công cụ MARS-5 (Medication Adherence Report Scale) [39] để đánh giá tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết mà bệnh nhân đang sử dụng MARS-

5 gồm 5 câu về tần suất quên thuốc, thay đổi liều thuốc, bỏ lỡ 1 liều, ngừng thuốc một thời gian, dùng thuốc ít hơn so với đơn kê, được đánh giá theo thang Likert-

5 (không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, luôn luôn)

- 2 câu hỏi về tình trạng hết thuốc: “Trong vòng 3 tháng trước, Ông/Bà có

Trang 23

khi nào bị hết thuốc hạ đường huyết trước ngày tái khám không?” Nếu bệnh nhân trả lời có, sẽ hỏi tiếp “Ông/Bà có tự mua thêm thuốc hạ đường huyết còn thiếu để dùng hay là bỏ dùng thuốc vài ngày và đợi đến lịch khám tiếp theo để lĩnh/mua thuốc?” [1]

 Công cụ đánh giá tự tin dùng thuốc

Dùng công cụ SEAMS [85] bao gồm 13 câu hỏi về mức độ tự tin dùng thuốc đúng cách trong các hoàn cảnh khác nhau Các phương án trả lời là “1-Không tự tin”, “2-Hơi tự tin” và “3-Rất tự tin” Tổng điểm dao động từ 13 đến 39 điểm, điểm càng cao cho thấy bệnh nhân càng tự tin dùng thuốc đúng cách [85]

 Công cụ đánh giá năng lực thuốc

Sử dụng công cụ MLM (Medication Literacy Measure) [101], gồm 4 phần với tổng số 17 câu hỏi Phần 1 gồm 5 câu hỏi Đúng/Sai về từ vựng liên quan đến thuốc Các phần 2 – 4 là các câu hỏi nhiều lựa chọn về nhãn thuốc không kê đơn (5 câu hỏi), quảng cáo thương mại về thực phẩm bổ sung (3 câu hỏi) và sử dụng thuốc theo đơn (4 câu hỏi) Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, sai hoặc không biết tính 0 điểm Tổng điểm dao động từ 0 đến 17 Năng lực thuốc được phân loại theo 2 mức độ: năng lực cao ( ≥13) điểm) và năng lực thấp (<13 điểm)

4.3.2.2 Phiếu thu thập thông tin cho nội dung 2 (Phụ lục 2)

Giữ nguyên các câu hỏi về nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và dùng thuốc, đặc điểm liên quan đến COVID, công cụ đánh giá tuân thủ dùng thuốc như nội dung 1 Các công cụ sau được tích hợp thêm vào phiếu:

 Công cụ đánh giá mức độ lo âu

Sử dụng công cụ GAD-7, gồm 7 câu về tần suất xuất hiện những dấu hiệu liên quan đến lo âu, mỗi câu có 4 phương án trả lời bao gồm 0-Không có ngày nào; 1-Vài ngày; 2-Hơn phân nửa số ngày; 3-Hầu như mỗi ngày Tổng điểm dao động 0-21 Mức độ lo âu được phân loại theo tổng điểm như sau: nhẹ nhất: 0-4 điểm; nhẹ: 5-9 điểm; trung bình: 10-14 điểm; nặng: 15-21 điểm [94]

 Công cụ đánh giá mức độ trầm cảm

Sử dụng công cụ PHQ-8 (Patient Health Questionnaire) [64] gồm 8 câu về tần suất xuất hiện những dấu hiệu liên quan đến trầm cảm Mỗi câu có 4 phương

Trang 24

án trả lời, bao gồm 0-Không có ngày nào; 1-Vài ngày; 2-Hơn một nửa số ngày; 3-Hầu như mỗi ngày Tổng điểm từ 10 trở lên gợi ý bệnh nhân bị trầm cảm

 Công cụ đánh giá năng lực sức khỏe

Sử dụng công cụ HLS-SF12 gồm 12 câu [45] Mỗi câu có 4 lựa chọn dựa theo thang Likert-4 (từ 1=rất khó đến 4=rất dễ) Chỉ số HL được tính theo công thức: Chỉ số HL = (M-1)*50/3 trong đó M là điểm trung bình của thang HLS-SF12 Chỉ số HL dao động từ 0 đến 50; chỉ số càng cao thì năng lực sức khỏe càng tốt

4.3.2.3 Phiếu thu thập thông tin cho nội dung 3 (Phụ lục 3)

Giữ nguyên các câu hỏi về nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và dùng thuốc, đặc điểm liên quan đến COVID, công cụ đánh giá tuân thủ dùng thuốc như nội dung 1 Các công cụ sau được tích hợp thêm vào phiếu:

 Công cụ đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường

Sử dụng 14 câu hỏi kiến thức chung về bệnh đái tháo đường trong công cụ DKT2 [3] Mỗi câu hỏi có nhiều lựa chọn, bệnh nhân được yêu cầu lựa chọn 1 đáp án cho mỗi câu Mỗi lựa chọn đúng được tính 1 điểm, tổng điểm dao động trong khoảng 0-14 Điểm càng cao cho thấy kiến thức về bệnh đái tháo đường càng tốt

 Công cụ đánh giá tự tin vào khả năng tự chăm sóc

Sử dụng công cụ DMSES gồm 15 câu [16] hỏi về mức độ tự tin của bệnh nhân khi thực hiện các hành vi tự chăm sóc Mỗi câu được đánh giá theo thang Likert-10, 0 là “không thể làm gì cả” và 10 là “chắc chắn có thể làm” Tổng điểm dao động trong khoảng 0-150, điểm càng cao cho thấy bệnh nhân càng tự tin vào khả năng tự chăm sóc của mình

4.3.2.4 Phiếu thu thập thông tin cho nội dung 4 (Phụ lục 4)

Giữ nguyên các câu hỏi về nhân khẩu học, đặc điểm liên quan đến

COVID-19 như nội dung 1 Các công cụ sau được tích hợp thêm vào phiếu:

 Đặc điểm bệnh lý và dùng thuốc

- Thời gian mắc bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp

- Các bệnh lý mắc kèm

Trang 25

- Các biến chứng của bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp

- Được kê đơn insulin

- Tự dùng thêm các thuốc và các sản phẩm hỗ trợ điều trị ngoài đơn

về bệnh, mức độ hiểu về bệnh và mức độ ảnh hưởng của bệnh đến cảm xúc, được đánh giá trên thang từ 0 đến 10

 Công cụ đánh giá tuân thủ dùng thuốc

Dùng bộ câu hỏi MARS-5 (Medication Adherence Report Scale) [39] để lần lượt đánh giá tuân thủ dùng thuốc của các thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp

mà bệnh nhân đang sử dụng

- 2 câu hỏi về tình trạng hết thuốc: “Trong vòng 3 tháng trước, Ông/Bà có khi nào bị hết thuốc hạ đường huyết, thuốc hạ huyết áp trước ngày tái khám không?” Nếu bệnh nhân trả lời có, sẽ hỏi tiếp “Ông/Bà có tự mua thêm thuốc hạ đường huyết, thuốc hạ huyết áp còn thiếu để dùng hay là bỏ dùng thuốc vài ngày

và đợi đến lịch khám tiếp theo để lĩnh/mua thuốc?” [1]

 Công cụ đánh giá niềm tin về thuốc

Sử dụng 10 câu hỏi chuyên biệt về các thuốc được kê trong bộ BMQ (Belief

in Medication Questionnaire) [5] để đánh giá lần lượt niềm tin về các thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp mà bệnh nhân được kê BMQ-chuyên biệt gồm 5 câu

về sự cần thiết của thuốc được kê (Chuyên biệt-Cần thiết) và 5 câu về sự lo lắng

về các thuốc được kê đơn (Chuyên biệt-Lo lắng) Mỗi câu hỏi được trả lời theo thang Likert-5, từ hoàn toàn không đồng ý (1 điểm) đến hoàn toàn đồng ý (5 điểm) Tổng điểm Chuyên biệt-Cần thiết và Chuyên biệt-Lo lắng là 5-25, điểm càng cao thì bệnh nhân càng tin là thuốc cần thiết hoặc càng lo lắng về thuốc đang

sử dụng

Trang 26

Trước khi thu thập số liệu, phiếu thu thập thông tin được thử nghiệm trên bệnh nhân để đánh giá tính dễ hiểu và khả thi, sau đó được chỉnh sửa và hoàn thiện

4.3.2.5 Phiếu thu thập thông tin qua điện thoại (Phụ lục 5)

 Thông tin về nhân khẩu học: như Nội dung 1

 Thông tin về bệnh lý và dùng thuốc: như Nội dung 1 Bổ sung 2 câu hỏi tự xây dựng đánh giá mức lo âu do bệnh và việc điều trị đái tháo đường

 Tuân thủ dùng thuốc: như Nội dung 1

 Ảnh hưởng của dịch COVID-19:

- Trình trạng nhiễm và nghi ngờ nhiễm COVID-19: 1 câu hỏi tự xây

- Nỗi sợ nhiễm COVID-19: 1 câu hỏi tự xây

- Ảnh hưởng của dịch COVID-19 lên các hành vi tự chăm sóc: tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ chế độ ăn lành mạnh, tập thể dục, theo dõi đường huyết

4.3.3 Thu thập thông tin

Trường hợp phỏng vấn bệnh nhân trực tiếp: Những bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được mời tham gia nghiên cứu Bệnh nhân sẽ được cung cấp thông tin về nghiên cứu, nếu bệnh nhân đồng ý tham gia sẽ ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 6) Quá trình phỏng vấn được thực hiện vào thời điểm thích hợp khi bệnh nhân đến bệnh viện khám và lĩnh thuốc theo lịch hẹn, như trong thời gian bệnh nhân đợi khám, đợi lĩnh thuốc, hoặc sau khi bệnh nhân

đã lĩnh thuốc, và không làm ảnh hưởng đến quá trình khám bệnh và lĩnh thuốc của bệnh nhân Trong quá trình phỏng vấn, nghiên cứu viên sẽ đọc to các câu hỏi

và các phương án trả lời để bệnh nhân lựa chọn Các bộ công cụ được in màu to

và rõ, đặt trước mặt bệnh nhân khi phỏng vấn, bệnh nhân có thể trả lời bằng miệng hoặc chỉ tay vào phương án lựa chọn Thời gian phỏng vấn khoảng 20 phút Trường hợp phỏng vấn qua điện thoại: Bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được gọi điện mời tham gia nghiên cứu Bệnh nhân sẽ được cung cấp thông tin về nghiên cứu, chỉ khi bệnh nhân đồng ý tham gia thì mới tiến hành phỏng vấn Thời điểm phỏng vấn qua điện thoại sẽ được thống nhất giữa bệnh nhân và nghiên cứu viên Thời gian phỏng vấn qua điện thoại khoảng 15 phút

Trang 27

Ngoài ra, một số thông tin được trích xuất từ bệnh án điện tử, hoặc bệnh án giấy, hoặc sổ y bạ của bệnh nhân, bao gồm: huyết áp, HbA1C, LDL-C tại thời điểm gần nhất; đơn thuốc tại lần khám trước (tên thuốc, đường dùng, liều 1 lần,

số lần dùng trong ngày)

4.3.4 Giám sát chất lượng nghiên cứu

Các nghiên cứu viên tham gia thu thập số liệu là các dược sĩ đang thực hành tại các bệnh viện, học viên cao học, học viên chuyên khoa và sinh viên năm thứ

4, thứ 5 chuyên ngành Dược lâm sàng trường Đại học Dược Hà Nội Các nghiên cứu viên đều được tập huấn kỹ về nội dung các câu hỏi, phương pháp thu thập dữ liệu, và các vấn đề về đạo đức nghiên cứu Mỗi phiếu thu thập số liệu đều được nghiên cứu viên chính rà soát sau khi hoàn thành

4.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Dữ liệu được nhập vào Excel, được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SAS 9.4 Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả các đặc điểm của bệnh nhân Biến phân loại và biến nhị phân được mô tả dưới dạng tần suất Đối với biến liên tục

và rời rạc, nếu là phân phối chuẩn được mô tả dưới dạng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, nếu không phải là phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng trung vị

và khoảng tứ phân vị (IQR)

Độ tin cậy nội tại (internal consistency reliability) của các bộ công cụ sẽ được xác định bằng hệ số Cronbach’s α và hệ số tương quan biến – tổng của mỗi câu hỏi

Các test Sample-t hoặc ANOVA, Mann-Whitney U hoặc Kruskal-Wallis, và phân tích tương quan Pearson/Spearman được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa điểm tuân thủ dùng thuốc và từng biến số Hồi qui tuyến tính đa biến được

sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc Mức ý nghĩa α=0,05 được sử dụng trong các test kiểm định

4.4 Đạo đức trong nghiên cứu

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện Trước khi đồng ý tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân sẽ được cung cấp đầy đủ các thông tin về mục đích của nghiên cứu, thời gian và qui trình thực hiện, quyền được ngừng

Trang 28

tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào, những lợi ích và bất kỳ tác động tiêu cực nào nghiên cứu có thể gây ra, những cam kết về việc giữ kín thông tin, ai là người họ

có thể tiếp xúc nếu có thắc mắc cần giải đáp

Chỉ những bệnh nhân đồng ý tham gia mới được đưa vào nghiên cứu Trường hợp phỏng vấn trực tiếp, bệnh nhân đồng ý tham gia sẽ ký tên vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu trước khi phỏng vấn Bệnh nhân có quyền ngừng tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào kể cả khi nó đã bắt đầu Việc không tham gia hay ngừng tham gia nghiên cứu không gây bất kỳ tác động tiêu cực nào đến bệnh nhân

Trường hợp phỏng vấn trực tiếp, mỗi bệnh nhân sẽ được phỏng vấn trong vòng 20 phút trong khi đợi khám bệnh hoặc đợi lĩnh thuốc hoặc sau khi đã lĩnh thuốc và không gây bất kỳ cản trở nào đối với hoạt động khám chữa bệnh cho bệnh nhân Trường hợp phỏng vấn qua điện thoại, thời điểm phỏng vấn phù hợp được thống nhất giữa bệnh nhân và người phỏng vấn, thời gian phỏng vấn khoảng

15 phút

Nghiên cứu không thực hiện các biện pháp xâm lấn trên cơ thể người, không can thiệp đến phương pháp điều trị nên không có rủi ro nào cho bệnh nhân Không có thù lao cho người tham gia nghiên cứu Người tham gia nghiên cứu có thể chưa nhận được lợi ích trực tiếp từ việc tham gia nghiên cứu Tuy nhiên, thông tin thu thập được từ người tham gia sẽ được tổng hợp và phân tích,

là cơ sở để đề xuất các biện pháp cải thiện các hoạt động giáo dục và tư vấn cho bệnh nhân hoặc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác cho bệnh nhân đái tháo đường

Các phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (số liệu thô) sẽ được lưu trữ vào tủ lưu trữ tại Bộ môn Dược lâm sàng – Trường Đại học Dược Hà Nội, chỉ các nghiên cứu viên chính của nghiên cứu được tiếp cận, trừ trường hợp cơ quan quản lý có thể kiểm tra thông tin của người tham gia nghiên cứu trong trường hợp cần thiết Khi nhập liệu, mỗi bệnh nhân đều được mã hóa, dữ liệu được lưu trữ tại Bộ môn Dược lâm sàng – Trường Đại học Dược Hà Nội, chỉ những nghiên cứu viên chính được tiếp cận Tất cả các thông tin của bệnh nhân đều được giữ bí mật và không

Trang 29

được chia sẻ với bất kỳ ai ngoài nhóm nghiên cứu, kể cả sau khi nghiên cứu đã được công bố

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Basu Saurav, Khobragade Megha, et al (2015), "Medical adherence and its

predictors in Diabetes Mellitus patients attending government hospitals in the Indian Capital, Delhi, 2013: a cross sectional study", International Journal of Diabetes in Developing Countries, 35(2), pp 95-101

2 Dao-Tran Tiet-Hanh, Anderson Debra, et al (2018), "Factors associated

with self-management among Vietnamese adults with type 2 diabetes", 5(4), pp 507-516

3 Fitzgerald James T., Funnell Martha M., et al (2016), "Validation of the

Revised Brief Diabetes Knowledge Test (DKT2)", The Diabetes Educator, 42(2), pp 178-187

4 Gast Alina, Mathes Tim (2019), "Medication adherence influencing

factors—an (updated) overview of systematic reviews", Systematic Reviews, 8(1), pp 112

5 Horne Robert, Weinman John, et al (1999), "The beliefs about medicines

questionnaire: The development and evaluation of a new method for assessing the cognitive representation of medication", Psychology & Health, 14(1), pp 1-24

6 Huang Yen-Ming, Shiyanbola Olayinka O., et al (2018), "A path model

linking health literacy, medication self-efficacy, medication adherence, and glycemic control", Patient Education and Counseling, 101(11), pp 1906-

1913

7 Huang Yen-Ming, Shiyanbola Olayinka O., et al (2020), "Patient factors

associated with diabetes medication adherence at different health literacy levels: a cross-sectional study at a family medicine clinic", Postgraduate Medicine, 132(4), pp 328-336

8 Lê Thị Hương Giang Hà Văn Như (2013), "Thực trạng và một số yếu tố

liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện 198 năm 2013", Tạp chí Y học thực hành, Số 11, pp 93-97

9 Organization World Health (2018), "Noncommunicable Diseases (NCD)

https://www.who.int/nmh/countries/vnm_en.pdf?ua=1

10 Palmer Katie, Monaco Alessandro, et al (2020), "The potential long-term

impact of the COVID-19 outbreak on patients with non-communicable diseases in Europe: consequences for healthy ageing", Aging Clinical and Experimental Research, 32(7), pp 1189-1194

11 Pereira Maria da Graça, Ferreira Gabriela, et al (2019), "Beliefs about

medicines as mediators in medication adherence in type 2 diabetes", 25(5),

pp e12768

Trang 30

12 Pouliot Annie, Vaillancourt Régis, et al (2018), "Defining and identifying

concepts of medication literacy: An international perspective", Research in Social and Administrative Pharmacy, 14(9), pp 797-804

13 Prime Minister, Approve the National Strategy on prevention and control

of cancers, cardiovascular diseases, diabetes, chronic obstructive pulmonary disease, asthma and other non-communicable diseases period 2015-2025 (No 376/QD-TTg) 2015

14 Ruissen Merel M., Regeer Hannah, et al (2021), "Increased stress, weight

gain and less exercise in relation to glycemic control in people with type 1 and type 2 diabetes during the COVID-19 pandemic", BMJ Open Diabetes Research &amp;amp; Care, 9(1), pp e002035

15 Sankaranarayanan R, Hartshorne-Evans N, et al (2020), "The Impact of

COVID-19 on the Management of Heart Failure -A United Kingdom Patient Questionnaire Study", pp 2020.10.03.20205328

16 Sturt Jackie, Hearnshaw Hilary, et al (2010), "Validity and reliability of

the DMSES UK: a measure of efficacy for type 2 diabetes management", Primary Health Care Research &amp; Development, 11(4),

self-pp 374-381

17 The World Bank (2016), "World Bank national accounts data 2016",

Retrieved, from https://data.worldbank.org/?locations=VN-XN

18 World Health Organization (2016), "Diabetes country profiles", Retrieved,

from https://www.who.int/diabetes/country-profiles/vnm_en.pdf?ua=1

19 World Health Organization (2003), "Adherence to long-term therapies:

Evidence for action", pp

20 Đỗ Hồng Thanh Nguyễn Khắc Hiền, Phạm Huy Tuấn Kiệt, Nguyễn Bá

Hoàn, (2018), "Thực trạng tuân thủ dùng thuốc trong điều trị đái tháo đường typ 2", Tạp chí Y học dự phòng, Tập 28, Số 1, pp

21 Nguyễn Hồng Phát Ngô Thị Kim Cúc, Trương Viết Thành, (2018), Đánh

giá sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, Hội nghị khoa học Dược bệnh viện Hà Nội mở rộng năm 2018,pp

22 Abdullah N F., Khuan L., et al (2019), "Effect of patient characteristics on

medication adherence among patients with type 2 diabetes mellitus: a sectional survey", Contemp Nurse, 55(1), pp 27-37

cross-23 Aflakseir A (2012), "Role of illness and medication perceptions on

adherence to medication in a group of Iranian patients with type 2 diabetes",

J Diabetes, 4(3), pp 243-7

24 Alatawi Y M., Kavookjian J., et al (2016), "The association between

health beliefs and medication adherence among patients with type 2 diabetes", Res Social Adm Pharm, 12(6), pp 914-925

25 Alfian S D., Annisa N., et al (2020), "Modifiable Factors Associated with

Non-adherence to Antihypertensive or Antihyperlipidemic Drugs Are Dissimilar: a Multicenter Study Among Patients with Diabetes in Indonesia", J Gen Intern Med, 35(10), pp 2897-2906

26 AlShayban D M., Naqvi A A., et al (2020), "Association of Disease

Trang 31

Knowledge and Medication Adherence Among Out-Patients With Type 2 Diabetes Mellitus in Khobar, Saudi Arabia", Front Pharmacol, 11, pp 60

27 Aminde L N., Tindong M., et al (2019), "Adherence to antidiabetic

medication and factors associated with non-adherence among patients with type-2 diabetes mellitus in two regional hospitals in Cameroon", BMC Endocr Disord, 19(1), pp 35

28 An S Y., Kim H J., et al (2014), "Clinical and economic outcomes in

medication-adherent and -nonadherent patients with type 2 diabetes mellitus in the Republic of Korea", Clin Ther, 36(2), pp 245-54

29 Asche C., LaFleur J., et al (2011), "A review of diabetes treatment

adherence and the association with clinical and economic outcomes", Clin Ther, 33(1), pp 74-109

30 Ashur S T., Shah S A., et al (2015), "Illness perceptions of Libyans with

T2DM and their influence on medication adherence: a study in a diabetes center in Tripoli", Libyan J Med, 10, pp 29797

31 Ayele A A., Tegegn H G., et al (2019), "Medication regimen complexity

and its impact on medication adherence and glycemic control among patients with type 2 diabetes mellitus in an Ethiopian general hospital", BMJ Open Diabetes Res Care, 7(1), pp e000685

32 Badreldin Hisham A., Atallah Bassam (2021), "Global drug shortages due

to COVID-19: Impact on patient care and mitigation strategies", Research

in social & administrative pharmacy : RSAP, 17(1), pp 1946-1949

33 Banerjee M., Chakraborty S., et al (2020), "Diabetes self-management

amid COVID-19 pandemic", Diabetes Metab Syndr, 14(4), pp 351-354

34 Basu Saurav, Garg Suneela, et al (2019), "Improving the assessment of

medication adherence: Challenges and considerations with a focus on resource settings", Ci ji yi xue za zhi = Tzu-chi medical journal, 31(2), pp 73-80

low-35 Berkman N D., Davis T C., et al (2010), "Health literacy: what is it?", J

Health Commun, 15 Suppl 2, pp 9-19

36 Bijl J V., Poelgeest-Eeltink A V., et al (1999), "The psychometric

properties of the diabetes management self-efficacy scale for patients with type 2 diabetes mellitus", J Adv Nurs, 30(2), pp 352-9

37 Broadbent E., Petrie K J., et al (2006), "The brief illness perception

questionnaire", J Psychosom Res, 60(6), pp 631-7

38 Capoccia K., Odegard P S., et al (2016), "Medication Adherence With

Diabetes Medication: A Systematic Review of the Literature", Diabetes Educ, 42(1), pp 34-71

39 Chan A H Y., Horne R., et al (2019), "The Medication Adherence Report

Scale (MARS-5): a measurement tool for eliciting patients' reports of adherence", Br J Clin Pharmacol, pp

non-40 Checkley W., Ghannem H., et al (2014), "Management of NCD in low-

and middle-income countries", Glob Heart, 9(4), pp 431-43

41 Curtis S E., Boye K S., et al (2017), "Medication adherence and improved

outcomes among patients with type 2 diabetes", Am J Manag Care, 23(7),

Trang 32

pp e208-e214

42 Degli Esposti L., Buda S., et al (2020), "Implications of COVID-19

Infection on Medication Adherence with Chronic Therapies in Italy: A Proposed Observational Investigation by the Fail-to-Refill Project", Risk Manag Healthc Policy, 13, pp 3179-3185

43 Dhippayom T., Krass I (2015), "Medication-taking behaviour in New

South Wales patients with type 2 diabetes: an observational study", Aust J Prim Health, 21(4), pp 429-37

44 Do B N., Nguyen P A., et al (2020), "Determinants of Health Literacy

and Its Associations With Health-Related Behaviors, Depression Among the Older People With and Without Suspected COVID-19 Symptoms: A Multi-Institutional Study", Front Public Health, 8, pp 581746

45 Duong T V., Aringazina A., et al (2019), "Development and Validation of

a New Short-Form Health Literacy Instrument (HLS-SF12) for the General Public in Six Asian Countries", Health Lit Res Pract, 3(2), pp e91-e102

46 Forbes C A., Deshpande S., et al (2018), "A systematic literature review

comparing methods for the measurement of patient persistence and adherence", Curr Med Res Opin, 34(9), pp 1613-1625

47 Gonzalez Heredia T., González-Ramírez L P., et al (2021), "Anxious

depression in patients with Type 2 Diabetes Mellitus and its relationship with medication adherence and glycemic control", Glob Public Health, 16(3), pp 460-468

48 Holmes E A., Hughes D A., et al (2014), "Predicting adherence to

medications using health psychology theories: a systematic review of 20 years of empirical research", Value Health, 17(8), pp 863-76

49 Hoogendoorn C J., Shapira A., et al (2019), "Depressive symptom

dimensions and medication non-adherence in suboptimally controlled type

2 diabetes", J Diabetes Complications, 33(3), pp 217-222

50 Horne R., Chapman S C., et al (2013), "Understanding patients'

adherence-related beliefs about medicines prescribed for long-term conditions: a meta-analytic review of the Necessity-Concerns Framework", PLoS One, 8(12), pp e80633

51 Horne R., Weinman J (1999), "Patients' beliefs about prescribed medicines

and their role in adherence to treatment in chronic physical illness", J Psychosom Res, 47(6), pp 555-67

52 Huang Y M., Shiyanbola O O., et al (2018), "Association of health

literacy and medication self-efficacy with medication adherence and diabetes control", Patient Prefer Adherence, 12, pp 793-802

53 Iglay K., Cartier S E., et al (2015), "Meta-analysis of studies examining

medication adherence, persistence, and discontinuation of oral antihyperglycemic agents in type 2 diabetes", Curr Med Res Opin, 31(7),

pp 1283-96

54 Ishaq R., Haider S., et al (2020), "Diabetes-related Knowledge, Medication

Adherence, and Health-related Quality of Life: A Correlation Analysis", Altern Ther Health Med, pp

Trang 33

55 Jaam M., Mohamed Ibrahim M I., et al (2018), "Assessing prevalence of

and barriers to medication adherence in patients with uncontrolled diabetes attending primary healthcare clinics in Qatar", Prim Care Diabetes, 12(2),

pp 116-125

56 Jang D E., Zuñiga J A (2020), "Factors associated with medication

persistence among ischemic stroke patients: a systematic review", Neurol Res, 42(7), pp 537-546

57 Jordan M R., Obeng-Aduasare Y., et al (2014), "Correlates of

non-adherence to antiretroviral therapy in a cohort of HIV-positive drug users receiving antiretroviral therapy in Hanoi, Vietnam", International journal

of STD & AIDS, 25(9), pp 662-668

58 Kang Y., Hur Y (2020), "Medication Adherence and Its Associated Factors

in Laotians With Type 2 Diabetes Mellitus", Clin Nurs Res, 29(5), pp

331-338

59 Kaye Leanne, Theye Benjamin, et al (2020), "Changes in medication

adherence among patients with asthma and COPD during the COVID-19 pandemic", The journal of allergy and clinical immunology In practice, 8(7), pp 2384-2385

60 Kennedy-Martin T., Boye K S., et al (2017), "Cost of medication

adherence and persistence in type 2 diabetes mellitus: a literature review", Patient Prefer Adherence, 11, pp 1103-1117

61 Khayyat S M., Mohamed M M A., et al (2019), "Association between

medication adherence and quality of life of patients with diabetes and hypertension attending primary care clinics: a cross-sectional survey", Qual Life Res, 28(4), pp 1053-1061

62 Kim H., Sereika S M., et al (2020), "Illness Perceptions, Self-efficacy, and

Self-reported Medication Adherence in Persons Aged 50 and Older With Type 2 Diabetes", J Cardiovasc Nurs, pp

63 Kripalani S., Risser J., et al (2009), "Development and evaluation of the

Adherence to Refills and Medications Scale (ARMS) among low-literacy patients with chronic disease", Value Health, 12(1), pp 118-23

64 Kroenke K., Spitzer R L., et al (2001), "The PHQ-9: validity of a brief

depression severity measure", J Gen Intern Med, 16(9), pp 606-13

65 Ku G M., Kegels G (2015), "Knowledge, attitudes and perceptions of

people with type 2 diabetes as related to self-management practices: Results

of a cross-sectional study conducted in Luzon, Philippines", Chronic Illn, 11(2), pp 93-107

66 Lee E H., Lee Y W., et al (2016), "A Structural Equation Model Linking

Health Literacy to Self-efficacy, Self-care Activities, and Health-related Quality of Life in Patients with Type 2 Diabetes", Asian Nurs Res (Korean Soc Nurs Sci), 10(1), pp 82-7

67 Lin H W., Chang E H., et al (2020), "Conceptualization, Development

and Psychometric Evaluations of a New Medication-Related Health Literacy Instrument: The Chinese Medication Literacy Measurement", Int

J Environ Res Public Health, 17(19), pp

Trang 34

68 Lin L K., Sun Y., et al (2017), "Medication adherence and glycemic

control among newly diagnosed diabetes patients", BMJ Open Diabetes Res Care, 5(1), pp e000429

69 Luu N M., Dinh A T., et al (2019), "Adherence to Antiplatelet Therapy

after Coronary Intervention among Patients with Myocardial Infarction Attending Vietnam National Heart Institute", Biomed Res Int, 2019, pp

6585040

70 Magliah S F., Zarif H A., et al (2020), "Managing Type 1 Diabetes among

Saudi adults on insulin pump therapy during the COVID-19 lockdown", Diabetes Metab Syndr, 15(1), pp 63-68

71 Mann D M., Ponieman D., et al (2009), "Predictors of adherence to

diabetes medications: the role of disease and medication beliefs", J Behav Med, 32(3), pp 278-84

72 Morisky D E., Ang A., et al (2008), "Predictive validity of a medication

adherence measure in an outpatient setting", J Clin Hypertens (Greenwich), 10(5), pp 348-54

73 Ngo C Q., Phan D M., et al (2019), "Inhaler Technique and Adherence to

Inhaled Medications among Patients with Acute Exacerbation of Chronic Obstructive Pulmonary Disease in Vietnam", Int J Environ Res Public Health, 16(2), pp

74 Nguyen H C., Nguyen M H., et al (2020), "People with Suspected

COVID-19 Symptoms Were More Likely Depressed and Had Lower Health-Related Quality of Life: The Potential Benefit of Health Literacy",

J Clin Med, 9(4), pp

75 Nguyen T A., Pham M T., et al (2017), "Video Directly Observed

Therapy to support adherence with treatment for tuberculosis in Vietnam:

A prospective cohort study", Int J Infect Dis, 65, pp 85-89

76 Nguyen T., Cao H T K., et al (2019), "The Vietnamese Version of the

Brief Illness Perception Questionnaire and the Beliefs about Medicines Questionnaire: Translation and Cross-cultural Adaptation", Trop Med Int Health, 24(12), pp 1465-1474

77 Nguyen T., Nguyen T H., et al (2018), "Pharmacist-Led Intervention to

Enhance Medication Adherence in Patients With Acute Coronary Syndrome in Vietnam: A Randomized Controlled Trial", Front Pharmacol,

9, pp 656

78 Nguyen T P., Schuiling-Veninga C C., et al (2017), "Adherence to

hypertension medication: Quantitative and qualitative investigations in a rural Northern Vietnamese community", PLoS One, 12(2), pp e0171203

79 Nguyen T S., Nguyen T L H., et al (2019), "Impact of pharmaceutical

care in the improvement of medication adherence and quality of life for COPD patients in Vietnam", Respir Med, 153, pp 31-37

80 Ni Z., Dardas L., et al (2019), "Cardioprotective medication adherence

among patients with coronary heart disease in China: a systematic review", Heart Asia, 11(2), pp e011173

81 Nonogaki A., Heang H., et al (2019), "Factors associated with medication

Trang 35

adherence among people with diabetes mellitus in poor urban areas of Cambodia: A cross-sectional study", PLoS One, 14(11), pp e0225000

82 Osterberg L., Blaschke T (2005), "Adherence to medication", N Engl J

Med, 353(5), pp 487-97

83 Pednekar P P., Ágh T., et al (2019), "Methods for Measuring Multiple

Medication Adherence: A Systematic Review-Report of the ISPOR Medication Adherence and Persistence Special Interest Group", Value Health, 22(2), pp 139-156

84 Powers Margaret A., Bardsley Joan, et al (2016), "Diabetes

Self-management Education and Support in Type 2 Diabetes: A Joint Position Statement of the American Diabetes Association, the American Association of Diabetes Educators, and the Academy of Nutrition and Dietetics", Clinical diabetes : a publication of the American Diabetes Association, 34(2), pp 70-80

85 Risser J., Jacobson T A., et al (2007), "Development and psychometric

evaluation of the Self-efficacy for Appropriate Medication Use Scale (SEAMS) in low-literacy patients with chronic disease", J Nurs Meas, 15(3), pp 203-19

86 Samargandy S A., Al Garni T A., et al (2020), "Effect of COVID-19

Pandemic on the Cardiac Outpatients' Perception of Seeking Medical Advice", J Saudi Heart Assoc, 32(3), pp 377-382

87 Sauceda J A., Loya A M., et al (2012), "Medication literacy in Spanish

and English: psychometric evaluation of a new assessment tool", J Am Pharm Assoc (2003), 52(6), pp e231-40

88 Schectman J M., Nadkarni M M., et al (2002), "The association between

diabetes metabolic control and drug adherence in an indigent population", Diabetes Care, 25(6), pp 1015-21

89 Sen-Crowe Brendon, McKenney Mark, et al (2020), "Medication

shortages during the COVID-19 pandemic: Saving more than COVID lives", The American journal of emergency medicine, pp S0735-6757(20)30638-0

90 Shahin W., Kennedy G A., et al (2020), "The Consequences of General

Medication Beliefs Measured by the Beliefs about Medicine Questionnaire

on Medication Adherence: A Systematic Review", Pharmacy (Basel), 8(3),

pp

91 Shahin W., Kennedy G A., et al (2019), "The impact of personal and

cultural beliefs on medication adherence of patients with chronic illnesses:

a systematic review", Patient Prefer Adherence, 13, pp 1019-1035

92 Shi S., Shen Z., et al (2019), "Association Between Medication Literacy

and Medication Adherence Among Patients With Hypertension", Front Pharmacol, 10, pp 822

93 Shiyanbola O O., Unni E., et al (2018), "The association of health literacy

with illness perceptions, medication beliefs, and medication adherence among individuals with type 2 diabetes", Res Social Adm Pharm, 14(9), pp 824-830

Trang 36

94 Spitzer R L., Kroenke K., et al (2006), "A brief measure for assessing

generalized anxiety disorder: the GAD-7", Arch Intern Med, 166(10), pp 1092-7

95 Swe K., Reddy S S K (2020), "Improving Adherence in Type 2 Diabetes",

Clin Geriatr Med, 36(3), pp 477-489

96 Toobert D J., Hampson S E., et al (2000), "The summary of diabetes

self-care activities measure: results from 7 studies and a revised scale", Diabetes Care, 23(7), pp 943-50

97 Tran B X., Nguyen L T., et al (2013), "Determinants of antiretroviral

treatment adherence among HIV/AIDS patients: a multisite study", Glob Health Action, 6, pp 19570

98 Uchmanowicz B., Jankowska E A., et al (2019), "Self-Reported

Medication Adherence Measured With Morisky Medication Adherence Scales and Its Determinants in Hypertensive Patients Aged ≥60 Years: A Systematic Review and Meta-Analysis", Front Pharmacol, 10, pp 168

99 Waari G., Mutai J., et al (2018), "Medication adherence and factors

associated with poor adherence among type 2 diabetes mellitus patients on follow-up at Kenyatta National Hospital, Kenya", Pan Afr Med J, 29, pp

82

100 Xu N., Xie S., et al (2020), "Factors Influencing Medication

Non-Adherence among Chinese Older Adults with Diabetes Mellitus", Int J Environ Res Public Health, 17(17), pp

101 Yeh Y C., Lin H W., et al (2017), "Development and validation of a

Chinese medication literacy measure", Health Expect, 20(6), pp

1296-1301

102 Zheng Feng, Ding Siqing, et al (2020), "Relationship Between Medication

Literacy and Medication Adherence in Inpatients With Coronary Heart Disease in Changsha, China", Frontiers in pharmacology, 10, pp 1537-

1537

103 Zhong Zhuqing, Shi Shuangjiao, et al (2020), "The Development and

Psychometric Assessment of Chinese Medication Literacy Scale for Hypertensive Patients (C-MLSHP)", 11(490), pp

Trang 37

Phụ lục 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN (Nội dung 1)

Chúng tôi trân trọng cảm ơn Ông/Bà đã đồng ý tham gia nghiên cứu “Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng” trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2! Ông/Bà vui lòng dành khoảng 20 phút để hoàn thiện các câu hỏi dưới đây:

Ông/Bà có bảo hiểm y tế không?

Nếu có, bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ hay một

phần phí khám chữa bệnh và thuốc cho

Ông/Bà?

 Không có

 Có, bảo hiểm chi trả toàn bộ chi phí

 Có, bảo hiểm chi trả một phần chi phí

Ông/Bà mắc đái tháo đường bao lâu rồi?

………… (năm/tháng)

Ông/Bà có bị biến chứng nào của bệnh đái

tháo đường không?

 Không

 Biến chứng trên tim mạch (đột quị não, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch ngoại biên)

 Biến chứng trên thận (suy thận)

 Biến chứng thần kinh (bệnh thần kinh ngoại biên)

có tự dùng thêm các thuốc và sản phẩm hỗ trợ

nào khác để điều trị đái tháo đường không?

 Không

 Có, ghi rõ………

Ông/Bà cảm thấy tình hình COVID-19 hiện

tại ảnh hưởng đến cảm xúc của Ông/Bà như

thế nào? (Nó có làm cho ông bà cảm thấy

căng thẳng, sợ hãi, lo âu hay trầm cảm không)

Trang 38

Tuân thủ dùng thuốc

Thi thoảng một số người vẫn dùng thuốc theo cách riêng phù hợp với họ, có thể khác so với hướng dẫn của bác sĩ hoặc trên nhãn thuốc Trong vòng 3 tháng qua, có bao nhiêu lần Ông/Bà dùng các thuốc hạ đường huyết được bác sĩ kê đơn như dưới đây:

Trong vòng 3 tháng qua Không

bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Luôn luôn

1 Ông/Bà quên dùng thuốc

2 Ông/Bà thay đổi liều thuốc

3 Ông/Bà bỏ lỡ 1 liều thuốc

Ông/Bà có trì hoãn việc đi tái khám và lĩnh

thuốc theo lịch hẹn không?  Không  Có

Ông/Bà có khi nào bị hết thuốc hạ đường huyết

trước ngày tái khám không?  Không  Có

Nếu Có, Ông/Bà có tự mua thêm thuốc hạ

đường huyết còn thiếu để dùng hay là bỏ dùng

thuốc và đợi đến lịch khám tiếp theo để lĩnh

thuốc hoặc mua thuốc?

 Mua thêm thuốc để dùng

 Bỏ dùng thuốc và đợi đến lịch khám tiếp theo

Trang 39

Rất tự tin

1 Khi Ông/Bà dùng vài loại thuốc khác nhau mỗi

3 Khi Ông/Bà đi xa nhà (công tác, du lịch) ○ ○ ○

4 Khi không có ai nhắc Ông/Bà dùng thuốc ○ ○ ○

5 Khi Ông/Bà dùng thuốc nhiều hơn 1 lần trong

6 Khi lịch dùng thuốc không thuận tiện ○ ○ ○

7 Khi lịch sinh hoạt thường ngày bị xáo trộn ○ ○ ○

8 Khi Ông/Bà lĩnh/mua thuốc theo đơn cũ nhưng

một số viên trông khác so với thuốc đang dùng ○ ○ ○

9 Khi Ông/Bà không chắc chắn cách dùng thuốc

10 Khi Ông/Bà không chắc chắn phải dùng thuốc

12 Khi các thuốc gây ra một vài tác dụng phụ ○ ○ ○

13 Khi Ông/Bà thấy ốm mệt (chẳng hạn bị cảm

Trang 40

Năng lực thuốc

Những câu hỏi sau đây giúp chúng tôi xác định được mức độ Ông/Bà có thể hiểu và vận dụng các thông tin về thuốc mà Ông/Bà đọc được ở tờ rơi quảng cáo, tờ hướng dẫn sử dụng hay vỏ hộp thuốc

Phần 1: Từ vựng về thuốc

Các từ vựng sau đây thường được ghi trên nhãn các chai thuốc, bao bì, tờ thông tin sản phẩm bên trong hộp thuốc và tài liệu giáo dục bệnh nhân Theo Ông/Bà, lời giải thích cho mỗi từ vựng sau là "đúng" hay "sai" Nếu Ông/Bà không biết câu trả lời, hãy chọn

"không biết"

biết

2 Thuốc phối hợp liều

cố định

3 Liều dùng Lượng thuốc được dùng

tại một thời điểm (ví dụ:

Ngày đăng: 27/04/2022, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và sự cần thiết tiến hành nghiên cứu 1.1.Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước - Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và sự cần thiết tiến hành nghiên cứu 1.1.Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (Trang 1)
Bảng 1.1. Tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu Thiết kế/ cỡ mẫu  Phương pháp  Kết quả  Lin 2017; Singapore - Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2
Bảng 1.1. Tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu Thiết kế/ cỡ mẫu Phương pháp Kết quả Lin 2017; Singapore (Trang 4)
Những lo lắng về bệnh đái tháo đường và tình hình COVID-19 hiện nay có thể khiến Ông/Bà cảm thấy lo âu buồn phiền - Khảo sát tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2
h ững lo lắng về bệnh đái tháo đường và tình hình COVID-19 hiện nay có thể khiến Ông/Bà cảm thấy lo âu buồn phiền (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm