Tên sáng kiến “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi” Lĩnh vực Tình cảm kỹ năng xã hội và thẩm mỹ Năm học 2021 2022 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1 Tên sáng kiến “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 36 tháng tuổi”
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà
- Ngày tháng/ năm sinh: 18/ 04/1982
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm non
- Chức vụ: Giáo viên chủ nhiệm lớp NTA
- Đơn vị công tác: Trường Mầm non Thanh An
- Điện thoại: 0789747546
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Mầm non Thanh An
5 Đơn vị áp dụng sáng kiên lần đầu: Lớp NTA- Trường mầm non Thanh An
6 Các điều kiện áp dụng sáng kiến:
- Về phía giáo viên: Có trình độ chuẩn trở lên, có năng lực, trình độ chuyên môn.
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu
- Tại lớp NTA từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 2 năm 2022
Trang 3TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Tâm hồn trẻ như tờ giấy trắng rất non nớt, rất trong sáng và rất dễ tiếp thunhững cái tốt cũng như những cái xấu từ bên ngoài Do đó việc cung cấp và dạytrẻ những kĩ năng tự phục vụ cho trẻ là vô cùng cần thiết Kỹ năng tự phục vụgiúp trẻ dễ dàng hòa nhập, chủ động sáng tạo tự tin để tham gia vào các hoạtđộng Tuy nhiên các cháu lại thiếu kỹ năng tự phục vụ, khả năng tự lập và thườnghay dựa dẫm vào người lớn, khi gặp khó khăn là chúng thường tìm ngay đếnngười lớn mà không tự mình tìm cách giải quyết, ở lứa tuổi này nếu chúng takhông biết uốn nắn và dạy dỗ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tình cảm của trẻ Vìthế để đạt được mục tiêu của ngành đưa ra thì bản thân là một người giáo viênnhư tôi phải tìm cách hướng dẫn cho trẻ những kĩ năng tự phục vụ ngay từ khi trẻmới bước chân vào trường mầm non giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên bốn lĩnhvực tâm trạng, tâm hồn, trí tuệ và tinh thần làm cơ sở cho sự hình thành nhâncách cho các con sau này.Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Một số biện pháp dạy trẻ
kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24 – 36 tháng”
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
- Điều kiện: Giáo viên phải có trình độ chuẩn trở lên, có năng lực, trình độchuyên môn vững vàng, yêu nghề mến trẻ
- Thời gian: được tiến hành từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 2 năm 2022 tại nhómlớp NTA với 18 trẻ do tôi phụ trách
- Đối tượng: Trẻ 24 – 36 tháng
3 Nội dung sáng kiến:
* Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến: Từ thực trạng đó tôi đã đưa ra các
biện pháp dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 24 - 36 tháng, mong muốn giúp trẻ
có được những kỹ năng tự phục vụ cần thiết cho trẻ Qua đó rút ra các bài họckinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chăm sóc giáo dục trẻ
+ Biện 3pháp 1: Xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp độ tuổi để
dạy trẻ.
+ Biện pháp 2: Tạo môi trường hướng dẫn trẻ thực hành kỹ năng tự phục vụ
Trang 4+ Biện pháp 3: Tạo cơ hội cho trẻ tự phục vụ trong hoạt động học.
+ Biện pháp 4: Rèn cho trẻ tự phục vụ ở mọi lúc mọi nơi
+ Biện pháp 5: Xây dựng bài giảng điện tử về kĩ năng tự phục vụ
+ Biện pháp 6: Phối hợp với cha mẹ trẻ rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
1 Đối với trẻ:
Sau một thời gian thực hiện tôi nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt của trẻ
Trẻ không những có được kĩ năng tự phục vụ mà nó tạo cho trẻ có những kĩ năngsống cơ bản giúp trẻ phát triển một cách toàn diện
2 Đối với phụ huynh.
- Các bậc phụ huynh có nhận thức sâu sắc về trường lớp mầm non, luôn có sựphối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
- Tin tưởng vào trường, lớp quan tâm đến chương trình học của trẻ và có nhu cầuhọc tập
- Phụ huynh luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ
- Có nhiều hình thức phong phú dạy trẻ kĩ năng tự phục vụ
- Mạnh dạn tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh, biết tự chuẩn bị, phối hợpchặt chẽ, trao đổi thường xuyên với phụ huynh
5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng sáng kiến:
- Nhà trường tiếp tục tham mưu với các cấp các ngành hỗ trợ kinh phí mua sắmtrang thiết bị đồ dùng đồ chơi phục vụ các tiết học và hoạt động vui chơi của trẻ
Trang 5- Tăng cường cho giáo viên được học tập trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các buổichuyên đề, hội giảng Phổ biến áp dụng sáng kiến tới tập thể giáo viên
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong xã hội hiện nay tình trạng trẻ em thụ động luôn ỷ lại người lớn chưabiết làm một số công việc hoặc không có khả năng làm một số công việc nhẹnhàng vừa sức để giúp đỡ người lớn đang diễn ra khá phổ biến, điều đó xuất phát
từ chính tâm lý e ngại của cha mẹ với suy nghĩ trẻ còn nhỏ chưa làm được mọithứ và sợ trẻ làm sai, cha mẹ không đủ kiên nhẫn chờ đợi trẻ dẫn tới người lớn đãlàm hộ trẻ tất cả các hoạt động mà lẽ ra đó là của trẻ, vì lẽ đó tôi nhận thấy việcgiáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong trường mầm non nói chung và trẻ ở độtuổi 24 - 36 tháng nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết và vô cùng ý nghĩa,nếu không có kỹ năng tự phục vụ thì trẻ sẽ không thể chủ động tự lập trong cuộcsống, trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường trong trườngmầm non, đặc biệt trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh covid - 19, người lớncàng phải trang bị những kỹ năng tự phục vụ cho bản thân, hãy làm tốt vai trò làngười hỗ trợ trẻ để trẻ hình thành kỹ năng tự phục vụmột cách hiệu quả nhất
Với nội dung nghiên cứu thực trạng “Một số biện pháp dạy trẻ kỹ năng tựphục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi” trong trường mầm non, với mục đích
đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhằm nâng cao chấtlượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non
2 Cơ sở lý luận
Như chúng ta đã biết mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non hiệnnay đóng vai trò quan trọng trong việc trong việc nâng cao chất lượng chăm sócgiáo dục trẻ, việc tổ chức các hoạt động giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trungtâm là vô cùng đúng đắn bởi nó nhằm phát huy tính tích cực tính sáng tạo khảnăng năng lực vốn có của trẻ nhờ đó trẻ có thể làm được một số công việc màkhông phải dựa dẫm nhờ vả vào người khác, việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ tạo
tự tính tự lập cho trẻ không chỉ hướng dẫn trẻ tự lo cho bản thân mà còn giúp trẻ
Trang 6quyết định một số vấn đề của chính bản thân trẻ đó chính là động lực để giúp trẻvận động suy nghĩ sáng tạo và tự tin ở mọi lúc mọi nơi.
- Trường được công nhận đạt chuẩn mức độ I Nhà trường luôn nhận được
sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng Ủy- HĐND- UBND xã, sự chỉ đạo sâusát trực tiếp về chuyên môn của PGD & ĐT huyện
- Được sự hỗ trợ của các ban ngành, đoàn thể, các nhà hảo tâm, sự ủng hộnhiệt tình cả vật chất tinh thần của các bậc phụ huynh tạo động lực thúc đẩy sựphát triển phong trào giáo dục
- Hàng năm nhà trường đã đầu tư kinh phí để tu sửa cơ sở vật chất, đẩymạnh công tác xã hội hóa giáo dục để mua sắm đồ dùng trang thiết bị tối thiếucho các nhóm lớp
- Bản thân tôi là một giáo viên tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ, tận tụyvới công việc, luôn có ý thức phấn đấu vươn lên
- Đa số cha mẹ mẹ trẻ đã nhiệt tình thường xuyên chia sẻ với giáo viên vềtình hình của trẻ ở nhà, luôn quan tâm đến trẻ, dành nhiều thời gian cùng với giáoviên trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ
Trang 7- Trẻ mới đi học còn quấy khóc, chưa có thói quen nề nếp ở trường, kỹnăng phát âm của trẻ còn rất kém, trẻ còn rụt rè trong giao tiếp, chưa có kỹ năng
tự phục vụ
- Trong tình hình dịch bệnh COVID – 19 diễn biến phức tạp hiện nay nêncòn gặp không ít khó khăn về việc thực hiện chương trình giáo dục
- Đa số phụ huynh nuông chiều con quá mức nên trẻ rất ương bướng khó bảo.
Điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
- Một số phụ huynh đi làm công ty lên hạn hẹp thời gian, do vậy chưa thực
sự quan tâm đến con cái, đến phong trào của nhà trường, việc phối hợp với côgiáo trong công tác chăm sóc giáo dục đôi khi chưa thường xuyên
- Nhận thức của phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻcòn hạn chế
- Phụ huynh chưa tin tưởng vào khả năng của trẻ mà thường làm hộ trẻ tấtcả mọi công việc dẫn đến đứa trẻ không có kỹ năng tự lập
3.3 Khảo sát thực trạng
Qua thực tế ở đơn vị trường tôi trong những năm qua và qua điều tra thực
tế về vốn kỹ năng sống tự lập của trẻ trong lớp tôi chưa cao Vì vậy tôi đã tiếnhành khảo sát với những nội dung như sau:
Bảng 1: Khảo sát trẻ đầu năm (Tháng 10/2021)
Số trẻ chưa đạt
Tỷ lệ (%)
Trang 8Để giúp thực hiện tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng giáo dục trẻ có tính
tự lập Đồng thời góp một phần nhỏ bé của mình trong công tác giáo dục Trướcnhững thuận lợi khó khăn trên tôi đề ra một số biện pháp sau:
4 Các giải pháp biện pháp thực hiện
4.1 Biện pháp 1:Xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp độ tuổi
để dạy trẻ.
Với mục tiêu giáo dục mầm non với độ tuổi 24 – 36 tháng tuổi trẻ cần cócác kỹ năng tự cất đồ dùng khi đến lớp, tập ngồi bô khi có nhu cầu đi vệ sinhđúng nơi quy định, tự xúc cơm, tự lấy nước uống, tự lấy gối đi ngủ Xây dựng kếhoạch ngay từ đầu năm học là kim chỉ nam cho sự phấn đấu để đạt được mục tiêu
và nhiệm vụ năm học vì nó gắn liền giữa khoa học với thực tiễn
Căn cứ vào nhiệm vụ năm học của Phòng giáo dục và kế hoạch xây dựngcủa nhà trường, căn cứ vào kết quả đạt được và những mặt tồn tại trong quá trìnhchăm sóc, giáo dục trẻ, căn cứ vào tình hình thực tế trẻ ở lớp về nhận thức của trẻ,
về kỹ năng của từng trẻ và điều kiện cơ sở vật chất của lớp mình phụ trách để từ
đó xây dựng kỹ năng cần thiết để phục vụ trẻ khi xây dựng kế hoạch theo chủ đềtôi đã nghiên cứu lựa chọn, xác định được các kỹ năng tự phục vụ cơ bản phù hợpvới lứa tuổi từ 24 - 36 tháng tuổi
4.2 Biện pháp 2: Tạo môi trường hướng dẫn trẻ thực hành kỹ năng tự phục vụ.
Như chúng ta đã biết trẻ mầm non nói chung và đặc biệt trẻ 24 – 36 thángnói riêng, môi trường lớp học có vị trí to lớn trong việc nhận thức của trẻ vì môitrường là nơi trẻ tiếp xúc hàng ngày.Việc tạo cho trẻ khoảng không gian nhất định
để trẻ được thỏa mãn nhu cầu được làm và khẳng định bản thân có vai trò quantrọng đến việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ vì thế tôi đã cùng với giáoviên trong lớp tận dụng mọi không gian trong và ngoài lớp để bố trí sắp xếp cáckhu vực trải nghiệm thực hành các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
+ Môi trường bên ngoài lớp học
Đối với các góc rèn kỹ năng.Tôi sưu tầm bộ ảnh chụp được trang trí trênmảng tường bổ sung thêm một số đồ dùng để dạy trẻ, xây dựng góc trải nghiệm
Trang 9để trẻ được thực hành phong phú các hoạt động như buộc dây giày, cởi và đóngcúc áo cho trẻ được trải nghiệm hay khu vực để ca cốc, bình uống nước để khi trẻmuốn uống nước trẻ có thể tự lấy nước để uống, hay khu vực có thùng giác để trẻ
tự bỏ rác vào thùng khi có rác Hay ở khu vực ngoài hiên cửa lớp tôi vẽ các bướcchân để cho trẻ có kỹ năng đi theo bước chân
+ Môi trường bên trong lớp học
Bên trong có khu vực nhà vệ sinh thì luôn có đầy đủ các thiết bị đồ dùng
vệ sinh nước rửa tay, khăn lau tay để trẻ sử dụng, để trẻ thực hành vệ sinh cá nhânrửa tay, rửa mặt
Hay ở các góc chơi tôi đã chuẩn bị đầy đủ dụng cụ để trẻ chơi các góc theohình thức học bằng chơi, chơi mà học Trẻ sẽ rèn luyện được tính độc lập biết tựphục vụ bản thân và trở lên ngăn nắp gọn gàng hơn, để hình thành kỹ năng tựphục vụ cho trẻ không phải là việc làm một sớm một chiều mà phải là cả một quátrình đồng thời phải chọn đúng cách, đúng thời điểm phù hợp với khả năng củatrẻ thì mới đạt kết quả tốt nhất, tôi đã trò chuyện với trẻ để làm sao trẻ hiểu tất cảcác hoạt động của trẻ trở thành ý thức
VD: Khi trẻ tay bẩn thì trẻ biết nói với cô để đi rửa, khi chơi xong đồ chơi
biết thu dọn đồ chơi và cất vào chỗ cũ cùng với cô, tôi đã thực hiện một sốphương pháp dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ như phương pháp chỉ dẫn dạy trẻbằng lời, tôi giải thích cho trẻ hiểu những gì cần làm, làm như thế nào, lời giảithích chỉ dẫn này có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày củatrẻ, khi chỉ dẫn tôi dùng lời nói ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu, điềm tĩnh sử dụng cửchỉ để nhấn mạnh những điều khiến trẻ chú ý
4.3 Biện pháp 3: Tạo cơ hội cho trẻ tự phục vụ trong hoạt động học.
Cũng như các hoạt động khác, hoạt động học cũng góp phần dạy trẻ kỹnăng tự phục vụ hiệu quả, với mỗi hoạt động tôi quan sát, tìm tòi để lựa chọn hìnhthức để giúp trẻ hình thành ý thức tự phục vụ một cách tốt nhất
Ngày nay nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ đã được chú trọng, tuynhiên việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ chưa trở thành một môn học với một giáotrình chuẩn được áp dụng trong nhà trường
Trang 10Trong khi đó hoạt động học là hoạt động được tổ chức có sự định hướng vàhướng dẫn trực tiếp của cô giáo Nội dung dạy được tổ chức có hệ thống theo sátmục đích kế hoạch đã được hoạch định trong giáo án nhằm cung cấp kiến thức,
kỹ năng cho trẻ giúp trẻ hiểu cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học liênquan đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ do vậy trong các tiết học tôi tổ chức theoquan điểm lấy trẻ làm trung tâm, cô giáo chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ trẻ pháthuy khả năng thế mạnh của mình từ đó phát triển các kỹ năng sống tốt hơn, ngoài
ra tôi còn lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ một cách nhẹnhàng, linh hoạt vào các hoạt động trong ngày
Ví dụ: Đối với giờ phát triển thể chất thì ngoài việc dạy trẻ các kiến thức, kỹ năng
về vận động, thông qua đó tôi còn giáo dục trẻ biết tự phục vụ như sau khi giờhọc kết thúc tôi nhắc trẻ lấy dép để đi thì trẻ biết tự ra giá dép để lấy dép đi vàochân với sự bao quát của tôi nhắc nhở trẻ đi đúng chiều của dép hoặc trẻ muốn đi
vệ sinh sau giờ học thì trẻ tự vào trong nhà vệ sinh và lấy bô để ngồi
Hay đối với hoạt động làm quen tác phẩm văn học tôi luôn lựa chọn nhữngcâu chuyện, bài thơ nói về việc tự phục vụ cho trẻ, ví dụ bài thơ: “Giờ chơi”thông qua bài thơ giáo dục trẻ khi không chơi với đồ chơi nữa thì các con cất đồchơi vào đúng nơi quy định Hay trong bài thơ “Giờ ăn” giáo dục trẻ khi đến giờ
ăn cơm các con lấy ghế ngồi vào bàn ăn và xúc cơm cho gọn gàng…
Trước đây, khi vào một hoạt động nào đó thì giáo viên là người chuẩn bị vàbày sẵn trước mặt trẻ, trẻ chỉ việc học, điều này dẫn đến trẻ thụ động Nhưng vớitôi, để phát huy tính tích cực ở trẻ, khả năng trẻ có thể làm những công việc vừasức, trước khi cho trẻ tham gia vào hoạt động Ví dụ: Hoạt động nhận biết phươngtiện giao thông “Ô tô, xe máy” tôi tổ chức hoạt động xen kẽ giữa động và tĩnh saocho phù hợp, cho trẻ nhận biết, gọi tên, đặc điểm nổi bật của từng phương tiệngiao thông đó bằng hình ảnh thì đó là hoạt động tĩnh, sau đó đến phần luyện tậptôi cho trẻ tự lên lấy tranh lô tô các phương tiện trên để chơi trò chơi chọn tranhtheo yêu cầu cô, tôi cho trẻ tự lấy đồ dùng học tập về thực hiện theo nhóm hoặckhi học xong trẻ biết mang đồ dùng để cất vào nơi quy định cùng cô (Hình ảnh 1:Trẻ tự lấy đồ dùng khi cô yêu cầu)
Trang 114.4 Biện pháp 4: Rèn cho trẻ tự phục vụ ở mọi lúc mọi nơi.
Bản chất của trẻ ở trong độ tuổi này nhanh tiếp thu nhưng cũng rất nhanhquên nên việc rèn việc rèn kỹ năng tự phục vụ ở mọi lúc mọi nơi thông qua mọihoạt động trong ngày không chỉ giúp trẻ được quan sát, thực hành trải nghiệmnhững công việc đơn giản mà còn giúp cho trẻ có những kỹ năng tự phục vụ bảnthân, ý thức tự phục vụ nó ẩn chứa trong từng hoạt động, mỗi một hành động nhỏtrẻ cũng đều phải có ý thức thì mới hình thành thói quen tự phục vụ, với mỗi hoạtđộng tôi thường tạo các tình huống khác nhau và hướng dẫn để trẻ có thể thựchiện công việc một cách có chất lượng Phương pháp làm mẫu dạy trẻ các kỹnăng bằng hành động khi quan sát tôi làm trẻ sẽ biết phải làm gì, làm như thế nào
* Hoạt động đón, trả trẻ và trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi.
Khi trẻ tham gia vào các hoạt động tôi luôn quan sát để kịp thời nắm bắtnhu cầu và khả năng của từng trẻ và dành cho trẻ khoảng thời gian để trẻ sửa saitrong các hoạt động và công việc trẻ làm, khi trẻ còn lúng túng, gặp khó khăn tôidùng lời đề nghị lịch thiệp để hỗ trợ trẻ bằng cách, cô vẫn chưa thấy con làm haycon có muốn cô làm lại cho con xem không
VD: Buổi sáng khi trẻ đến lớp trẻ tự cất balô vào tủ cá nhân, khoanh tay
chào cô, chào bố mẹ Việc dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ cho trẻ không chỉ giáo dụctrẻ tự phục vụ bản thân mà còn giáo dục trẻ ý thức cuộc sống bảo vệ môi trường,biết làm một số công việc vừa sức để hình thành ở trẻ tình yêu lao động
Dạy trẻ 24 - 36 tháng những kỹ năng tự phục vụ là kỹ năng mới trẻ chưa đượchọc, với những tiết dạy này tôi thường có kế hoạch tổ chức vào hoạt động chiều
VD: Giờ hoạt động chơi tập buổi chiều tôi dạy cho trẻ kỹ năng “tập cài cúc
áo” thì trước hết cô phải chuẩn bị chiếc áo có cúc, rồi cho trẻ quan sát cô làm mẫu
tỉ mỉ kết hợp vừa làm vừa hướng dẫn trẻ cách làm, sau đó cho trẻ thực hiện côbao quát động viên giúp đỡ trẻ còn lung túng Với những kỹ năng đã học tôi chotrẻ củng cố qua các hoạt động khác và mọi lúc mọi nơi
+Dạy trẻ kỹ năng cất ba lô vào tủ.
Ngay từ đầu năm học khi trẻ đến lớp tôi quan sát giờ đón, trả trẻ và thấyhầu như trẻ không cất được ba lô của mình hoặc có khi cất được lại nhầm tủ, hoặc
Trang 12có những trẻ mang ba lô thì thì để lên bàn hoặc có trẻ mới đến lớp còn lạ lẫm cứ
ôm ba lô không cất vào tủ, đối với trường hợp như vậy tôi đã lại gần trẻ nhắc nhở,
ví dụ như con để chưa đẹp rồi, con để lại đi, con để như thế nào…
Bằng kinh nghiệm của mình tôi thực hiện dạy trẻ kỹ năng cất ba lô vào tủ, tôi đưatrẻ ra khu vực có tủ đựng đồ dùng cá nhân của trẻ sau đó dạy cho trẻ cách nhận tủ
tư trang của mình rồi lấy tay nhẹ nhàng mở cánh tủ ra sau đó dùng 2 tay cầm ba
lô cất vào tủ, khi trẻ về tôi đi cùng trẻ và cũng hướng dẫn trẻ cách mở cánh tủ ra
và lấy đồ dùng của mình Tôi dạy trẻ cất bao lô vào tủ, cô làm mẫu rồi cho trẻ lênthực hiện theo các bước như sau:
Bước 1: Tay cầm nắm tủ mở cánh tủ nhẹ nhàng
Bước 2: Cởi ba lô
Bước 3: Cất ba lô vào tủ
Bước 4: Đóng cánh tủ nhẹ nhàng
Những việc tưởng chừng đơn giản này giúp trẻ rất nhiều trong ý thức thựchiện nội quy cũng như ý thức gìn đồ dùng cá nhân của mình không ỷ lại hoặc phụthuộc vào cô giáo, bố mẹ nữa Hay khi đón trẻ vào lớp tôi trò chuyện với trẻ vềnhững việc trẻ đã làm, tôi có thể đưa ra câu hỏi:
Ví dụ: Sáng nay ai đưa con đi học?
Con có mang ba lô đi học không?
Con có ba lô màu gì?
Ba lô của con cất ở đâu?
Hay với trẻ mới đến lớp chưa quen còn ôm ba lô không cho cô cất vào tủ,thì cô sẽ đến bên trẻ trò chuyện với trẻ
VD: Hùng ơi cô đố con, các bạn lớp mình cất ba lô ở đâu? Thế chỗ của Hùng đâunhỉ? Bạn Hùng cất ba lô vào tủ cho các bạn cùng xem nào? Hoặc Hùng cất ba lôrồi đi chơi với cô nhé Bằng những câu nói nhẹ nhàng như vậy Hùng đã nhanhnhẹn mang ba lô vào tủ cất
Với những câu hỏi đó kết hợp những lời khen ngợi, động viên khuyến khích sẽkích thích trẻ tính tự lập được hình thành một cách dễ dàng và hiệu quả (Hìnhảnh 2: Trẻ tự cất ba lô)
Trang 13* Dạy trẻ kỹ năng tự lấy nước uống
Để tạo cho trẻ có thói quen tự lấy nước uống khi có nhu cầu uống thì trướctiên cô giáo giới thiệu với trẻ về khu vực uống nước có bình nước và cốc nướccủa lớp, sau đó cô dạy trẻ lấy ca đúng theo kí hiệu của từng trẻ, tay cầm ca saocho ngay ngắn, chắc chắn, tay mở vòi nước một cách nhẹ nhàng và lấy lượngnước vừa đủ uống, khi uống xong úp cốc lên giá để cốc cho đúng, khi lấy nướckhông được tranh giành nhau mà phải đợi bạn uống xong rồi đến mình uống Cứnhư vậy đến lần sau cô lại tiếp tục cho trẻ thực hiện và cô quan sát, giúp đỡ trẻkhi trẻ còn lung túng và giúp đỡ trẻ đến khi trẻ tự làm được thì thôi Từ đó trẻ cókhả năng tự mình lấy nước uống khi có nhu cầu muốn uống nước (Hình ảnh 3:Trẻ tự lấy nước uống)
* Dạy trẻ kỹ năng đi vệ sinh.
Kỹ năng đi vệ sinh khi có nhu cầu, đây là nội dung cần cô thực hiện ngay
từ đầu năm học, trẻ mới đi học còn nhút nhát chưa quen với các vị trí và hoạtđộng sinh hoạt hang ngày Để việc dạy trẻ đạt hiệu quả, thì giáo viên cần tìm hiểukhả năng của từng trẻ, nắm bắt tâm lí của từng trẻ để biết lí do 1 số trẻ chưa biết
tự đi vệ sinh đúng nơi quy định bằng cách quan sát trẻ, hỏi trẻ và trao đổi trực tiếpvới phụ huynh cô giáo thường xuyên hỏi trẻ về nhu cầu vệ sinh hoặc cứ 2 tiếnglại cho trẻ đi vệ sinh 1 lần, cũng như khi cho trẻ đi cô vừa làm vừa nói cho trẻcách tụt quần, cách ngồi bô sao cho không bị ngã, đứng lên sao cho không bị đổ
bô, hướng dẫn tận tình, cởi mở theo các bước sau:
Bước 1: Đặt bô cho ngay ngắn
Bước 2: Cách tụt quần
Bước 3: Cách ngồi bô cho cân đối để không bị ngã
Bước 4: Cách đứng lên và kéo quần sao không đổ bô
Với trẻ nhút nhát cô nên thường xuyên gần gũi trẻ để tạo tâm lí an tâm vàthoải mái cho trẻ, giúp trẻ sẵ sàng chia sẻ mong muốn và nguyện vọng của mình,đàn dần cô hướng dẫn trẻ cách đi vệ sinh đúng nơi quy định (Hình ảnh 4: Trẻ tự
đi vệ sinh)
* Hoạt động dạo chơi ngoài trời
Trang 14Để hoạt động dạo chơi ngoài trời góp phần tích cực vào việc rèn kỹ năng tựphục vụ cho trẻ Tôi đã lựa chọn nội dung sao cho phù hợp nhằm phát huy hếtkhả năng của trẻ như cô hướng dẫn trẻ nhặt rác bên trong và bên ngoài lớp họckhi các con nhìn thấy rác để giữ cho môi trường luôn sạch đẹp, đồng thời dạy chotrẻ ý thức tự giữ gìn môi trường sạch sẽ gần gũi xung quanh trẻ.
Ví dụ trong hoạt động dạo chơi ngoài trời “Chơi với lá cây, chơi với giấy”,khi trẻ bắt đầu vào tiết học, hoặc khi trẻ học xong tiết học tôi nhắc nhở trẻ khi cáccon không chơi với lá cây nữa, hoặc không chơi với giấy nữa các con nhìn thấy
có giấy hoặc lá rơi trên nền thì các con sẽ nhặt và bỏ vào thùng rác cho sạch sẽ.Tôi dạy trẻ cách nhặt rác để vào thùng rác như sau:
em ngủ…Từ những hoạt động hàng ngày mà trẻ được nhìn thấy người lớn, côgiáo làm mà trẻ đã vận dụng vào xã hội thu nhỏ thông qua hoạt động chơi tập cácgóc
Với hoạt động này tôi là người trò chuyện gợi ý cho trẻ về các nhóm chơi,trẻ biết lấy đồ chơi ra chơi và khi không chơi nữa biết cất đồ chơi đúng nơi quyđịnh cùng cô Ở hoạt động này cô luôn hướng dẫn, động viên khen ngợi kịp thờitrẻ sẽ phát huy được tính tự phục vụ hiệu quả