1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA

6 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này khảo sát việc ứng dụng học sâu để khôi phục tín hiệu thu trong hệ thống MIMO-NOMA. Ứng dụng học sâu có hai ưu điểm quan trọng gồm thực hiện giải mã song song và cải thiện chất lượng toàn hệ thống. Nhờ vào quá trình huấn luyện trong học sâu, hệ thống có thể tìm ra bộ trọng số tối ưu cho quá trình khôi phục tín hiệu. Kết quả cho thấy việc sử dụng học sâu có chất lượng tốt hơn kỹ thuật SIC.

Trang 1

Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA

Ngô Minh Nghĩa, Nguyễn Thái Công Nghĩa, Nguyễn Thị Xuân Uyên, Ngô Thanh Hãi, Đặng Lê Khoa

Khoa Điện tử Viễn thông Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM

Email: nmnghia@fetel.hcmus.edu.vn, ntcnghia@fetel.hcmus.edu.vn, ntxuyen@fetel.hcmus.edu.vn, nthai@fetel.hcmus.edu.vn, dlkhoa@fetel.hcmus.edu.vn

Tóm tắt—Đa truy nhập phi trực giao (NOMA) là một trong

những kỹ thuật tiềm năng cho các hệ thống thông tin di động

thế hệ sau Kỹ thuật này có thể kết hợp với kỹ thuật nhiều anten

phát nhiều anten thu (MIMO) tạo thành hệ thống MIMO-NOMA

nhằm tăng dung lượng toàn hệ thống Xét kỹ thuật NOMA miền

công suất, do có sự chồng lấn cả về miền không gian và miền

công suất nên việc khôi phục tín hiệu ở đầu thu là khá phức

tạp Phương pháp triệt nhiễu nối tiếp (SIC) thường được ứng

dụng để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA Tuy

nhiên, phương pháp SIC phải tách các tín hiệu mạnh trước khi

khôi phục tín hiệu yếu hơn Khi đó, tín hiệu yếu hơn lại được

xem là nhiễu đối với tín hiệu mạnh nên tỉ số tín hiệu trên can

nhiễu (SINR) của từng đầu thu sẽ giảm Bài báo này khảo sát

việc ứng dụng học sâu để khôi phục tín hiệu thu trong hệ thống

MIMO-NOMA Ứng dụng học sâu có hai ưu điểm quan trọng

gồm thực hiện giải mã song song và cải thiện chất lượng toàn hệ

thống Nhờ vào quá trình huấn luyện trong học sâu, hệ thống có

thể tìm ra bộ trọng số tối ưu cho quá trình khôi phục tín hiệu.

Kết quả cho thấy việc sử dụng học sâu có chất lượng tốt hơn

kỹ thuật SIC Đồng thời, kết quả mô phỏng cho thấy việc chọn

các tham số như tốc độ học, các thuật toán tối ưu, số lượng các

lớp ẩn và số lượng các node của lớp ẩn sẽ ảnh hưởng đến chất

lượng toàn hệ thống.

Từ khóa—MIMO, đa truy nhập phi trực giao, học sâu

I GIỚI THIỆU

Đa truy nhập phi trực giao (NOMA) là kỹ thuật được đề

xuất dùng trong các thế hệ di động tiếp theo, được xem là một

kỹ thuật quan trọng và nhận được nhiều sự quan tâm trong

những năm gần đây Ý tưởng then chốt của NOMA là sử dụng

miền công suất cho đa truy nhập trong khi các thế hệ mạng

di động trước đây dựa vào miền thời gian/tần số/mã Nếu như

đa truy nhập trực giao thông thường OMA chỉ cho phép mỗi

người sử dụng được phục vụ trên nguồn phổ tần được cấp phát

riêng độc quyền thì NOMA cho phép chồng các tín hiệu bản

tin của đa người sử dụng trong miền công suất ở máy phát

bằng cách khai thác độ lợi kênh tương ứng [1]

Ứng dụng của công nghệ MIMO đối với NOMA rất quan

trọng vì sử dụng MIMO sẽ cung cấp thêm thêm độ lợi phân

tập và độ lợi mã trong việc cải thiện chất lượng hệ thống cao

hơn Trong thực tế, điều mong muốn nhất là phải phục vụ càng

nhiều người dùng càng tốt để giảm độ trễ của người dùng và

cải thiện tính công bằng trong phục vụ người dùng Theo lý do

này, người dùng đã được nhóm thành các cụm có kích thước

nhỏ, nơi NOMA được triển khai cho người dùng trong một cụm (cluster) và các thuật toán MIMO được sử dụng để loại

bỏ nhiễu liên cụm

Để giải mã thông tin chồng chất ở mỗi máy thu, Cover là người đầu tiên đề xuất kỹ thuật SIC [2] Kỹ thuật này được

đề xuất sử dụng trong đa truy nhập phi trực giao NOMA SIC

có thể thực hiện bằng cách khai thác các thông số kỹ thuật

về sự khác biệt công suất giữa các tín hiệu Ý tưởng cơ bản của SIC là tín hiệu người dùng được giải mã liên tiếp Tuy nhiên, phương pháp loại bỏ nhiễu nối tiếp SIC bị giới hạn bởi

nó tính toán một cách phức tạp và gặp vấn đề trong quá trình phát hiện lỗi nếu số lượng người dùng lớn

Cùng với sự bùng nổ dữ liệu và phát triển phần cứng trong 5 năm trở lại đây, Deep Learning hay còn được gọi

là học sâu, được nhắc đến rất nhiều như một xu hướng mới của cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo (AI) Các mô hình chính của Học sâu có thể kể đến như DNN (Deep Neural Network), CNN (Convolutional Neural Network), RNN (Recurrent Neural Network) Trong lĩnh vực truyền thông, học sâu đã được nghiên cứu và áp dụng thành công trong nhiều

kỹ thuật Trong giải mã kênh, học sâu có thể học một dạng thuật toán giải mã thay vì một bộ phân loại đơn giản trong giải mã mã tuyến tính [3] và mã cực [4] Ngoài ra, học sâu còn ứng dụng trong phương pháp cục bộ hóa dựa trên CSI [5], cân bằng kênh [6] Một sơ đồ tích hợp học sâu vào hệ thống ghép kênh phân chia theo tần số trực giao (OFDM) đã được đưa ra trong [7], các kết quả cho thấy tiềm năng của mô hình DNN trong việc ước lượng kênh và giải mã tín hiệu trong hệ thống OFDM Phân loại điều chế và nhận dạng dựa trên học sâu cũng là một lĩnh vực phổ biến trong các nghiên cứu [8] Trong lĩnh vực mạng di động, học sâu ứng dụng trong phân loại lưu lượng truy cập di động cũng đã được nghiên cứu để

xử lí lưu lượng được mã hóa và phản ánh mô hình giao thông phức tạp [9]

Việc khôi phục tín hiệu ở phía thu của hệ thống MIMO-NOMA khi sử dụng phương pháp SIC truyền thống bị ảnh hưởng bởi sự lan truyền lỗi và độ phức tạp của máy thu liên quan đến số lượng người dùng (UE) Vì vậy, trong bài báo này, chúng tôi sẽ trình bày một phương pháp học tập dựa trên

mô hình DNN để ước tính hiệu quả trạng thái kênh và giải mã tín hiệu dự kiến Phần còn lại của bài báo này sẽ được trình

Trang 2

phát triển.

II MÔ HÌNH HỆ THỐNG

A Mô hình hệ thống MIMO-NOMA sử dụng phương pháp

triệt nhiễu nối tiếp SIC ở phía thu

Trong hệ thống MIMO-NOMA, tín hiệu từ kênh có độ lợi

cao hơn sẽ được truyền với mức công suất thấp hơn, trong

khi đó tín hiệu từ kênh có độ lợi thấp hơn sẽ được truyền với

mức công suất cao hơn Do đó, kênh của người dùng có độ lợi

thấp nhất sẽ không thể loại bỏ tất cả các nhiễu từ các người

dùng còn lại Tuy nhiên, các người dùng có độ lợi kênh cao

hơn sẽ chịu ảnh hưởng nhiễu từ các người dùng có mức công

suất lớn hơn, khi đó áp dụng phương pháp SIC tại các đầu thu

này để loại bỏ nhiễu và thu lại tín hiệu mong muốn Do đó,

khi xây dựng hệ thống MIMO-NOMA ghép kênh không gian

SDM, ở phía thu ngoài việc sử dụng bộ tách tín hiệu tuyến

tính MMSE, cần phải kết hợp với phương pháp triệt nhiễu nối

tiếp SIC để có thể giải mã được tín hiệu mong muốn một cách

hiệu quả nhất Giả sử số lượng anten phát và thu là M và N ,

số người dùng là K Tín hiệu truyền MIMO-NOMA có thể

được biểu diễn dưới dạng ma trận như sau:

S = [S1S2 SM]T (1)

Sm(m ∈ [1, M ]) là tín hiệu của anten truyền thứ m và nó có

thể được biểu diễn dưới dạng:

Sm=

K

X

k=1

p

trong đó k ∈ [1, K] là người dùng thứ k, P là công suất phát

của hệ thống, βk là hệ số phân bổ suất của người dùng thứ k

thỏa mãn β1+ β2+ + βK = 1 và βkP = Pk là công suất

phân bổ cho người dùng thứ k

Tín hiệu thu được ở người dùng thứ k có thể được biểu diễn

như sau:

Yk = dk −α/2

trong đó, Yk là ma trận tín hiệu thu, dk là khoảng cách của

người dùng so với trạm gốc, α là hệ số suy hao đường truyền,

Hk là ma trận kênh truyền Rayleigh, thành phần kênh tuân

theo phân phối chuẩn với trung bình bằng 0 và phương sai

bằng 1, hij ∼ CN (0, 1) và Nk ∼ CN 0, σ2 là nhiễu Gauss

tác động lên người dùng thứ k, σ2 là phương sai nhiễu

Việc giải mã tín hiệu bằng SIC cần một quá trình liên tục,

gồm tái cấu trúc và loại bỏ tín hiệu Giả sử rằng công suất được

phân bổ cho các người dùng giảm dần (P1> P2> > PK)

Gọi lk

q là đầu ra ước tính của tín hiệu người dùng thứ q tại

máy thu người dùng thứ k Thông tin trạng thái kênh (CSI)

symbol điều chế của người dùng Ma trận trọng số của bộ giải

mã tín hiệu MMSE được thể hiện như sau:

˜

H1= (H1)HH1(H1)H+ σ1 I

−1

Đối với người dùng 2, đầu tiên thông tin của người dùng 1 cần được trừ và quy trình tương tự như trên:

l21

j= arg min

X 1

j ∈X

d2−α/2

˜

H1



j

−pP1Xj1

2

˜

H2= (H2)HH2(H2)H+ σ2 I

−1

Sau đó, tín hiệu này sẽ được trừ khỏi tín hiệu nhận được:

b

Y2= Y2

d2 −α/2 −pP1Sl2H2 (8) Giải mã tín hiệu người dùng 2:

l22

j= arg min

X 2

j ∈X

b

Y2

d2 −α/2H˜2

!

j

−pP2Xj2

2

Như quy trình đã đề cập ở trên, đối với người dùng thứ K, quá trình giải mã tín hiệu có thể được biểu diễn như sau:

b

dK−α/2 −pPKSlK

K−1HK, (10)

lKK

j = arg min

X K

j ∈X

b

YK

dK −α/2H˜K

!

j

−pPKXjK

2

(11)

Từ phương trình trên có thể thấy rằng kết quả cuối cùng được thể hiện dưới dạng sau:

lK = fk f2(Y2f1(Y1A + b1) + b2) + bk, (12) trong đó Yk là một ma trận không đổi tương ứng với H˜k

d k−α/2,

bk là một véc tơ không đổi tương ứng với√PkXk

j, fiđại diện

cho dạng của hàm phi tuyến tương ứng với hàm argmin.

B Ứng dụng của mô hình DNN trong hệ thống MIMO-NOMA

DNN là phiên bản “sâu” hơn của mạng nơ ron thần kinh, thường gồm ba lớp: input layer (lớp đầu vào), hidden layer (lớp ẩn), và output layer (lớp đầu ra) Input layer và output layer là các lớp đơn, trong khi đó hidden layer có thể mở rộng thành nhiều lớp tùy thuộc vào độ phức tạp của thuật toán Một

mô hình DNN được thể hiện như Hình 1 Tại mỗi node trong mạng sẽ diễn ra hai bước: tính tổng linear và áp dụng hàm kích hoạt Quy trình tại mỗi node có thể được biểu diễn như

Hình 2 Giả sử đầu ra của lớp thứ (n-1) là yn−1, ma trận trọng

Trang 3

Hình 1 Mô hình DNN.

Hình 2 Quy trình xử lí dữ liệu tại mỗi node trong mạng.

số của lớp thứ n là wn, véc tơ độ lệch là bn, đầu ra của lớp

thứ n ký hiệu là yn được biểu diễn như sau:

yn = f (wn.yn−1+ bn) (13) Đối với mô hình có nhiều hidden layer, giả sử rằng độ lệch

b là 0, biểu thức truyền có thể được viết như sau:

yn= f (wnf (wn−1f · · · w2f (w1y0))) (14)

So sánh với phương trình (10) khi sử dụng phương pháp SIC

ta thấy có sự tương đồng, do đó DNN có khả năng thay thế

phương pháp SIC truyền thống trong hệ thống MIMO-NOMA

III MÔ PHỎNG HỆ THỐNG MIMO-NOMA-DNN

A Nguyên lý mô phỏng hệ thống MIMO-NOMA-DNN

Hệ thống MIMO-NOMA-DNN bao gồm ba khối thành

phần: khối huấn luyện, khối thử nghiệm và khối tách tín hiệu

DNN Cấu trúc của mô hình MIMO-NOMA-DNN được minh

họa trong hình 3 [10]

Khối huấn luyện (training) chịu trách nhiệm tạo ra tín hiệu

MIMO-NOMA và cung cấp nhãn cho khối DNN

Khối thử nghiệm (testing) tạo dữ liệu để kiểm tra khả năng

khôi phục tín hiệu của hệ thống

Khối DNN là khối tách tín hiệu chính để khôi phục tín hiệu

nhận được Trong khối này, phải thiết kế nhiều tham số, bao

gồm số lớp, hàm kích hoạt, hàm mất mát và thuật toán lặp tối

ưu các tham số của mô hình

Quá trình giải mã tín hiệu có thể được chia thành hai bước:

- Bước 1: Chế độ huấn luyện để giúp DNN tối ưu hóa các

tham số

- Bước 2: Chế độ kiểm tra để đánh giá chất lượng hệ thống

B Thiết kế khối DNN

Mô hình DNN thiết kế ở đây để giải mã tín hiệu

MIMO-NOMA bao gồm bảy lớp: một lớp đầu vào, một lớp đầu ra và

năm lớp ẩn Lớp đầu vào và lớp ẩn là các lớp mạng kết nối

đầy đủ (fully connected), trong khi các lớp đầu ra được chia

thành các nhóm để giải mã tín hiệu của nhiều anten trong một

khe thời gian

Hình 3 Cấu trúc của mô hình MIMO-NOMA-DNN.

Lớp đầu vào là nơi nhận tín hiệu MIMO-NOMA Giả sử rằng số lượng anten phát và thu của BS và UE lần lượt là M

và N Tín hiệu thu dưới dạng số phức được phân tách thành phần thực và phần ảo, vì vậy số lượng node của lớp đầu vào là 2N Hàm ReLU sẽ được sử dụng để kích hoạt các nơ ron sau hoạt động tuyến tính trong các lớp ẩn Lớp đầu ra DNN được

mã hóa one-hot cùng với hàm kích hoạt softmax Tuy nhiên, trong giải mã tín hiệu MIMO-NOMA, tín hiệu từ nhiều anten phải được giải mã trong một khe Vì vậy, lớp đầu ra được thiết

kế để tạo thành các nhóm Số lượng các nhóm bằng số lượng anten phát M và số lượng node trong mỗi nhóm bằng với số lượng mã hóa one-hot [10]

Lựa chọn hàm mất mát là hàm cross-entropy và thuật toán tối ưu là thuật toán Adam cho hệ thống MIMO-NOMA-DNN Hàm cross-entropy có tốc độ hội tụ nhanh và độ phức tạp thấp trong quá trình tối ưu hóa lặp Phương pháp Adam được dùng làm thuật toán tối ưu hóa vì có khả năng tự thích ứng với tốc

độ học tập và tối ưu mạnh mẽ

C Quy trình thực hiện mô phỏng

Giai đoạn 1: CHUẨN BỊ

Dữ liệu đầu vào mô hình mạng nơ ron là tín hiệu nhận được tại phía thu sau khi qua kênh truyền của hệ thống MIMO-NOMA Giai đoạn này sẽ thực hiện toàn bộ quá trình tạo dữ liệu truyền, truyền dữ liệu qua kênh truyền và tín hiệu thu tại người dùng Nhãn ở đây sẽ được mã hóa one-hot tương ứng với symbol truyền tạo ra Mã hóa one-hot biến đổi nhãn phân loại thành các véc tơ 0 và 1 Độ dài của các véc tơ này là số lượng các lớp hoặc đặc trưng mà mô hình dự kiến sẽ phân loại Đối với tín hiệu symbol truyền đi, cần tạo một ma trận

là toàn bộ các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình truyền đi

Với nhãn, ma trận được tạo sẽ bao gồm các véc tơ one-hot được mã hóa tương ứng với các symbol truyền theo quy luật như bảng I Giả sử tín hiệu được điều biến theo kiểu BPSK,

Bảng I

M Ã HÓA VÉC TƠ ONE - HOT Symbol truyền Vecto one-hot

sau đó sử dụng kỹ thuật mã hóa xếp chồng SC (Supperposition Coding) để truyền thông tin đến nhiều người dùng đồng thời

từ một nguồn phát Tín hiệu sau khi qua kênh truyền Rayleigh

và nhiễu AWGN là dữ liệu đầu vào của mô hình mạng nơ ron

Giai đoạn 2: XÂY DỰNG

Trang 4

hàm kích hoạt về trạng thái zero-mean với độ lệch chuẩn là

1, phương pháp này gọi là Batch Normalization

Lớp đầu ra của mô hình mạng nơ ron chính là giá trị dự

đoán (predicted) và sẽ được so sánh với nhãn – giá trị thật

tương ứng của symbol truyền Do đó, kích thước của dữ liệu

ở lớp đầu ra cuối cùng sẽ tương ứng với kích thước của nhãn

Hàm kích hoạt sử dụng ở lớp này là hàm softmax

Giai đoạn 3: HUẤN LUYỆN

Quá trình huấn luyện hay quá trình học các đặc điểm của

tập dữ liệu huấn luyện sẽ cho ra một bộ trọng số tối ưu nhất

của mô hình để với một tập dữ liệu mới là các symbol truyền

đi thì mô hình vẫn có thể giải mã tín hiệu ở phía thu một cách

chính xác

Giai đoạn 4: KIỂM TRA

Mục đích của giai đoạn này là để kiểm tra lại khả năng

giải mã tín hiệu của mô hình vừa được huấn luyện và tính lỗi

trong quá trình giải mã tín hiệu để vẽ đồ thị SER theo SNR

Lưu ý rằng, trong giai đoạn 3 và 4, tập dữ liệu huấn luyện

và dữ liệu kiểm tra được gửi qua cùng một kênh truyền, tức

là có hệ số kênh giống nhau trong cả hai giai đoạn Điều này

giúp đáp ứng với bộ thông số mô hình đã thiết lập và đảm

bảo tính chính xác của hệ thống

IV KẾT QUẢ MÔ PHỎNG

A Đánh giá chất lượng hệ thống giữa phương pháp SIC và

Học sâu

Bài báo tập trung xem xét vào trường hợp hệ thống có hai

người dùng Một kênh truyền MIMO 4 × 4 với phân phối

Rayleigh sẽ được xem xét trong trường hợp này Tổng công

suất phát cho một ăng ten là 1W Người dùng 1 được phân bổ

80% công suất, người dùng 2 phân bổ 20% công suất Tổng

số mẫu huấn luyện là 8000 mẫu

Số lượng node của lớp đầu vào trong một khe là 8 và dữ

liệu đầu vào được đưa đến khối DNN dưới dạng véc tơ cột

Tất cả các nhãn được sử dụng trong huấn luyện được giám sát

đều được mã hóa one-hot Các tham số chính được tóm tắt

trong Bảng II

Hình 4 trình bày tỉ lệ lỗi symbol (SER) theo SNR để so

sánh chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN với hệ thống

MIMO-NOMA-SIC

Có thể thấy, chất lượng hệ thống sử dụng phương pháp học

sâu để giải mã tín hiệu cho kết quả tốt hơn nhiều so với hệ

thống sử dụng phương pháp SIC truyền thống Khi so sánh

chất lượng của người dùng 2 trong hai hệ thống với mức BER

lần lượt là 10−3 và 10−4, thì người dùng 2 trong hệ thống

MIMO-NOMA-DNN luôn cho SNR tốt hơn 11 dB

Số lượng mẫu huấn luyện 8000 Tổng công suất truyền trên anten 1W

Hệ số phân bổ công suất 0.8

Hình 4 So sánh chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN và hệ thống MIMO-NOMA-SIC.

B Đánh giá chất lượng hệ thống khi sử dụng các phương pháp điều chế khác nhau

Ở đây, bài báo đã mô phỏng tình huống cả hai người dùng

sử dụng điều chế BPSK hoặc QPSK Xét rằng việc giải mã tín hiệu người dùng 2 đòi hỏi tín hiệu người dùng 1 phải được giải mã trước theo phương pháp SIC, ở đây chỉ xem xét phát hiện tín hiệu người dùng 2 trong phương pháp học sâu do độ phức tạp của nó cao hơn

Hình 5 mô tả chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN

và MIMO-NOMA-SIC trong các trường hợp sử dụng loại điều chế khác nhau Rõ ràng, giải mã tín hiệu MIMO-NOMA sử dụng học sâu luôn cho chất lượng hệ thống tốt hơn rất nhiều cho dù là ở trường hợp sử dụng điều chế BPSK hay QPSK Những kết quả này cho thấy cả hai đặc điểm của kênh MIMO với kênh Rayleigh fading và giải điều chế tín hiệu với NOMA

có thể được học qua mô hình DNN

C Ảnh hưởng của tỉ lệ phân bổ công suất

Hình 6 thể hiện chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN và MIMO-NOMA-SIC với điều chế BPSK trong trường hợp sử dụng các hệ số phân bổ công suất khác nhau tại phía phát như (0.9, 0.1), (0.8, 0.2), (0.7, 0.3) và (0.6, 0.4) Có thể thấy, hệ thống MIMO-NOMA-DNN đạt được chất lượng tốt hơn (khoảng chênh lệch SNR là hơn 10 dB) so với hệ thống

Trang 5

Hình 5 So sánh chất lượng của hệ thống NOMA-DNN và

MIMO-NOMA- SIC trong các trường hợp sử dụng loại điều chế khác nhau.

Hình 6 So sánh chất lượng hệ thống DNN và

MIMO-NOMA-SIC trong trường hợp sử dụng các hệ số phân bổ công suất khác nhau.

sử dụng phương pháp SIC trong mọi trường hợp phân bổ công

suất Với hệ số phân bổ công suất là 0.8, nhận thấy rằng chất

lượng hệ thống thu được ở đây là tốt nhất

D Ảnh hưởng của một số thông số của DNN

Thay đổi thông số learning rate

Việc chọn learning rate tối ưu cho mô hình thật sự là một

điều quan trọng Nếu learning rate có giá trị quá nhỏ sẽ dẫn

đến quá trình huấn luyện mô hình gặp khó khăn, thuật toán

Gradient Descend sẽ mất rất nhiều thời gian để đi đến cực

tiểu Trong khi giá trị quá lớn có thể dẫn đến việc bộ trọng số

tối ưu quá nhanh hay quá trình huấn luyện không ổn định Bài

báo đã tiến hành thay đổi các giá trị learning rate với bước thay

đổi là 10−1trong khoảng từ 10−7đến 1 Hình 7 biểu diễn chất

lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN khi sử dụng những giá

trị learning rate khác nhau Với các giá trị learning rate nằm

trong khoảng từ 10−4 đến 1, hệ thống MIMO-NOMA-DNN

vẫn cho chất lượng tốt Với các giá trị learning rate nằm trong

khoảng từ 10−7đến 10−5, hệ thống MIMO-NOMA-DNN cho

chất lượng tồi hơn nhiều so với các trường hợp trên Nếu giá

trị learning rate quá nhỏ, việc huấn luyện mô hình có thể bị

thất bại, dẫn đến mô hình không cập nhật được bộ trọng số

tối ưu nhất

Thay đổi các thuật toán tối ưu trọng số

Hình 7 Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN với những giá trị learning rate khác nhau.

Hình 8 Chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong trường hợp sử dụng các thuật toán tối ưu khác nhau.

Các thuật toán tối ưu có nhiệm vụ tính toán gradient của hàm mất mát và cập nhật các tham số của mô hình sao cho tối

ưu nhất Các thuật toán tối ưu thường sử dụng như thuật toán SGD, SGD với Momentum, RMSProp, và thuật toán Adam Hình 8 biểu diễn chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong trường hợp sử dụng các loại thuật toán tối ưu khác nhau với learning rate được chọn là 10−4 Khi sử dụng thuật toán Adam, dữ liệu tại người dùng 2 khi sử dụng hệ thống MIMO-NOMA-DNN được giải mã tốt nhất trong các trường hợp Các trường hợp còn lại khi sử dụng thuật toán RMSProp, SGD momentum cho kết quả chất lượng của hệ thống tệ hơn Trong trường hợp sử dụng thuật toán SGD, chất lượng của hệ thống rất tệ, người dùng 2 khi sử dụng hệ thống MIMO-NOMA-DNN thì không giải mã được tín hiệu Nguyên nhân là do learning rate là 10−4 khá nhỏ trong trường hợp sử dụng thuật toán SGD làm cho mô hình mất rất nhiều bước để

có thể đến điểm tối ưu nhất của tham số

Thay đổi số lượng lớp ẩn và số node trong lớp ẩn của

mô hình mạng nơ ron

Việc thay đổi số lượng lớp ẩn và số node trong lớp ẩn cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hệ thống Hình 9 biểu diễn chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong các trường hợp mô hình mạng nơ ron được thiết kế với số lượng

Trang 6

Lựa chọn số lượng node của lớp ẩn bằng cách lấy tỉ lệ so

với số lượng node của lớp đầu vào và đầu ra giúp cho việc

mô phỏng hệ thống có tính định hướng hơn Ý tưởng là chia

thành ba trường hợp có thể xảy ra trong quá trình lựa chọn

số node của lớp ẩn là ít hơn, nhiều hơn và bằng với số node

của lớp đầu vào, đầu ra Tỉ lệ được chọn thường là 1/2, 1/3,

2, 3, Sau đó, đánh giá chất lượng mô hình với số lượng

node của lớp ẩn đã chọn Việc cần làm bây giờ là lựa chọn

các giá trị trong trường hợp mô hình cho chất lượng tốt hơn

Bằng phương pháp này, quá trình lựa chọn số lượng node của

lớp ẩn đã được rút ngắn và có định hướng rõ ràng hơn trong

việc lựa chọn một giá trị cụ thể để thiết kế mô hình mạng nơ

ron

V KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Việc áp dụng học sâu DNN trong các hệ thống truyền thông

MIMO-NOMA là một cách tiếp cận đầy hứa hẹn để giải quyết

những thiếu sót của phương pháp SIC Bài báo này đã xây

dựng thành công hệ thống giải mã tín hiệu

MIMO-NOMA-DNN để thực hiện phục hồi tín hiệu Hệ thống này có thể

đồng thời hoàn thành các quá trình ước tính kênh và giải mã

tín hiệu MIMO-NOMA Trong tương lai, bài báo này có thể

được nghiên cứu thêm các cách tiếp cận các vấn đề giải mã

các loại tín hiệu NOMA khác, chẳng hạn như đa truy nhập

mã thưa (SCMA), truy cập chia sẻ nhiều người dùng (MUSA)

và đa truy nhập phân chia mẫu (PDMA) Mở rộng đánh giá

chất lượng hệ thống trong các tình huống kênh khác nhau và

tình huống nhiều người dùng hơn Xem xét đến tình huống

mà CSI ước tính bị lệch so với thực tế ảnh hưởng như thế nào

đến chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN

LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Khoa học Tự

nhiên, ĐHQG-HCM trong khuôn khổ Đề tài mã số T2021-30

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Higuchi, K.; Benjebbour, A Non-Orthogonal Multiple Access (NOMA)

with Successive Interference Cancellation for Future Radio Access.

IEICE Trans Commun 2015, 98, 403–414

[2] TM Cover, Broadcast channels IEEE Trans Inf Theory 18(1), 2–14

(1972)

[3] E Nachmani, Y Be’ery, and D Burshtein, "Learning to decode linear

codes using Deep Learning," in 2016 54th Annual Allerton Conference

on Communication, Control, and Computing (Allerton), 2016, pp

341-346.

[4] T Gruber, S Cammerer, J Hoydis, and S t Brink, "On Deep

Learning-based channel decoding," in 2017 51st Annual Conference on

Informa-tion Sciences and Systems (CISS), 2017, pp 1-6.

[5] X Wang, L Gao, S Mao, and S Pandey, "CSI-Based Fingerprinting for

Indoor Localization: A Deep Learning Approach," IEEE Transactions on

Vehicular Technology, vol 66, no 1, pp 763-776, 2017.

[6] S Chen, G J Gibson, C F N Cowan, and P M Grant, "Adaptive

equalization of finite non-linear channels using multilayer perceptrons,"

Signal Processing, vol 20, no 2, pp 107-119, 1990.

(a)

(b)

(c) Hình 9 Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong trường hợp sử dụng

số lượng số lớp ẩn khác nhau và số node của lớp ẩn là (a) 16 node (b) 8 node (c) 4 node

[7] H Ye, G Y Li, and B Juang, "Power of Deep Learning for Channel Estimation and Signal Detection in OFDM Systems," IEEE Wireless Communications Letters, vol 7, no 1, pp 114-117, 2018.

[8] Y Xu, D Li, Z Wang, Q Guo, and W Xiang, "A Deep Learning method based on convolutional neural network for automatic modulation classification of wireless signals," Wireless Networks, vol 25, no 7, pp 3735-3746, 2019/10/01 2019.

[9] G Aceto, D Ciuonzo, A Montieri, and A Pescapé, "Mobile Encrypted Traffic Classification Using Deep Learning: Experimental Evaluation, Lessons Learned, and Challenges," IEEE Transactions on Network and Service Management, vol 16, no 2, pp 445-458, 2019.

[10] Lin Chuan, Qing Chang, Xianxu Li, "A deep learning approach for MIMO-NOMA downlink signal detection", Sensors 19, no.11, 2019.

...

dựng thành công hệ thống giải mã tín hiệu

MIMO-NOMA- DNN để thực phục hồi tín hiệu Hệ thống

đồng thời hồn thành q trình ước tính kênh giải mã

tín hiệu MIMO-NOMA Trong tương lai,...

Hình mơ tả chất lượng hệ thống MIMO-NOMA- DNN

và MIMO-NOMA- SIC trường hợp sử dụng loại điều chế khác Rõ ràng, giải mã tín hiệu MIMO-NOMA sử dụng học sâu ln cho chất lượng hệ thống. .. MIMO-NOMA- DNN với hệ thống

MIMO-NOMA- SIC

Có thể thấy, chất lượng hệ thống sử dụng phương pháp học

sâu để giải mã tín hiệu cho kết tốt nhiều so với hệ

thống sử dụng phương

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG (Trang 2)
A. Mô hình hệ thống MIMO-NOMA sử dụng phương pháp triệt nhiễu nối tiếp SIC ở phía thu - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
h ình hệ thống MIMO-NOMA sử dụng phương pháp triệt nhiễu nối tiếp SIC ở phía thu (Trang 2)
Hình 2. Quy trình xử lí dữ liệu tại mỗi node trong mạng. - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 2. Quy trình xử lí dữ liệu tại mỗi node trong mạng (Trang 3)
Hình 1. Mô hình DNN. - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 1. Mô hình DNN (Trang 3)
Lớp đầu ra của mô hình mạng nơ ron chính là giá trị dự đoán (predicted) và sẽ được so sánh với nhãn – giá trị thật tương ứng của symbol truyền - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
p đầu ra của mô hình mạng nơ ron chính là giá trị dự đoán (predicted) và sẽ được so sánh với nhãn – giá trị thật tương ứng của symbol truyền (Trang 4)
Hình 7. Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN với những giá trị learning rate khác nhau. - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 7. Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN với những giá trị learning rate khác nhau (Trang 5)
Hình 6. So sánh chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN và MIMO-NOMA- MIMO-NOMA-SIC trong trường hợp sử dụng các hệ số phân bổ công suất khác nhau. - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 6. So sánh chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN và MIMO-NOMA- MIMO-NOMA-SIC trong trường hợp sử dụng các hệ số phân bổ công suất khác nhau (Trang 5)
Hình 5. So sánh chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN và MIMO- MIMO-NOMA- SIC trong các trường hợp sử dụng loại điều chế khác nhau. - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 5. So sánh chất lượng của hệ thống MIMO-NOMA-DNN và MIMO- MIMO-NOMA- SIC trong các trường hợp sử dụng loại điều chế khác nhau (Trang 5)
Việc chọn learning rate tối ưu cho mô hình thật sự là một điều quan trọng. Nếu learning rate có giá trị quá nhỏ sẽ dẫn đến quá trình huấn luyện mô hình gặp khó khăn, thuật toán Gradient Descend sẽ mất rất nhiều thời gian để đi đến cực tiểu - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
i ệc chọn learning rate tối ưu cho mô hình thật sự là một điều quan trọng. Nếu learning rate có giá trị quá nhỏ sẽ dẫn đến quá trình huấn luyện mô hình gặp khó khăn, thuật toán Gradient Descend sẽ mất rất nhiều thời gian để đi đến cực tiểu (Trang 5)
Hình 9. Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong trường hợp sử dụng số lượng số lớp ẩn khác nhau và số node của lớp ẩn là (a) 16 node (b) 8 node (c) 4 node - Ứng dụng mô hình Deep Neural Network để khôi phục tín hiệu trong hệ thống MIMO-NOMA
Hình 9. Chất lượng hệ thống MIMO-NOMA-DNN trong trường hợp sử dụng số lượng số lớp ẩn khác nhau và số node của lớp ẩn là (a) 16 node (b) 8 node (c) 4 node (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm