1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng

5 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, nhóm tác giả thực hiện tính toán, mô hình hóa và mô phỏng cấu trúc anten thấu kính (ATTK) có hệ số khúc xạ dương dạng elip và thấu kính với điều kiện Abbe’s sine từ đó so sánh và đánh giá khả năng quét búp sóng góc rộng giữa hai cấu trúc anten thấu kính. Kết quả cho thấy sự hiệu quả của anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine khi góc quét búp sóng rộng lên tới 900 mà vẫn duy trì được tính định hướng cao, biên độ cánh sóng bên thấp hơn so với ATTK dạng elip.

Trang 1

Nghiên Cứu Anten Thấu Kính Điện Môi Dạng Elip và Điều Kiện Abbe’s Sine Băng Tần Milimét về Khả Năng

Quét Búp Sóng Góc Rộng

Phan Văn Hưng1, Nguyễn Đình Thái2, Nguyễn Kiếm Minh Trung1, Đặng Tiến Dũng3,

Hoàng Đình Thuyên1, Nguyễn Quốc Định1

1 Khoa Vô tuyến điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn

2 Trường Cao đẳng Kỹ thuật Thông Tin

3 Trường Đại học Thông Tin Liên Lạc (Tác giả liên hệ: Nguyễn Quốc Định)

Tóm tắt - Trong thông tin di động 5G, hệ thống anten cho

trạm gốc phải có tính định hướng cao, khả năng tạo được

đa búp sóng và quét búp sóng góc rộng Anten thấu kính

đang được lựa chọn là một trong những anten có hiệu

quả cao khi sử dụng cho trạm gốc Trong bài báo này,

nhóm tác giả thực hiện tính toán, mô hình hóa và mô

phỏng cấu trúc anten thấu kính (ATTK) có hệ số khúc xạ

dương dạng elip và thấu kính với điều kiện Abbe’s sine

từ đó so sánh và đánh giá khả năng quét búp sóng góc

rộng giữa hai cấu trúc anten thấu kính Kết quả cho thấy

sự hiệu quả của anten thấu kính với điều kiện Abbe’s

sine khi góc quét búp sóng rộng lên tới 90 0 mà vẫn duy

trì được tính định hướng cao, biên độ cánh sóng bên thấp

hơn so với ATTK dạng elip

Từ khóa - anten thấu kính, anten góc quét rộng, điều

kiện Abbe’s sine

I GIỚITHIỆU Vào những năm 1880, Hertz và Oliver Lodge đã

nghiên cứu việc sử dụng thấu kính điện môi như một

phần của anten trong môi trường sóng điện từ Năm

1888, anten thấu kính điện môi đầu tiên được thí

nghiệm và hoạt động ở bước sóng 1 mét [1] Tuy

nhiên, phải đến Chiến tranh Thế giới thứ hai, anten

thấu kính mới được nghiên cứu và phát triển nhiều

hơn Thấu kính điện môi được sử dụng để biến đổi

dạng bức xạ của nguồn phát xạ thành một số dạng bức

xạ có độ tăng ích cao hơn, có khả năng tạo nhiều búp

sóng cố định hoặc quét các búp sóng góc rộng Trong

hai thập kỷ qua, với những tiến bộ vượt bậc của công

nghệ chế tạo thấu kính cho dải sóng milimét, các nhà

nghiên cứu đã có sự quan tâm ngày càng nhiều đến

anten thấu kính Với công nghệ mới, kích thước của

anten thấu kính điện môi được chế tạo nhỏ gọn hơn,

đáp ứng được các yêu cầu và ứng dụng thực tế

Trong thông tin di động 5G, hệ thống anten cho

trạm gốc phải có khả năng tạo được đa búp sóng và

quét búp sóng góc rộng để có thể đáp ứng được nhiều

kết nối không dây cùng một lúc tại các địa điểm khác

nhau [2]–[5] Ở băng tần N257 (26.50 GHz-29.50

GHz), anten thấu kính được xem là một lựa chọn tiềm năng [6]–[11] Bởi vì có cấu trúc đặc biệt, anten thấu kính không chịu sự ảnh hưởng bởi sự che chắn của nguồn phát xạ, do đó khi thiết lập các nguồn phát xạ lệch trục cho phép anten tạo được nhiều búp sóng hơn

và cải thiện được góc quét búp sóng rộng hơn Cấu trúc thấu kính và quỹ đạo nguồn phát xạ là yếu tố quan trọng và quyết định đến góc quét búp sóng Trong các nghiên cứu của Y Yamada và các cộng sự đã thực hiện tính toán xây dựng cấu trúc thấu kính dựa trên định luật bảo toàn năng lượng và điều kiện Abbe’s sine, và cũng bằng phương pháp ray tracing nhóm tác giả đã tính toán các điểm hội tụ từ đó thiết lập vị trí cấp nguồn cho thấu kính để tạo ra anten thấu kính đa búp sóng và anten có góc quét búp sóng rộng [8]–[12] Tuy nhiên, việc so sánh, đánh giá sự hiệu quả về khả năng quét búp sóng góc rộng của hai loại cấu trúc anten thấu kính dạng elip và anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine chưa được làm rõ Chính vì vậy, trong bài báo này, nhóm tác giả thực hiện mô hình hóa hai cấu trúc anten thấu kính và sử dụng phần mềm tính toán trường điện từ ANSYS HFSS để thực hiện mô phỏng cấu trúc từ đó đưa ra được những đánh giá về

sự hiệu quả của từng cấu trúc về khả năng quét búp sóng góc rộng dựa trên các đặc tính bức xạ của anten thấu kính

Bài báo được cấu trúc thành 4 phần Phần 2 trình bày mô hình cấu trúc anten thấu kính có góc quét búp sóng rộng Kết quả mô phỏng và các nhận xét đánh giá được trình bày trong phần 3 Phần 4 là kết luận

II MÔHÌNHCẤUTRÚCANTEN

2.1 Cấu trúc anten thấu kính dạng elip

Anten thấu kính dạng elip được cấu trúc bởi hai thành phần chính là nguồn phát xạ và thấu kính dạng elip, được thể hiện như trong Hình 1 Thấu kính có cấu

trúc tròn xoay quanh trục Oz, mặt trong S 1 là mặt cầu

có bán kính r 1 , mặt ngoài S 2 với dạng elip Thấu kính elip có tiêu cự FT = + r1 T

Trang 2

Nguồn phát xạ

r 1

Mặt mở

r 2

D

z

Thấu kính

x

Hình 1 Mô hình cấu trúc ATTK dạng elip

Trong đó, T là độ dày của thấu kính tại tâm (trên

trục Oz) Cấu trúc mặt ngoài của thấu kính được tính

toán trong hệ tọa độ cực dựa trên các điều kiện về độ

dài điện và độ dài vật lý của đường đi tia sóng để thỏa

mãn định luật khúc xạ Snell, các tia sóng từ nguồn phát

tới mặt mở với quang lộ bằng nhau

Theo đó, chiều dài điện của các tia sóng được cho

bởi công thức [13]

r + nl + = + s r nT (1)

Và điều kiện độ dài vật lý của các tia được cho bởi

công thức (2)

(r+l) cos+ = +s r T (2)

Đặt r2 = + r1 l1, từ công thức (1) và (2) ta có,

phương trình mặt cong elip cho mặt ngoài S 2 của thấu

kính là:

1 2

T

r

Trong đó, n là hệ số khúc xạ của chất điện môi Độ

dày của thấu kính tại tâm được cho bởi công thức (4)

và D là đường kính của thấu kính

2 2

T

n

=

− (4)

Thấu kính elip là loại thấu kính khúc xạ một mặt,

tất cả các điểm trên bề mặt trong của thấu kính đều ở

cùng một khoảng cách với nguồn phát xạ và được bức

xạ với cùng biên độ Hiện tượng khúc xạ chỉ xảy ra ở

mặt ngoài elip của thấu kính

2.2 Cấu trúc anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine

Các tia sóng khi đến hoặc đi ra từ mặt ngoài thấu

kính phải thỏa mãn điều kiện khúc xạ Cấu trúc của

thấu kính với điều kiện Abbe’ sine được xác định dựa

trên phương pháp ray tracing và ba phương trình vi

phân [13]-[16] Tại mặt cong phía trong của thấu kính

S 1, cấu trúc mặt cong được được cho bởi công thức:

 

=

− − (5)

Nguồn phát xạ

Mặt mở

F

D

z 0

Thấu kính

x

z

Hình 2 Mô hình cấu trúc ATTK với điều kiện Abbe’s sine

Cấu trúc mặt ngoài của thấu kính được xác định dựa vào công thức:

sin

dz n

=

− (6) sin

=

− (7) Công thức điều kiện về tổng độ dài của các tia bức

xạ từ nguồn tới mặt mở của anten thấu kính được cho bởi công thức:

0 cos cos

t

z r

  (8)

Để thỏa mãn điều kiện Abbe’s sine, các tia sóng từ nguồn phát xạ và các tia sóng đi ra từ mặt mở của thấu kính kéo dài có giao điểm nằm trên một cung tròn có

bán kính f c, như trong Hình 2 Cung tròn trong mặt

phẳng xOz được xác định bởi công thức:

c

x= f −d (9) Khi d  rất nhỏ thì công thức (9) trở thành

sin( )

c

x= f  (10)

cos

c

dx f

 = (11)

Bằng việc giải quyết đồng thời 3 phương trình vi phân (5), (7) và (11), ta có thể xác định được cấu trúc của bề mặt trong và mặt ngoài của thấu kính

Các tia sóng từ nguồn phát xạ đi xuyên qua thấu kính thỏa mãn định luật khúc xạ Snell, các tia sóng đi

ra từ mặt mở của thấu kính là chùm tia chuẩn trực – các tia sóng song song và đồng pha với nhau

2.3 Nguồn phát xạ

Sử dụng anten loa nón làm nguồn phát xạ góc rộng cho anten thấu kính Anten nguồn phát xạ được thiết

kế hoạt động ở băng tần N257, 26.50 GHz -29.50 GHz cho thông tin di động 5G Anten loa nón có độ tăng ích cực đại đạt 17.84 dBi và có khả năng tập trung được hơn 90% năng lượng bức xạ vào thấu kính khi tâm pha của anten loa đặt tại tiêu điểm của thấu kính

Trang 3

-60 -40 -20 0 20 40 60

-25

-20

-15

-10

-5

0

Góc bức xạ (độ)

φ = 0 0

φ = 90 0

Vị trí đặt thấu kính

(a) Giản đồ bức xạ trong mặt phẳng xOz và yOz

27.0 27.5 28.0 28.5 29.0 29.5 30.0

-34

-32

-30

-28

-26

Tần số (GHz)

Hệ số phản xạ

(b) Tham số S 11

Hình 3 Tham số bức xạ của anten loa nón

Hình 3 thể hiện giản đồ bức xạ trong hai mặt phẳng

xOz, yOz và đồ thị biểu diễn hệ số phản xạ S 11 của

anten loa nón

2.4 Cấu trúc anten thấu kính góc quét búp sóng rộng

x

z

2

cos

F

Thấu kính

Quỹ đạo nguồn phát xạ

α

Hình 4 Cấu trúc anten thấu kính góc quét búp sóng rộng

Dựa trên phương pháp ray tracing được thực hiện

trong các nghiên cứu [11], [17]-[20], đã xác định được

các điểm hội tụ và quỹ đạo của điểm hội tụ khi thay đổi

góc quét của chùm tia tới Do vậy trong nghiên cứu

này, nhóm tác giả thực hiện thiết lập nguồn phát xạ trên

quỹ đạo được cho bởi công thức (12) với góc α là góc

tạo bởi tia bức xạ từ điểm hội tụ tới tâm của thấu kính

và trục quang Oz Góc α dịch chuyển trong khoảng từ

00 tới 400 với bước nhảy là 100 Điểm hội tụ của thấu

kính nằm tại tâm pha của anten loa nón Anten bức xạ

theo hướng của trục Oz Hình 4 thể hiện cấu trúc anten

thấu kính điện môi góc quét búp sóng rộng với nguồn

bức xạ được thiết lập trên quỹ đạo R

2

cos

R=F  (12) III MÔPHỎNGVÀĐÁNHGIÁKẾTQUẢ

3.1 Tham số mô phỏng

Các tham số cấu trúc và mô phỏng anten thấu kính được trình bày như trong Bảng 1 Trong đó, phần mềm tính toán trường điện từ ANSYS HFSS được sử dụng

để tính toán phân bố trường điện từ trên các mặt phẳng

và các đặc trưng bức xạ của anten thấu kính dựa trên cấu trúc đề xuất Thấu kính sử dụng vật liệu điện môi Teflon với độ từ thẩm r =1, độ điện thẩm r=2.1, tương ứng với hệ số khúc xạ của thấu kính là

2.1

Bảng 1 Các tham số cấu trúc anten

Tham số Giá trị Đơn vị

F Khoảng cách từ tiêu điểm tới đỉnh của thấu kính 100 mm

3.2 Kết quả mô phỏng và đánh giá a) Sự thay đổi đặc tính bức xạ của anten

Sự thay đổi giá trị độ tăng ích cực đại (G) và biên

độ cánh sóng bên (SLL) của hai cấu trúc anten thấu kính khi nguồn phát xạ được đặt trên quỹ đạo R và dịch

chuyển góc bức xạ từ 00-400 được thể hiện như trong Hình 5 Theo đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng, anten thấu kính đạt độ tăng ích cực đại cao nhất và biên độ cánh sóng bên thấp nhất khi nguồn phát xạ được thiết lập tại tiêu điểm của thấu kính

25 26 27 28 29 30

Gain Elip Gain Abbe' sine SLL Elip SLL Abbe's sine

Góc α (độ)

-30 -27 -24 -21 -18 -15

Hình 5 Sự thay đổi giá trị độ tăng ích và biên độ cánh sóng

bên theo góc bức xạ

Tại α = 00, anten thấu kính dạng elip có độ tăng ích cực đại đạt 28.32 dBi và biên độ cánh sóng bên là -23.3

dB, trong khi đó các giá trị này của anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine lần lượt là 28.05 dBi và -25.4 dB

Trang 4

Khi dịch chuyển nguồn phát xạ lệch trục và trên quỹ

đạo R của thấu kính thì độ tăng ích cực đại giảm dần và

biên độ cánh sóng bên tăng dần Mức độ suy giảm độ

tăng ích cực đại của anten thấu kính dạng elip xảy ra

nhiều hơn so với anten thấu kính với điều kiện Abbe’s

sine khi góc bức xạ α > 200 Cụ thể, anten thấu kính

dạng elip suy giảm 2.91 dB ở góc 400 so với góc 00

trong khi giá trị này chỉ là 1.55 dB đối với anten thấu

kính với điều kiện Abbe’s sine

Ngoài ra, biên độ cánh sóng bên của anten thấu kính

dạng elip tăng lên rất nhanh từ -23.37 dB lên -15 dB,

trong khi anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine vẫn

duy trì được mức thấp hơn -21.55 dB Tuy nhiên, độ

lệch góc bức xạ so với góc thiết lập nguồn phát (α) của

anten thấu kính dạng elip ít hơn so với anten thấu kính

với điều kiện Abbe’s sine Như vậy, đối với các ứng

dụng có góc quét búp sóng α < 200, chúng ta có thể sử

dụng cấu trúc anten thấu kính dạng elip và áp dụng cấu

trúc anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine cho các

ứng dụng yêu cầu góc quét búp sóng rộng hơn Các kết

quả mô phỏng và tham số bức xạ được trình bày chi tiết

trong Bảng 2

b) Giản đồ bức xạ và phân bố trường của anten

-5

0

5

10

15

20

25

30

-5

0

5

10

15

20

25

30

Góc bức xạ_α (độ)

α = 0 0

α = 10 0

α = 20 0

α = 30 0

α = 40 0

Anten loa

Elip Abbe's sine

Hình 6 Giản đồ bức xạ của ATTK và anten loa

Giản đồ bức xạ của anten loa nón và hai loại anten

thấu kính được thể hiện như trong Hình 6 Từ giản đồ

bức xạ ta có thể thấy hiệu quả của việc sử dụng thấu

kính điện môi trong việc cải thiện khả năng bức xạ của

anten Anten loa nón đạt giá trị độ tăng ích cực đại

bằng 17.84 dBi Nhưng khi kết hợp anten loa nón với

thấu kính điện môi thì độ tăng ích cực đại tăng lên hơn

10 dB, và gần đạt được giá trị theo lý thuyết của anten mặt mở được cho bởi công thức [21]

2

max

D

Dạng sóng phẳng

Thấu kính

Dạng sóng cầu

Nhiễu xạ

(a) Anten thấu kính dạng elip

Dạng sóng phẳng

Thấu kính

Dạng sóng cầu

Nhiễu xạ

(a) Anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine

Hình 7 Phân bố trường trên mặt phẳng xOz

Phân bố trường trên mặt phẳng xOz của anten thấu kính dạng elip và điều kiện Abbe’s sine trên quỹ đạo R

ở góc α = 300 được thể hiện như trong Hình 7 Sóng bức xạ từ nguồn phát có dạng sóng cầu, sóng đi ra từ mặt ngoài của thấu kính chuyển thành dạng sóng phẳng đồng pha Với cấu trúc thấu kính elip lõm về hướng nguồn phát do đó sóng phản xạ ngược trở lại nhiều hơn dẫn tới giao thoa sóng làm cho biên độ cánh sóng bên của anten thấu kính dạng elip cao hơn Trong khi đó, cấu trúc thấu kính với điều kiện Abbe’s sine có dạng lồi nên các tia phản xạ có xu hướng đi về phía mép ngoài thấu kính do đó sự giao thoa giữa sóng tới từ nguồn phát xạ và tia phản xạ từ bề mặt thấu kính ít hơn

vì vậy biên độ cánh bên có xu hướng thấp hơn Giải pháp để giảm sóng phản trên bề mặt thấu kính và hiện tượng đa phản xạ xảy ra bên trong thấu kính điện môi

là sử dụng lớp phối hợp phản xạ một phần tư bước sóng được trình bày trong tài liệu [7]

Bảng 2 Tổng hợp các kết quả mô phỏng

Quỹ

đạo Anten thấu kính Elip Anten thấu kính Abbe’s sine Lý thuyết

G [dBi] SLL [dB] B [ 0 ]L [ 0 ] G [dBi] SLL [dB] B [ 0 ]L [ 0 ] G max [dBi] R

29.34

Trang 5

IV KẾTLUẬN Bằng việc tính toán cấu trúc bề mặt và xây dựng

mô hình thấu kính dạng elip và thấu kính với điều kiện

Abbe’s sine bằng phần mềm Matlab và ANSYS HFSS,

nhóm tác giả đã thực hiện mô phỏng, so sánh và đánh

giá khả năng tạo đa búp sóng và quét búp sóng góc

rộng của hai loại anten thấu kính Kết quả cho thấy

anten thấu kính với điều kiện Abbe’s sine có khả năng

quét búp sóng góc rộng tốt hơn so với anten thấu kính

dạng elip, anten cho phép quét búp sóng góc rộng lên

tới 0

45

 Độ suy giảm độ tăng ích cực đại và biên độ

cánh sóng bên của anten thấu kính với điều kiện

Abbe’s sine ở góc 300 và 400 thấp hơn so với anten

thấu kính dạng elip Kết quả của bài báo này là cơ sở

cho các nhà nghiên cứu, chế tạo sử dụng thấu kính có

cấu trúc phù hợp trong việc thiết kế anten tạo đa búp

sóng, góc quét búp sóng rộng cho trạm gốc trong thông

tin di động 5G

TÀILIỆUTHAMKHẢO

[1] O J Lodge, J L Howard, "On Electric Radiation and its

Concentration by Lenses," Proceedings of the Physical Society

of London, 10:143, 1888

[2] W Hong, H.Z Jiang, C Yu, J Chao, P Cheng, "Multibeam

Antenna Technologies for 5G Wireless Communications,"

IEEE Trans Antennas Propag., vol 65, no 12, pp 6231-6249,

Dec 2017

[3] C.X Wang, F Haider, X Gao, X.H You, Y Yang, "Cellular

communication networks," IEEE Commun Mag., vol 52, no

2, pp 122-130, 2014

[4] C.C Chang, R.H Lee, and T Y Shih, "Design of a Beam

Switching/Steering Butler Matrix for Phased Array System,"

IEEE Trans Antennas Propag., vol 58, no 2, pp 367-374,

Feb 2010

[5] Y Yamada, C.Z Jing, N.H.A Rahman, K Kamardin, I.I

Idrus, M Rehan, T.A Latef, T.A Rahman, N.Q Dinh,

"Unequally Element Spacing Array Antenna with Butler

Matrix Feed for 5G Mobile Base Station," In 2nd International

Conference on Telematics and Future Generation Networks

(TAFGEN), Kuching, Malaysia, 24-26 July 2018, pp 72-76

[6] P.V Hung, N.Q Dinh, T.V.D Nguyen, Y Yamada, N

Michishita, and M.T Islam, "Electromagnetic Simulation

Method of a Negative Refractive Index Lens Antenna," in

proceeding of International Conference on Advanced

Technologies for Communications, Hanoi, Vietnam, Oct

2019, pp 109-112

[7] P.V Hung, N.Q Dinh, H.T Thuyen, N.T Hung, L.M Thuy,

L.T Trung, and Y Yamada, "Estimations of Matching Layers

Effects on Lens Antenna Characteristics," EAI INISCOM

2020-6th EAI International Conference on Industrial Networks and Intelligent System,Virtual Space, August 2020

[8] S A Hamid, N H A Rahman, Y Yamada, P V Hung and

N Q Dinh, “Multibeam Characteristics of a Negative Refractive Index Shaped Lens,” Sensors 2020, 20, 5703, doi:10.3390/s20195703

[9] P V Hung, N Q Dinh, Y Yamada, N Michishita, M T Islam, "Parametric Analysis of Negative and Positive Refractive Index Lens Antenna by ANSYS HFSS," International Journal of Antennas and Propagation, 2020 [10] F Ansarudin, T Abd Rahman, Y Yamada, N.H.A Rahman,

K Kamardin, "Multi beam dielectric lens antenna for 5G base station," Sensors 2020, vol 20, no 20

[11] P V Hung, N Q Dinh, Y Yamada, "Negative refractive index-shaped lens antenna with straight line condition for wide angle beam scanning," Journal of Electromagnetic Waves and Applications, 2021, doi: 10.1080/09205071.2021.1990801 [12] T Maruyama, K Yamamori and Y Kuwahara, "Design of Multibeam Dielectric Lens Antennas by Multiobjective

Propagation, vol 57, no 1, pp 57-63, 2009

[13] Y.T Lo, S.W Lee, Antenna Handbook 2nd ed Van Nostrand Rainhold Company, New York (1988)

[14] F Ansarudin, T A Rahman, and Y Yamada, "MATLAB Program for Dielectric Lens Antenna Shaping," in 2018 2nd International Conference on Telematics and Future Generation Networks (TAFGEN), Malaysia, Jul 2018, pp 81-86 [15] S Samuel Dielectric and Metal-Plate Lens Microwave Antenna Theory and Design, 1 st ed.; Mc-Graw Hill: New York, NY, USA, 1949; pp 394-402

[16] Y Tajima and Y Yamada, "Design of shaped dielectric lens antenna for wide angle beam steering," Electron Commun Jpn Part III Fundam Electron Sci., vol 89, no 2, pp 1-12,

2006

[17] Y Tajima, Y Yamada, S Sasaki, and A Kezuka, "Calculation

of Wide Angle Radiation Patterns and Caustics of a Dielectric Lens Antenna by a Ray Tracing Method," IEICE Trans Electron., vol E87-C, no 9, pp 1432-1440, Sep 2004 [18] N.H.A Rahman, M.T Islam, N Misran, Y Yamada, and N Michishita, "Design of a satellite antenna for Malaysia beams

by ray tracing method," in 2012 International Symposium on Antennas and Propagation (ISAP), Nagoya, Japan, Nov 2012,

pp 1385-1388

[19] P.V Hung, N.Q Dinh, D T Dung, Y Yamada, " Caustics and Beam Steering Calculations of Negative Refractive Index Lens Antenna by the Ray Tracing Method," in proceeding of International Conference on Advanced Technologies for Communications, NhaTrang Vietnam, Oct 2020, pp 136-139 [20] Y Tajima and Y Yamada, "Improvement of Beam Scanning Characteristics of a Dielectric Lens Antenna by Array Feeds," IEICE Transactions on Fundamentals of Electronics, Communications and Computer Sciences, vol.7, pp

1616-1624, 2008

[21] W.L Stutzman and G.A Thiele, Antenna Theory and Design 3rd ed., John Wiley & Sons, New Jersey, US, 2012.

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình cấu trúc ATTK dạng elip. Trong  đó, T   là  độ  dày  của  thấu  kính  tại  tâm  (trên  trục Oz ) - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 1. Mô hình cấu trúc ATTK dạng elip. Trong đó, T là độ dày của thấu kính tại tâm (trên trục Oz ) (Trang 2)
Hình 2. Mô hình cấu trúc ATTK với điều kiện Abbe’s sine. Cấu  trúc  mặt  ngoài  của  thấu  kính  được  xác  định  dựa vào công thức:  - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 2. Mô hình cấu trúc ATTK với điều kiện Abbe’s sine. Cấu trúc mặt ngoài của thấu kính được xác định dựa vào công thức: (Trang 2)
Hình 5. Sự thay đổi giá trị độ tăng ích và biên độ cánh sóng bên theo góc bức xạ.  - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 5. Sự thay đổi giá trị độ tăng ích và biên độ cánh sóng bên theo góc bức xạ. (Trang 3)
Hình 4. Cấu trúc anten thấu kính góc quét búp sóng rộng. Dựa  trên  phương  pháp  ray  tracing  được  thực  hiện  trong các nghiên cứu [11], [17]-[20], đã xác định được  các điểm hội tụ và quỹ đạo của điểm hội tụ khi thay đổi  góc  quét  của  chùm  tia  t - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 4. Cấu trúc anten thấu kính góc quét búp sóng rộng. Dựa trên phương pháp ray tracing được thực hiện trong các nghiên cứu [11], [17]-[20], đã xác định được các điểm hội tụ và quỹ đạo của điểm hội tụ khi thay đổi góc quét của chùm tia t (Trang 3)
Hình 3. Tham số bức xạ của anten loa nón. Hình 3 thể hiện giản đồ bức xạ trong hai mặt phẳng  - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 3. Tham số bức xạ của anten loa nón. Hình 3 thể hiện giản đồ bức xạ trong hai mặt phẳng (Trang 3)
Bảng 1. Các tham số cấu trúc anten. - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Bảng 1. Các tham số cấu trúc anten (Trang 3)
Hình 7. Phân bố trường trên mặt phẳng xOz. - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 7. Phân bố trường trên mặt phẳng xOz (Trang 4)
Hình 6. Giản đồ bức xạ của ATTK và anten loa. Giản đồ bức xạ của anten loa nón và hai loại anten  thấu kính được thể hiện như trong Hình 6 - Nghiên cứu anten thấu kính điện môi dạng elip và điều kiện Abbe’s sine băng tần milimét về khả năng quét búp sóng góc rộng
Hình 6. Giản đồ bức xạ của ATTK và anten loa. Giản đồ bức xạ của anten loa nón và hai loại anten thấu kính được thể hiện như trong Hình 6 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w