Khái niệm rộng của phương pháp bao gồm tính chất chung của những hành động của thầy giáo, nhà giáo dục nhằm đạt tới mục đích, bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho sự lĩnh hội nội dung v
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO VIEN NGHIEN CUU PHAT TRIEN GIAO DUC
Trang 2-DANH SACH NHUNG THANH VIEN DE TAI
1 KS Trần Văn Thu Chủ nhiệm đề tài
3 Cử nhân Phan Hữn Tiết Thành viên đề tài
Vụ phó Vụ Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin
Trang 3MUC LUC
A Phần mở đầu
I Dat van dé
Il Khai niém về văn hoá
HI Biện pháp và mối quan hệ giữa biện pháp giáo dục với
mục đích, nội dung giáo dục
TV Tìm hiểu thực trạng về biện pháp giáo dục văn hoá cho
II.4 Giao lưu quốc tế về văn hoá
IH Dự kiến: Cấu trúc chương trình giảng dạy và giáo dục
văn hoá cho sinh viên
Trang 4I Dat van để Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu nội dung và phương pháp
giáo dục văn hoá truyền thống mang bản sắc dân tộc cho sinh viên và học
sinh chuyên nghiệp” đã hoàn thành năm 1994-1995 Theo ý kiến chỉ đạo của
Bộ và Viện, để tài này chỉ nghiên cứu phần nội dung giáo duc văn hoá (GDVRH) vì kinh phí và thời gian có hạn Phần phương pháp (hoặc biện pháp) GDVH sẽ chuyển thành để tài sau Vì thế đề tài cấp Bộ: “Những biện pháp
cơ bản trong GDVH cho sinh viên” được nghiên cứu và kết thúc trong 2 năm 1996-1997 Một hạn chế cho đề tài này là: chỉ nghiên cứu biện pháp GDVH cho sinh viên mà không để cập tới học sinh chuyên nghiệp do kinh phí và thời gian có hạn Đề tài này giải quyết phần biện pháp nhưng có sự gắn bó mật thiết với đề tài trước vì dé tài trước (B94-38-33) đã giải quyết những phần căn bản về nội dung GDVH và cơ sở lý luận của văn hoá và GDVH
Đây là sự tiếp tục đề tài trước mà thôi
Mục tiêu của đề tài: Bằng những biện pháp cụ thể, thích hợp nhằm triển khai kế hoạch giáo dục văn hoá cho sinh viên
Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp xã hội học: phỏng vấn, chuyên gia
- Hội thảo khoa học
- Phương pháp thống kê
Trong điều kiện các nền văn hoá trên thế giới đang ngày càng hoà
nhập và giao lưu rộng rãi, những biện pháp GDVH ngày càng phải trở nên
thích hợp với những biện pháp phong phú, đa dạng, hấp dẫn nhằm tạo hiệu
quả cao nhất cho quá trình giáo dục Một trong những quan tâm lớn của nhà giáo dục là phải dự đoán được mô hình nhân cách của người thanh niên nói chung và sinh viên trong thế kỷ 21 mà nhân loại đang hướng tới Nếu không
Trang 5dự đoán đúng thì những nội dung, biện pháp GDVH sẽ trở nên vô ích Vậy con người của thế ký 2i sẽ ra sao?
Thế kỷ 20 đối với người Việt Nam là một thế kỷ cách mạng và chiến tranh cứu nước Trong thế kỷ này, con người Việt Nam trước hết là con người
chiến đấu kiên cường, bất khuất bằng mọi hình thức cho cách mạng giải phóng dân tộc thành công Cách mạng giải phóng là tiêu chuẩn chủ yếu để
đánh giá con người Còn con người của thế kỷ 21 phải là người xây dựng tài
ba, rất cần mẫn, lao động có kỹ thuật, có ký luật, có năng suất cao, được trang bị tư tưởng vững vàng, lý tưởng tốt đẹp Nói cách khác, ở thế kỷ vừa qua, Việt Nam cần và đã có con người gang thép, kiên trì hoạt động bí mật
hoặc công khai, kiên trì đánh giặc bằng lưỡi và bằng kiếm, xem tính mạng và
tài sản của riêng mình nhẹ như lông hồng, xem nhà tù như trường đại học, thì
thế kỷ sắp tới ta cần con người lao động trí lực và thể lực tài giỏi, hang say sản xuất, nắm chắc khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, có ý thức sáng
tạo Trước, cả Việt Nam là chiến trường, còn nay và mai, cả Việt Nam là công trường Lao động sáng tạo là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá con người Việt Nam trong thế kỷ 21
Con người Việt Nam thé ly 21 chẳng những là con người lao động trí
lực và thể lực, có kỹ thuật, có kỷ luật, có khoa học, có năng suất lao động
cao mà còn là con người có văn hoá sâu rộng Đó là con người thấm nhuần văn hoá truyền thống Việt Nam, vừa trân trọng tiếp thu tỉnh hoa văn hoá thế giới Trong quá khứ, Việt Nam đã trải qua ba kỳ hội nhập văn hoá; Hội nhập văn hoá Nam Á, hội nhập văn hoá Trung Hoa, hội nhập văn hoá Pháp và Âu,
Mỹ Người Việt Nam đã biết chất lọc những tính hoa văn hoá thêm phong phú mà không để mất bản sắc văn hoá của dân tộc mình Thế ky 21, sự giao lưu văn hoá càng lớn, sự hoà nhập văn hoá sẽ làm cho con người mang hương sắc văn hoá nhân loại nhưng luôn cảnh giác trước những kẻ kẻ “xâm lược
văn hoá” Mất độc lập chính trị còn giành lại được; mất văn hoá dân tộc là mất hết Thế kỷ 21 cần đề phòng nạn xâm lăng văn hoá Vi vay GDVH dé
mỗi người có vũ khí bảo vệ nên văn hoá dân tộc mình Và con người thế ky
21 càng tích cực gìn gữi hoà bình, thịnh vượng cho nước mình-và cho cả nhân loại
Muốn được như vậy, có một phân quan trọng mà để tài phải giải quyết
là mối quan hệ giữa mục đích, nội dung và biện pháp GDVH
Trang 6IT, Khdi niém về văn hoá
Văn hoá là gì ? Đây là một vấn dé rất phức tạp mà bao năm trôi qua,
các học giả còn tranh luận, chưa thống nhất được; Một nhà văn hoá học nổi tiếng ở Mỹ đã tìm ra 400 định nghĩa về văn hoá Nhưng dẫu sao, chứng ta cũng cần nghiên cứu một chút về khái niệm này nhằm xác định cho chính
xác hơn cho giáo dục văn hoá
Khái niệm văn hoá trong triết học trước Mác:
Từ "văn hoá" (tiếng La Tỉnh, Cultura có nghĩa là cày cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện) bắt nguồn từ những từ La Tỉnh colo, colere (gieo trồng, vỡ đất, làm nông nghiệp) cultus (đã cầy cấy, được vun trồng) khởi đầu có nghĩa là vỡ đất, chăm bón đất đai, lao động nông nghiệp Nguồn gốc từ "văn hoá” rõ ràng có liên quan đến lao động, hoạt động tích cực cải tạo của con người Về sau, từ này chuyển nghĩa nói về tính chất khai trí, tính chất có tính giáo dục, có học vấn của bản thân con người Thấm nhuần ý nghĩa của những từ này mà Hồ Chí Minh đã từng nói: "Vì lợi ích trăm năm
phải trồng người" Trồng người là không chỉ nuôi sống con người mà thôi;
Vấn đề còn lớn hơn là đào tạo con người thành có văn hoá tốt đẹp, nhằm cung cấp cho xã hội những sản phẩm tốt đẹp mà văn hoá đất nước hun đúc nên Cái nghĩa gốc này của văn hoá là nghĩa chính, cốt tử Nói khác đi, văn
hoá không phải một thứ con người tự nhiên có được như cơ thể anh ta, mà là
một thứ con người tiếp nhận được qua quá trình giáo dục đù cho sự giáo dục
này là tự phát hay tự giác do những cơ quan chuyên môn lo liệu
Người Trung Quốc hay người phương Tây lại coi từ văn hoá như sau:
Nghĩa gốc của "văn" có nghĩa là cái vẻ đẹp do màu sắc tạo ra Từ nghĩa này,
"văn" có nghĩa là hình thức đẹp đế trước hết biểu hiện trong lễ, nhạc, cách cai trị, trong ngion ngữ, sự cư xử lịch sử Nó biểu hiện thành một hệ thống qui tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ "Văn" do đó trở thành một yếu tố then chốt của chính trị và có tính chất thu hút cả những người ngoại tộc: Đời Hán,
từ "văn hoá" coi văn hoá tức là cách cai trị mang hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo hoá (từ hoá") Cho hên người Trung Hoa và phương Đông coi: văn
hoá là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và con người biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng
Trang 7như trong các giá tri vật chất và tinh thần con người tạo ra Theo nghĩa hẹp thì văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người
Thời Phục Hưng ở Châu Âu, thuật ngữ "văn hoẩ" đã bát đầu được sử dụng theo nghĩa rộng Người ta coi văn hoá như lĩnh vực tồn tại chân chính của con người Lĩnh vực "tính người" thật sự, đối lập với "tính tự nhiên"
"tính động vật”
Văn hoá được xem như là sự phát triển của con người phù hợp với
"bản chất" của nó Cũng có phái lại cho văn hoá chủ yếu là lĩnh vực ý thức tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, triết học Nó có tính chất đối lập với lĩnh vực tồn tại vật chất của con người
E Căng lại coi: "Đạt được các khả năng đặt ra bất cứ mục tiêu nào bằng bản thể lý trí, nói chung chính là văn hoá tức là: Khả năng thực thể con người đến bất cứ mục tiêu nào do nó tự xác lập nên chính là văn hoá
Nha thơ và nhà viết kịch vĩ đại người Đức Ph.Sinle cho rằng: Văn hoá
chân chính thể hiện sự hoà hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa khoái cảm
và nghĩa vụ, tình cảm và lý trí, nội dung và hình thức, thực tế và lý tưởng
Ông viết thêm: "nhiệm vụ của văn hoá là bảo đảm các lĩnh vực này và duy trì giới hạn của một trong hai hưng phấn Văn hoá bảo đảm cho cả hai
nh vực, không chỉ cho hưng phấn lý trí đối lập với tình cảm, mà cả cho tình
cảm đối lập với lý trí Do vậy, nhiệm vụ của văn hoá có 2 mặt Thứ nhất: bảo
vệ tính chất cảm tính trước sự xâm thực của tự do; Thứ hai: bảo vệ nhân cách
trước sức mạnh của tình cảm văn hoá đạt được mặt thứ nhất bằng cách phát
triển lý trí"
Trên lập trường duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng: "Giá trị tuyệt
đối của văn hoá thể hiện ở sự phát triển phổ quát của tư duy" Tổng quát lại
các quan điểm về văn hoá, người ta đi đến định nghĩa phổ biến:
Văn hoá là hoạt động sáng tạo tích cực của con người (cá thể, nhóm
xã hội, giai cấp, dân tộc ) thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và
tỉnh thần nhằm nấm bắt và khai thác thế giới, quá trình này sẽ sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tính thần mang
Trang 8ý nghĩa xã hội; đồng thời nó là một tổng hợp chính những giá trị đã vật thể hoá hoạt động sáng tạo đó của con ngươi
Trong số rất nhiều định nghĩa và một số định nghĩa về văn hoá, chúng
ta thấy phạm trù vưn hoá là rất rộng, rất phức tạp Với đề tài này, chúng ta cần lưu ý đến khái niệm văn hoá mang ý nghĩa giáo dục và khái niệm văn
hoá đang được dùng có tính chất phổ biến trong giáo trình đó là: hoạt động sáng tạo tích cực của con người thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vật chất
va tinh than
Căn cứ vào cấu trúc của văn hoá gồm:
- Văn hoá vật chất
- Văn hoá tinh thần
Thực ra sự phân biệt này là rất tương đối vì: văn hoá vật chất và văn hoá tính thần là những bộ phận trong hệ thống hoàn chỉnh của văn hoá Hơn nữa, sự nhất thể hoá đang diễn ra trong tiến trình cách mạng khoa học kỹ thuật làm cho: một mặt, khiến cho vai trò, ý nghĩa của khía cạnh vật chất trong văn hoá tính thần tăng lên không ngừng (như các phương tiện thông
tin, nghe nhìn hiện đại lên nhiều); mặt khác, trong văn hoá vật chất, vai trò
khía cạnh tỉnh thần cũng tăng lên không ngừng "Khoa học hoá sản xuất" dan dan biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội; sự lớn mạnh của mỹ học sản xuất cuối cùng, trên giao điểm của văn hoá vật chất
và văn hoá tinh thần xuất hiện những hiện tượng xã hội không thể xếp chúng vào loại này hay loại khác (ví dự: tạo dáng đồ vật, kiến trúc Việt Nam.v.v )
Mặc dù có nhiều điểm gần nhau tương đối, văn hoá vật chất và văn hoá tính thần vẫn là 2 bộ phận của cấu trúc văn hoá Trong phạm vi đề tài này, chúng
ta chủ yếu đề cập đến văn hoá tỉnh thần
Hoạt động sáng tạo của van hod tinh thần được vật thể hoá và cũng còn tồn tại dưới động tác hoạt động, có quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất tỉnh thần (bài giảng, diễn xuất của diễn viên, hoạt động của bác s1 )
Giá trị văn hoá tính thần thường được hoạt động lâu bền Chất liệu cuốn
sách, bức tranh có thể bị huỷ hoại nhanh chóng hơn máy móc nhưng sự sáng tạo vĩ đại trong văn hoá tỉnh thần thì không bao giờ già "Trước cái đẹp chân chính thời gian đành bất lực” (Nhạc sĩ Nga Xê-Rốp đã nói vay) gid tri tinh thần thường không có giới hạn sử dụng Nhu cầu vật chất của con người,
Trang 9chẳng hạn ăn hay mặc, đến một giới hạn nào đó thì đủ Nhưng phải chăng có thể có giới hạn cho sự đây đủ về tri thức, về các giá trị khoa học hoặc nghệ thuật Tính chất vô giới hạn của nhu cầu và tiêu thụ các giá trị văn hod tinh
thần là ở chỗ chủ yếu dươí dạng hoạt động: nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, nghệ thuật.v.v
Gia trị tỉnh thân không phải lúc nào cũng được thừa nhận ngay là giá trị văn hoá Cần lưu ý tính đa ý nghĩa của mỗi giá trị văn hoá Ví dụ, tác
phẩm nghệ thuật vừa có giá trị thẩm mỹ, đạo đức, ý nghĩa chính trị, lịch sử
Muốn biết được giá trị văn hoá hay giá trị nghệ thuật, con người cần phải được giáo dục văn hoá Bởi vì muốn thừa nhận một sản phẩm là có giá trị văn hoá tỉnh thần, trước hết phải chứng mỉnh rằng nó được lôi cuốn vào sinh hoạt
thực tiễn xã hội, rằng sản phẩm ấy có vai trò nhất định trong hoạt động nắm
bắt và cải tạo thế giới Thực tiễn xã hội lịch sử sẽ xác nhận hoặc gạt bỏ sản
phẩm văn hoá tỉnh thần đó
Từ những quan niệm về văn hoá, chúng ta cũng không nên nhầm lẫn giữa học vấn và văn hoá Người có học vấn chỉ là người có tri thức ở một hay
một số lĩnh vực nào đó Nhưng để là người có văn hoá thì phải thể hiện trong
hành vi ứng xử với người khác Nếu một người có học vấn như ông giáo sư nọ; tiến sĩ hay phó tiến sĩ kia rất giỏi chuyên môn nhưng hành vi lại thô lỗ, kiêu căng, thiếu lịch sự thì lại là người vô văn hoá Và người có văn hoá cũng
có thể là người có tri thức về khoa học không cao, thậm chí còn chưa biết
chữ Thế nên, để trở thành con người có văn hoá cũng cần phải được giáo đục về văn hoá và phải quyết tâm tự rèn luyện bản thân mình nhiều lắm Xưa nay, nhiều nơi còn nhầm lẫn văn hoá và văn minh là một Thực
ra, văn hoá và văn minh lại khác nhau
Văn minh liên quan trước hết đến kỹ thuật tức là biện pháp riêng của con người để tác động tới tự nhiên và làm chủ nó Do đó, người ta nói đến một nền văn mỉnh đề đá, đò sắt, đồ đồng, một nền văn minh cơ khí, nền văn mình công nghiệp và hậu công nghiệp.v.v
Vì các thành tựu kỹ thuật rất dễ truyền bá từ tộc người này sang tộc
người khác nên sớm hay muộn chúng sẽ là thành tựu chung của nhân loại Ví
dụ kỹ thuật in của Trung Quốc là nước đầu tiên phát hiện ra và ứng dụng
Trang 10Dần dần thế giới cũng đã biết in và thành phổ biến Sự tiế bộ của văn minh
bao gồm 2 mặt, trước hết là sự tiến bộ trong kỹ thuật làm chủ tự nhiên và sau
đó là sự tiến bộ về tổ chức xã hôi nhằm giải phóng con người khỏi sự sản
xuất trực tiếp quá nhiều để quan tâm tới các mặt khác như: chính trị, quân sự,
văn hoá, nghệ thuật, dịch vụ v.v Vì văn minh là dựa trên kỹ thuật lại cực
kỳ năng động nên văn minh thường là mặt động còn văn hoá lại xét đến mặt tính, mặt cấu trúc xã hội trong các phương diện nghỉ lễ, phong tục, tập quán, chính trị, nghệ thuật chúng gắn bó với nhau một cách hữu cơ và làm thành
bộ mặt tỉnh thần của một tộc người Do đó, nghiên cứu văn hoá là nghiên cứu
cái tổng thể các phong tục, tập qúan, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị tạo nên
cái sắc thái riêng của mỗi dân tộc
Dĩ nhiên văn hoá lại gắn bó chặt chẽ với văn minh thậm chí nó là cái
linh hồn của văn minh Boi vi s4ng tạo, tiếp thu kỹ thuật không phải là sử dụng kỹ thuật Việc sử dụng chiếc máy thu hình là sử dụng một kết quả của van minh hiện đại Nhưng từ chỗ sử dụng nó đến chỗ sửa chữa, chế tạo ra nó
là một chuyện khác Nói khác đi, việc làm chủ nổi kỹ thuật chứ không biến thành kẻ chỉ biết mua, biết tiêu thụ và làm đầy tớ của kỹ thuật, bị nó nô dịch, hành hạ đòi hỏi ở người tiếp thu một vốn về văn hoá sâu sắc Cho nên một dân tộc có trình độ văn hoá càng cao thì càng dễ tiếp thu nền văn minh hơn
1H Biện pháp và mốt quan hệ giữa biện pháp GDVH với mục đích
và nội dung giáo dục văn hoá
Khái niệm phương pháp giáo dục văn hoá và biện pháp GDVH rất gần nhau Hiểu rõ phương pháp thì thấy rõ biện pháp Dù phương pháp và biện pháp giống nhau căn bản ở chỗ nó là: “cách' để thực hiện, 2 khái niệm này
không thể là một
* Về phương pháp: Khái niệm triết học về phương pháp (methode):
Phương pháp là hệ thống những qui tắc, một loạt những hệ thống thao tác xác định có thể có, nhằm đạt tới một mục đích nhất định, xuất phát từ
những điều kiện ban đầu xác định (Theo từ điển triết học - tiếng Đức, tập 2, trang 717)
Trang 11Hay theo Hêghen: Phương pháp là ý thức về hình thức tự vận động bên
trong của nội dung Đây là một khái niệm hay, nó nói lên mối quan hệ giữa nội đung và phương pháp
* Về khía cạnh sư phạm: Phương pháp là con đường tới mục đích, là
hệ thống những phương tiện và thao tác của hành động phải thực hiện để tới
mục đích đã vạch ra Khái niệm rộng của phương pháp bao gồm tính chất
chung của những hành động của thầy giáo, nhà giáo dục nhằm đạt tới mục
đích, bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho sự lĩnh hội nội dung và cho sự
phát triển của học sinh, sinh viên bằng các biện pháp cụ thể, thích hợp
* Theo lý luận dạy học: Phương pháp được hiểu là con đường chính
yếu mà thày và trò phải đi theo nhằm thực hiện mục đích đã qui định trong
chương trình, nhằm truyền thụ hoặc lĩnh hội nội dung đã ghi trong chương trình
Khái niệm phương pháp dưới góc độ sư phạm hoặc lý luận đạy học lại cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa mục đích với phương pháp
Đối với từng môn học cũng có phương pháp đặc thù cho mỗi môn học gọi là phương pháp giảng dạy bộ môn Phương pháp giảng dạy bộ môn được
hiểu là; Khoa học của những qui tắc, những mối quan hệ của những thành
phần trong việc dạy học Những thành phần này có quan hệ chặt chế với môn
học đó (methodik)
Vì ý nghĩa lớn lao của công tác GDVH cho sinh viên các trường đại
học, cao đẳng, để có được nội dung giáo dục hoàn thiện và thống nhất nó đòi
hỏi phải có một giáo trình riêng về nội dung giáo dục này nên không bàn nhiều đến phương pháp bộ môn mà chủ yếu đi vào biện pháp giáo dục
Khái niệm “biện pháp” thường được dùng khá phổ biến trong sinh hoạt và trong nhiều lĩnh vực khoa học khác như: biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính, biện pháp tổ chức, biện pháp giáo dục.v.v ngay trong các Nghị quyết lớn của Đảng cũng dùng “biện pháp thực hiện” Thuật ngữ “biện pháp” được dùng có ý nghĩa như sau:
- Tìm một phương sách thích hợp với đối tượng, với nội dung để đạt
mục đích đặt ra
11
Trang 12- Tìm cách xử trí cho phù hợp với đối tượng, với nội dung để đạt tới mục đích đề ra
- Nói đến biện pháp thì phải lượng hoá được, đo lường được Đó là cái
chung nhất, bao trùm nhất cho mọi biện pháp Cho nên biện pháp có tính cụ
thể thực hiện và khác phương pháp có tính lý luận chung hơn
Qua phân tích như trên, biện pháp nằm trong các cấp độ sau:
+ Trước hết và bao trùm hơn cả là phương pháp luận
+ Cấp độ thứ, 2 là phương pháp có tính chất đi sâu vào lý luận về phương pháp
+ Cấp độ thứ 3 có tính chất hẹp hơn và cụ thể hơn; phải lượng hoá và
do lường được đó là biện pháp
Cũng vì vậy, đề tài này dùng thuật ngữ “Biện pháp giáo dục văn hoá”
có ý nghĩa cụ thể hơn
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, vấn đề giáo dục-đào tạo sinh viên để trở thành những người có nhân cách, có trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là rất quan trọng Con người
đó phải là người có văn hoá Vì vậy, vấn đề đặt ra trong GDVH đồi hỏi phải bám sát mục tiêu giáo dục đó trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa:
MỤC TIỂU —> NỘI DUNG —> BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VĂN HOÁ
Mối quan hệ này được thể hiện bằng bảng sơ đồ sau:
Trang 13dựng mục tiêu tổng thể về GDVH cho sinh viên
(2) Từ mục tiêu đó tiến hành xây dựng nội dung giáo dục văn hoá tổng
thể để đạt mục tiêu
(3) Từ nội dung tổng thể, xây dựng một số môn học phù hợp bắt buộc
trong các trường; Ví dụ: môn lý luận và lịch sử văn hoá, văn hoá Việt Nam, phong tục tập quán Việt Nam.v.v
(4) Từ những nội dung chung của môn học lại có những nội dung từng phần nhỏ nhĩmg vẫn đảm bảo được mục tiên GDVH đặt ra
G) Dưới tác dụng của mục tiêu GDVH nói chung và kết hợp với nội dung đã được phân chia từng phần, ta xây dựng thật chính xác, cụ thể cho mục tiêu từng phần Ví dụ: Giáo dục về văn minh trong giao tiếp; Tiên học lễ hậu học văn; uống nước nhớ nguồn.v.v
13
Trang 14Để đạt được mục tiêu và nội dung đề ra, cần tiến hành những biện pháp GDVH như: công tác nhà văn hoá, câu lạc bộ sinh viên; Xây dựng phòng truyền thống nhà trường; Hội diễn văn nghệ; Lễ hội của khoa, trường,
bộ môn; Kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam; Mừng thọ thày, cô giáo; Tham quan, đu lịch, đã ngoại
Muốn có biện pháp đúng cần
IV Tim hiéu thực trạng về biện pháp giáo đục văn hoá cho sinh viên
Trong thực tiễn xã hội Việt Nam hay trong bản thân nên giáo dục nước
ta, về nhận thức GDVH, quan điểm rộng rãi đã khẳng định văn hoá là nền tảng tỉnh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
Phát triển đường lối văn hoá thông qua các Nghị quyết lớn của Đảng như: Nghị quyết Đại hội 6, 7, § Đảng CSVN; Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá 6; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCHTW khoá 7; Nghị quyết hội nghị lần thứ hai BCHTW khoá 8.v.v đã tạo điều kiện cho văn hoá, văn nghệ dat được nhiều thành tựu, đáp ứng một phần nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân trong đó có sinh viên
Hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật đã phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình thức, thể loại và phong cách biểu hiện Nhiều tác phẩm hay được nhiều người hâm mộ, có tính GDVH cao cho nhân đân và
sinh viên, phim, truyện, bài hát về sinh viên đã nhiều và sâu sắc hơn trước
Văn hoá truyền thống được khôi phục và phát triển Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình ngày càng phát triển với
nhiều nội đung phong phú về văn hoá, nghệ thuật Nhiều hoạt động văn hoá
trong sinh viên được tổ chức trên qui mô toàn quốc đã thu hút đông đảo thanh niên và sinh viên tham gia, thưởng thức như: Hội diễn văn nghệ toàn quốc cho sinh viên; Chương trình thi SV96 của truyền hình VTV3
Giao lưu văn hoá với sinh viên nước ngoài tổ chức rất tốt cho SV như
các cuộc giao lưu văn hoá giữa sinh viên Việt Nam với ASEAN, sinh viên Việt-Nhật
Trang 15Tuy có nhiều chuyển biến tích cực, tình hình văn hoá vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại: Lối sống chạy theo đồng tiền, những thị hiếu không lành mạnh, những hủ tục, mê tín tăng nhanh ngay trong giới sinh viên; nhiều văn
hoá phẩm độc hại lan tràn trên thị trường và không ít sinh viên đã bị
“nhiễm” Trước tình trạng nảy sinh xu hướng lệch lạc trong văn hoá, nghệ thuật như: phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hoá, văn nghệ cách mạng: tách văn nghệ sỹ khỏi sự lãnh đạo của Đảng; xúc phạm anh hùng,vĩ nhân của dân tộc; khuynh hướng “Thương mại hoá”, truyền bá lối sống thực dụng, sa
đọa, bạo lực phát triển Các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng những tác phẩm xấu để chống phá ta
Những tiêu cực trên đây có phần chịu tác động của cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội nước ta và những diễn biến quốc tế phức tạp Tuy vậy,
nguyên nhân chủ yếu để cho tình hình tiêu cực xảy ra nghiêm trọng và kéo
đài là do lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước về văn hoá từ trung ương
đến các cấp đã buông lỏng, hữu khuynh, bế trí sai một số cán bộ chủ chốt,
thiếu những luật lệ, thể chế của nhà nước, thiếu đầu tư thích đáng cho lĩnh Vực văn hoá và giáo dục văn hoá, thiếu biểu dương, cổ vũ những nhân tố mới tích cực và phê phán, lên án những biểu hiện tiêu cực, độc hại trong lĩnh vực văn hoá
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI thể hiện những quan điểm đổi
mới có nguyên tắc của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, có tác dụng
thúc đẩy hoạt động sáng tạo nghệ thuật Nhưng Nghị quyết chưa đánh giá thật đúng, tính phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận này, chưa lường
trước và đề ra những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với văn hoá, văn nghệ Việc truyền đạt và tổ chức thực hiện nghị quyết lại có nhiều sai sót Trước những lệch lạc xuất hiện trong văn hoá, văn
nghệ, một số cấp uỷ và cơ quan nhà nước không kịp thời phân rõ đúng sai,
thường né tránh, rụt rè trong việc xử lý; cũng có nơi sử dụng những biện
pháp hành chính không thích hợp Một số văn nghệ sĩ đảng viên dao động,
giảm sút lòng tin, không giữ vững lập trường của Đảng Trước các hiện tượng như trên, các biện pháp tiến hành GDVH chưa kịp thời và chưa phong phú
Đối với ngành giáo dục, thực trạng đó càng cần có biện pháp nhanh chóng, thích hợp, phong phú hơn để hấp dẫn sinh viên tham gia tích cực
15
Trang 16Trong quá trình khảo sát tại một số trường Dai học, thông qua các cuộc hội thảo khoa học, phỏng vấn chuyên gia, tiếp xúc trực tiếp với đại biển sinh viên, giáo viên, nhóm đề tài đã thấy rõ hơn thực: trạng về giáo dục văn hoá và biện pháp GDVH ở ngành giáo dục hiện nay Các buổi làm việc đã đi
sâu vào biện pháp GDVH Từ đó, thấy nổi lên nhiều vấn để về:
- Các môn học chính khoá
- Công tác nhà văn hoá, câu lạc bộ
- Hoạt động văn hoá nghệ thuật
Vấn đề được khẳng định rộng rãi là: sinh viên có nhu cầu văn hoá rất cao Tiến hành GDVH là rất cần thiết dù đã muộn nhưng muộn vẫn còn hơn
không Đối với chương trình chính khoá, ngay từ đầu những năm 90, Bộ
Giáo dục-Đào tạo mới bắt đầu qui định môn Văn hoá học và Văn hoá Việt Nam thuộc số những môn học chính trong chương trình đại học, cao đẳng Đến ngày 10/1/1995 Bộ Giáo dục- Đào tạo mới có công văn số 173/VP về
việc “Tăng cường giáo dục các giá trị văn hoá dân tộc và di sản văn hoá Việt Nam, yêu cầu các cơ quan liên đới chuẩn bị hệ thống giáo trình đưa vào
chương trình đại học, cao đẳng môn Văn hoá học và cơ sở văn hoá Việt Nam
để phục vụ việc học tập của sinh viên” Dựa trên chủ chương của Bộ, nhiều trường đã tiến hành giảng dạy chính khoá các môn học trên nhất là các trường thuộc khối KHXH và nhân văn hoặc sư phạm Các môn: Văn hoá đại cương, văn minh thế giới cũng được giảng dạy ở một số trường Tuy vậy, các môn học chính khoá về văn hoá còn nhiều khó khăn, vướng mắc:
- Kinh phí rất ít để đào tạo giáo viên Văn hoá học hoặc nhiều môn khác
- Giáo trình chưa thống nhất Còn biện tượng mạnh ai người nấy đạy
- Giáo viên hầu hết chưa được đào tạo chính quy mà thường ở các bộ
môn khác chuyển sang Phần lớn là giáo viên Văn hoặc Sử chuyển sang nên
vẫn còn mang phong cách, ảnh hưởng của môn Văn hoặc Sử
- Giáo viên mời thường hay bị trục trặc do họ bận công việc đột xuất
Thậm chí nhiều người được mời là giáo sư rất có tiếng tăm, uyên bác nhưng
Trang 17giảng sinh viên không hiểu và giảng kiến thức quá đại cương nên sinh viên
- Nội dung giáo trình cũng chưa ổn định Ví du: Phần văn hoá nhận
thức sinh viên rất khó hiểu vì để cập sâu đến Âm - Dương, ngũ hành, Bát quái có sinh viên cho là thầy đạy bói toán ( Như ở Kinh - dịch )
- Có giáo sư giỏi về Văn hoá học thì hầu như chỉ dạy cho cao học và
- Giáo trình một số môn như Văn hoá học hoặc Văn hoá Việt Nam chi
có 30 tiết Thời gian quá ngắn nên dạy vội và thiếu minh hoạ hoặc ngoại khoá làm cho môn học kém hấp dẫn Có buổi ngoại khoá thì lại không có
giáo viên đi theo giảng thêm nên sinh viên không hiểu
Tóm lại, việc đưa các môn học lý luận văn hoá vào chính khoá là điều
khẳng định vì có chủ trương của Bộ Giáo dục - Đào tạo và các trường đang dạy rồi Vấn đề kinh phí đào tạo và đội ngũ giáo viên dạy lý luận văn hoá
còn quá thiếu và chưa có chuyên môn cao Hiện tượng người đạy, nội dung giáo trình còn lộn xôn
Công tác nhà văn hoá, câu lạc bộ được khẳng định là rất cần thiết
trong giáo dục văn hoá cho sinh viên Hiện nay, hầu hết các trường đại học
và cao đẳng đều đã có nhà văn hoá, câu lạc bộ Tuy nhiên, thực trạng trong
các trường còn một số vấn đề nổi cộm:
- Cơ sở vật chất bị thu hẹp Ví dụ: Tại Đại học KHXH - Nhân văn có
sân bóng đá dùng để hoạt động thể thao, làm sân khấu ngoài trời và nhiều hoạt động văn hoá khác Nay sân bóng (sân vận động) đã mất vì trường xây nhà và lớp học
- Nạn khan hiếm nhà văn hoá: Nhà văn hoá sinh viên Hà Nội, Hồ Thuyền Quang có nhiều sinh hoạt hấp dẫn nhưng quá tải Sinh viên không biết đi đâu Về nhà văn hoá trường lại kém hấp dẫn Nhà văn hoá sinh viên
Hà Nội hoặc Hồ Thuyền Quang.v v sinh hoạt hay nhưng tốn nhiều tiền nên
thường thu hút sinh viên con nhà giàu Trong khi quán nhậu, Karaoke tư
nhân cũng thu hút nhiều sinh viên đến chơi
+
17
Trang 18- Kinh phí hoạt động ít: Hầu hết các nhà văn hoá hay câu lạc bộ đều
muốn phát triển nội dung cho phong phú để thu hút sinh viên nhưng kinh phí
quá ít nên khó hoạt động Mỗi khi muốn tổ chức một buổi liên hoan văn
nghệ hay hội diễn đều rất tốn kém Tính trung bình, một buổi liên hoan văn
nghệ tốn 2 triệu đồng Cuộc thi “Tiếng hát sinh viên” tốn 20 triệu đồng trong hai đêm
- Các hoạt động đã ngoại, tham quan, du lịch sinh viên rất thích nhưng
nhiều sinh viên nghèo không có tiền đóng nên phải ở nhà
Người ta bảo: Cái khó ló cái khôn Trong hoạt động của nhà văn hoá
hay câu lạc bộ, nhiễu trường tìm mọi biện pháp để duy trì hoạt động, thường thì trường chỉ cho các buổi tổ chức hoạt động, nếu không có tién thi tam
lắng Riêng hoạt động câu lạc bộ, nhiều nơi đã có sáng kiến hoạt động câu lạc bộ nhỏ Câu lạc bộ nhỏ hoạt động ít tốn kinh phí và đi chuyên một lĩnh vực hẹp Ví dụ: Câu lạc bộ Toán, Câu lạc bộ Văn; Câu lạc bộ nghệ thuật.v.v loại hình này gọn, nhỏ nhưng thu hút được những người cùng sở thích
Xuất phát từ cách nêu vấn đề, những quan niệm về biện pháp và mối quan hệ giữa biện pháp với mục đích, nội dung GDVH, tình hình và thực trạng văn hoá, giáo dục văn hoá trong xã hội và nhà trường đại học, cao đẳng
hiện nay, những biện pháp cơ bản trong giáo dục văn hoá cho sinh viên được
nghiên cứu, đề xuất một cách cụ thể
B Những biện pháp cơ bản trong giáo dục văn hoá cho sinh viên
Trong GDVH cho sinh viên có rất nhiều biện pháp Để tài này chỉ
nghiên cứu và đề xuất những biện pháp cơ bản mà thôi Là những biện pháp
cơ bản vì nó đang được áp dụng phổ biến rộng rãi; thích hợp với điều kiện hiện nay và đang có tác dụng tốt nhất trong quá trình GDVH, được sinh viên
chấp nhận, hưởng ứng rộng rãi
Những biện pháp cơ bản được-thể hiện ở hoạt động chính khoá như các môn học về lý luận văn hoá, văn hoá học có tính chất bắt buộc trong Biờ nội khoá Những biện pháp cơ bản thể hiện ở hoạt động ngoại khoá (ngoài giờ học) sẽ chiếm thời gian nhiêu hơn Hiện nay, với quỹ thời gian
học chính khoá rất có hạn mà nhiều nội dung giáo dục, học tập khác nhau
Trang 19đều muốn “len” vào Vì thế, xảy ra mâu thuẫn giữa thời gian ít với nhu cầu
và yêu cầu tăng nội dung giáng dạy Nếu đưa vào chính khoá quá nhiều nội dung thì sinh viên sẽ bị “quá tải” không tiếp thu được Tuy nhiên, việc giảng dạy các môn về văn hoá đang được tiến hành trong nhiều trường với chủ trương rõ ràng, khẳng định của Bộ Hoạt động văn hoá ngoại khoá có thuận lợi hơn vì quỹ thời gian rỗi của sinh viên cũng không ít Nếu hoạt động ngoại
khoá tốt, sẽ lôi cuốn sinh viên sinh hoạt văn hoá lành mạnh, bớt dần đi hiện
tượng thiếu lành mạnh ở các quán Karaoke “ôm”, bia “ôm” hoặc trên các chiếu bạc
Hoạt động ngoại khoá rất phong phú Các nhà văn hoá, câu lạc bộ khi hoạt động đáp ứng được sở thích, nguyện vọng của sinh viên thì sẽ lôi cuốn
được số đông hưởng ứng Những hình thức du lịch, tham quan, đã ngoại hoặc hội diễn văn nghệ xưa nay đều được hưởng ứng rất sôi nổi ở sinh viên
“nhập” vào sinh viên để họ trở thành người có nhân cách phát triển về mặt
văn hoá Nếu nói như cụ Đào Duy Anh thì “văn hoá là sinh hoạt” Có nghĩa rằng: người sinh viên tiếp thu được tri thức văn hoá qua quá trình giáo dục sẽ
biến thành người có văn hoá Cái có văn hoá đó được thể hiện cụ thể trong
sinh hoạt, ứng xử của mỗi người
Có thể tóm tắt trong sơ đồ sau:
Kiến thức văn hoá Quá trình giáo dục văn hoá ave hi “ van hod
(các môn học về văn hoá) ý hoạt, hành vi)
(Trong đó có các biện pháp GDVH)
Giáo dục văn hoá
19
Trang 20Tinh hình hiện nay có nhiều giáo trình dạy các môn về văn hoá Nhiều giáo trình soạn thảo còn tuỳ tiện trong nội dung gây nên sự lộn xôn trong các môn học về văn hoá Tuy nhiên, có 3 giáo trình có biên soạn công phu của những tác giả đã dày công nghiên cứu
- Ở miền Bắc: Giáo trình: “Cơ sở văn hoá Việt Nam” do giáo sư Trần Quốc Vượng chủ biên Giáo trình này chủ yếu được đạy tại Đại học quốc gia
Hà Nội
Giáo trình “Văn hoá học” của Đoàn Văn Chúc chủ yếu dạy ở trường Đại học Văn hoá và bồi dưỡng cán bộ văn hoá
- Ở Miền Nam: Giáo trình “Cơ sở Văn hoá Việt Nam” được giảng dạy
ở các trường phía Nam và khối Đại học ngoại ngữ trong toàn quốc
Mỗi giáo trình có đặc điểm riêng nhất là về nội dung nhưng đều được
Bộ Giáo dục-Đào tạo và Bộ Văn hoá-Thông tin công-nhận là chính thống
^ 1.1 Giáo trình “ Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam”
do Trần Quốc Vượng chủ biên Nội dung giáo trình gồm một tập thể tác giả trong đó mỗi tác giả trình bày một số nội dung về văn hoá Nội dung chính
- Những khái niệm và những vấn dé chung: trong đó nêu lên nhiều định nghĩa về văn hoá
- Giao lưu văn hoá và văn hoá Đông Nam Á
- Diễn trình lịch sử văn hoá Việt Nam
- Phân vùng văn hoá- Một số vùng và tiểu vùng văn hoá
~ Phân loại văn hoá và các thành tố của văn hoá
Thực chất, đây là một tập hợp những bài giảng khi chưa có giáo trình chính thức Năm 1997 từ cuốn sách này, đã có một giáo trình đầy đủ Là “Cơ
sở văn hoá Việt Nam” Nội dung cuốn này có nội dung tập trung và phong phú nhưng còn mang tính sử học
1L2.Giáo trình “Văn hoá học” của Đoàn Văn Chúc biên soạn rất công
phu Nội dung là một sự chọn lọc những bản thảo mà tác giả để lại khi qua
đời Cuốn sách này có nhiều ý kiến khen, chê đối lập Công phu và sự uyên
+
Trang 21bác của tác giả đã được mọi người trân trọng và đem giảng dạy “Văn hoá học” của Đoàn Văn Chúc đề cập sâu sắc đến vấn đề:
- Văn hoá học là môn học liên nghành
- Nhu cầu và nhu cầu văn hoá
- Biểu tượng văn hoá
- Văn hoá dân gian
- Trường văn hoá
- Văn hoá và phát triển văn hoá
Đây là cuốn sách công phu, sâu sắc, tương đối rộng rãi trong nội dung
có sự mạch lạc trong hình thức thể hiện
1.3 “Cơ sở văn hoá Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm được dậy ở Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và nhiều trường đại học ngoại ngữ
Nội dung bao gồm:
- Văn hoá học và văn hoá Việt Nam
- Văn hoá nhận thức
- Văn hoá tổ chức đời sống tập thể
- Văn hoá tổ chức đời sống cá nhân
- Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên
- Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội
Đây là một giáo trình công phu, khúc triết Nội dung rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, hợp lý Khác với 2 cuốn trên, Trần Ngọc Thêm đưa văn hoá nhận
thức vào giáo trình để đề cập đến:
- Tư tưởng xuất phát về bản chất của vũ trụ: Triết lý âm dương
- Triết lý về cấu trúc không gian của vũ trụ: Mô hình tam tài, ngũ hành
- Triết lý về thời gian của vũ trụ: lịch âm dương, hệ Can-Chi
21
Trang 22(ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), nhiều ý kiến cho rằng cứ cho tồn tại
các giáo trình này cho phong phú Trường nào sử dụng giáo trình nào cần lựa chọn cho thích hợp với ngành nghề
Hiện nay, các trường thuộc khối ngoại ngữ, KHXH và nhân văn đã
học các môn văn hoá học Các khoa du lịch ở một số trường cũng có soạn
giáo trình riêng Vấn đề đặt ra là: Các khối thuộc khoa học tự nhiên và kỹ
thuật có cần học không Nhiều ý kiến cho rằng: rất cần Đã là người tốt
nghiệp đại học, ngoài kiến thức chuyên môn, rất cần có kiến thức văn hoá và nhân cách phát triển về mặt văn hoá Rất cần đưa “'Cơ sở văn hoá Việt Nam” giảng dạy trong các trường thuộc khối khoa học tự nhiên, khối kinh tế và kỹ
thuật Cần tăng số tiết dạy cho các môn này
Qua khảo sát, các giáo trình giảng dạy văn hoá đã có nhiều có gắng
nhưng chưa đề cập sát với tâm lý và hoàn cảnh sinh viên Nếu giảng rộng
thêm nội dung để liên hệ thì không có thời gian Với 30 phút dạy cho một
giáo trình thì giáo viên chỉ giảng vội vàng đã không đủ thời gian Hơn nữa,
nhu cầu của sinh viên rất cần giáo trình hoặc bài giảng về “văn hoá học đường” và “văn hoá ứng xử” nhưng nhu cầu này chưa được đáp ứng Hoạt động giáo dục văn hoá trong giờ chính khoá là rất cần thiết và đã được thực hiện Với quỹ thời gian eo hẹp như hiện nay, hoạt động ngoại khoá mới là chủ yếu vì những hoạt động này tranh thủ quỹ thời gian rỗi của sinh viên
IT Chương trình ngoại khoá
Là hoạt động chính của GDVH Trong hoạt động ngoại khoá có rất nhiều hình thức phong phú Nhà văn hoá, cân lạc bộ, các buổi tham quan, đu
lịch, đã ngoại; các buổi hội diễn, các tổ chức lễ hội mừng thọ thày cô, kỷ
niệm ngày thành lập trường khoa, bộ môn Trong các hoạt động đó, nhà văn
hoá và câu lạc bộ giữ vai trò nòng cốt cho các hoạt động Có sự hỗ trợ của
Trang 23trường, đoàn TNCS trường va công đoàn trường thì kết quả hoạt động sẽ tốt hơn nhiều
II.1 Nhà văn hoá - câu lạc bộ (NVH-CLB)
Nhà văn hoá và câu lạc bộ là những từ ngữ khác nhau nhưng thực chất
cũng chỉ là một vì cơ quan câu lạc bộ là khái niệm nói chung Nó gồm qui
mô nhỏ là câu lạc bộ, qui mô trung bình là nhà văn hoá, lớn hơn cả là cung văn hoá Công tác về câu lạc bộ giải quyết toàn bộ các vấn đề đặt ra ở câu lạc bộ, nhà văn hoá, cung văn hoá Chúng có chung chức năng xã hội và
nguyên tắc hoạt động Nó là đòn bẩy quan trọng của công tác giáo dục văn
hoá Sự khác nhau của nhà văn hoá, câu lạc bộ chỉ là khối lượng và phạm vi công việc còn thường thường, chúng sử dụng chung phương pháp và hình thức công tác Cho nên khi đặt vấn đẻ: Bàn về hoạt động câu lạc bộ với vấn
đề giáo dục con người văn hoá mới là bao hàm sự hoạt động của nhà văn hoá, cung văn hoá
Về công tác văn hoá, một vài năm gần đây cũng như nhiều tầng lớp
khác trong xã hội, đời sống sinh viên đã có nhiều thay đối Dễ thấy, là những
nhu cầu của họ cả vật chất lẫn tỉnh thần ngày càng phong phú, đa dạng Hình
ảnh những sinh viên đọc sách cặm cụi, hàng ngày tuân theo một hành trình không đổi là ký túc xá - nhà ăn - giảng đường - ký túc xá đã không còn là hình mẫu được đánh giá cao Thay thế vào đó là xu hướng: học ra học, chơi
ra chơi, có những hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật cũng như các vấn để xã hội, chính trị Đó cũng là cái đích phấn đấu của nhiều sinh viên trong các
trường đại học hiện nay Với điều kiện khiêm tốn của đa số sinh viên nhất là sinh viên sống nội trú thì nhà văn hoá sinh viên (NVHSV) là một trong những phương tiện tốt giúp họ đạt được nhu cầu tốt đẹp về thưởng thức, học tập về văn hoá, nghệ thuật, chuyên môn
Một trong những đặc điểm chủ yếu trong hoạt động NVH-CLB là hoạt động vào thời gian tự do của sinh viên Vậy thời gian tự do là gì?
Ở bất cứ chế độ xã hội nào, thời gian của sinh viên cũng được chia như sau:
1 Thời gian học tập
23
Trang 242 Thời gian đi lat và làm những việc khác có liên quan đến học tập
3 Thời gian làm việc ở nhà: như nội trợ, phục vụ gia đình
4 Thời gian ăn, ngủ hoặc làm việc khác nhằm duy trì đời sống sinh lý
bình thường
5 Thời gian tự do là phần thời gian còn lại
Bốn phần thời gian đầu là thời gian tất yếu Thời gian tự do tuy không lớn nhưng có ý nghĩa đặc biệt, mỗi người sinh viên có quyền sử dụng nó theo
sở thích của mình Vì sử dụng theo sở thích nên thời gian tự do có thể có tác dụng tích cực hoặc tác hại đối với sinh viên Cần nhận thức được: Thời gian
tự do vừa là thời gian nhàn rỗi, vừa là thời gian cho một hoạt động cao hơn, biến người làm chủ thời gian tự do thành một chủ thể khác và sau đó với tư cách một chủ thể khác nó tham gia vào quá trình học tập, sản xuất trực tiếp
Thời gian tự do một khi được sử dụng hợp lý có thể làm nẩy sinh và phát triển những năng khiếu, phẩm chất xã hội mà trong học tập, sinh viên chưa
có đủ điều kiện kích thích để làm nẩy nở Thời gian tự đo là thời gian cho sự
phát triển đầy đủ của cá nhân; khi đã phát triển đầy đủ của cá nhân, đến lượt
nó sẽ tác động trở lại việc học tập, lao động rất tốt
Muốn được như vậy, nhà văn hoá -.câu lạc bộ có tác dụng rất quan trọng Đó là nơi tập hợp sinh viên, giáo dục và tạo mọi điều kiện cho họ phát
triển
Lịch sử câu lạc bộ đã có từ nước Anh vào cuối thế kỷ 16 Ban đầu họ
tập hợp những người cùng sở thích để sinh hoạt, trao đổi với nhau như: nhóm chơi cây cảnh, nhóm săn bắn, nhóm văn học hoặc âm nhạc Từ tự phát đến
tự giác, các câu lạc bộ đã phát triển nhanh, có tổ chức tốt Câu lạc bộ ra đời
đã đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người:
Câu lạc bộ sinh viên là những trung tâm để người sinh viên tiếp xúc, trao đổi văn hoá làm cho tỉnh thân thêm phong phú và giải trí lành mạnh Các trung tâm này được tổ chức nhằm giáo dục, xây dựng con người sinh
viên mới phát triển toàn điện và hài hoà cùng mục đích tự bồi đưỡng trên cơ
sở sáng kiến, tính thần chủ động và phát huy mọi năng khiếu ở mỗi người
Trang 25Chức năng của câu lạc bộ gồm:
* Chức năng giáo dục: CLB sinh viên là một công cụ đác lực để tiến hành giáo đục chính trị, tư tưởng, văn hoá, thẩm mỹ cho sinh viên thông qua các loại hình sinh hoạt phong phú, tự giác, có hướng dẫn
* Chức năng giao lưu: là nơi tổ chức các quan hệ tiếp xúc rộng rãi của
sinh viên trong thời gian rỗi nhằm kích thích tính chủ động, sáng tạo, xây đựng nếp sống văn hoá cho mỗi người
* Chức năng tổ chức vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi: Là nơi thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi và sáng tạo của thanh niên, sinh viên nhất là trong thời gian rỗi
Không những câu lạc bộ có ba chức năng trên mà còn có nguyên tắc
hoạt động nhằm thu hút đông đảo sinh viên, đáp ứng được yêu cầu giáo dục một cách có văn hoá, lành mạnh
Nguyên tắc hoạt động cửa câu lạc bộ sinh viên:
* Nguyên tắc tính đảng, tính tư tưởng: Thể hiện ở chỗ mọi hoạt động
của CLB sinh viên phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uý dang hoặc đoàn Ban chủ nhiệm phải thường xuyên thông qua kế hoạch hoạt động và xin ý kiến chỉ đạo của đảng uỷ bộ phận hoặc đoàn cấp trên
* Tính thiết thực và quần chúng rộng rãi: Thể hiện ở mục đích rõ ràng
trong mỗi buổi sinh hoạt Có mục tiêu cụ thể tránh phù phiếm, phô trương
Là nơi thu hút được nhiều người tham gia
* Tính tự nguyện và hoạt động ngoài giờ: Cho nên cần sáng tạo, đổi
mới hình thức, nội dung sinh hoạt cho hấp dẫn, lôi cuốn
Thông qua các chức năng, nguyên tắc của hoạt động câu lạc bộ cái cốt lõi cần quán triệt trong hệ thống tổ chức hoạt động của câu lạc bộ là mục
Moi biện pháp hoạt động câu lạc bộ đều phải xuất phát từ mục dich giáo dục Câu lạc bộ xác nhận việc giáo dục nói chung, giáo dục văn hoá cho mỗi thành viên câu lạc bệ là mục đích hoạt động và đựa trên cơ sở tâm lý -
Trang 26giáo dục học để tổ chức các biện pháp sinh hoạt của mình đối với sinh viên
Hoạt động giáo dục không chỉ của câu lạc bộ mà là cho các cơ quan giáo dục văn hoá nói chung
Mục đích giáo dục xây dựng nhân cách phát triển toàn diện hài hoà cho người sinh viên là vấn dé trước mắt Nó không phải là công việc làm một
sớm một chiều mà xong được Mục đích giáo dục có ý nghĩa đặc biệt khi nó thể hiện như một nhu cầu xã hội được chủ thể giáo dục nhận thức một cách
đây đủ, tiến tới việc giáo dục làm thay đổi đối tượng giáo dục
Trong hoạt động NVH - CLB hiện nay ở các trường, có lúc hoạt động mạnh mẽ rồi lại trầm xuống Không ít NVH- CLB lúc đâu hoạt động rất tốt rồi sau đó chẳng được quan tâm và hầu như tan rã Trong điều kiện kinh phí đầy khó khăn đã làm cho hoạt động của NCH - CLB rất vất vả Nhưng nhìn sâu sắc hơn, ta thấy việc nhận thức ra tác dụng giáo dục rất cao của câu lạc
bộ chưa được thấu đáo ở những nhà quản lý, người lãnh đạo câu lạc bộ _ Vì thế, cần phải có hiểu biết kỹ càng hơn về hệ thống cơ cấu tổ chức quá trình giáo dục của câu lạc bộ
Trang 27HỆ THỐNG CƠ CẤU TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
CỦA CÂU LẠC BỘ SINH VIÊN
MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC: Xây đựng con người |
có nhân cách phát triển toàn điện trong đó có
văn hoá cao
Chủ thể giáo dục Kiểm tra giáo dục
Nội dung nhiệm vụ giáo dục
(SV)
- Khách thể - Cử toạ câu lạc bộ
27
Trang 28Qua bảng trên có thể thấy rằng:
* Câu lạc bộ sinh viên (CLBSV) như một chủ thể giáo dục: vì nó là
một tổ chức giáo dục văn hoá của nhà trường, của xã hội: Bằng hoạt động
của mình, CLBSV tác động mạnh mẽ đến cử toạ để họ nhận thức được lý tưởng xã hội, để phổ biến những giá trị văn hoá, tuyên truyền những kiến thức chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, để tổ chức những cuộc vui
chơi bổ ích CLBSV còn là ưu điểm của tổ chức đẳng, công đoàn, đoàn thanh niên, nhà trường triển khai công tác giáo dục văn hoá, giáo dục các lĩnh vực
khác cho sinh viên Muốn vậy, CLB phải có tổ chức đủ mạnh để thực hiên nhiệm vụ giáo dục
* Bộ máy tổ chức: Bộ máy chỉ đạo CLBSV là một yếu tố quan trong,
có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của câu lạc bộ sinh viên Thực tế đã chứng minh nhiều CLBSV không hoạt động được do bộ máy chỉ đạo yếu kém mà một trong những nguyên nhân yếu kém là: Trình độ chuyên môn điều hành CLBSV kém; nhân sự kiêm nhiệm nhiều và hay thay đổi
Bộ máy chỉ đạo CLBSV thường bao gồm: Hội đồng CLB và ban quản
trị CLB Thanh phần hội đồng CLB có: đại biểu đương nhiên do tổ chức
Đảng, Đoàn, công đoàn, tổ chức chuyên môn và cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về công tác văn hoá quần chúng Đại biểu do quần chúng bầu vào Đại biểu đương nhiên thì có tính bao quát, đề xuất chủ trương hoạt
động của câu lạc bộ sinh viên còn đại biểu do quần chúng bầu vào là những người sát với cuộc sống sinh viên hơn họ phản ánh được yêu cầu, nguyện
vọng của đông đảo sinh viên
Hội đồng câu lạc bộ sinh viên phải xây dựng chương trình hoạt động
để đạt tới mục đích giáo dục văn hoá cho sinh viên một cách tốt nhất
Ban quản trị câu lạc bộ sinh viên là tổ chức thừa hành, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của câu lạc bộ Ban quản trị phải bàn bạc cụ thể để thực
hiện chương trình, nhiệm vụ công tác do Hội đồng câu lạc bộ đề ra Mỗi uỷ viên Ban quản trị phụ trách một phần việc Trong các nhóm chuyên môn, nhóm “chuyên để” là xương sống cho câu lạc bộ sinh viên hoạt động vì nó làm cho hoạt động của câu lạc bộ thêm đa dạng, phong phú, thường xuyên
Trang 29Các nhóm chuyên để, hội đồng, Ban quản trị phải kết hợp rất chặt chẽ với
nhau rnà người ta thường gọi là “cộng đồng câu lạc bộ”
* Nội dung, nhiệm vụ giáo dục văn hoá là mục đích giáo dục văn hoá
được chia ra từng phần, từng thời gian mà tổng hợp chúng lại thì hình thành
được sự vận động ởi tới những mục đích giáo duc đã đề ra
Mục đích giáo dục văn hoá có nhiệm vụ hình thành những đặc tính và phẩm chất có giá trị về mặt xã hội - văn hoá cho mỗi cá nhân còn nội dung - nhiệm vụ giáo dục văn hoá là những bước cụ thể để đạt mục đích đó
Nội dung- nhiệm vụ giáo dục văn hoá xuất hiện khi xuất hiện sự cần
thiết chuyển hướng một khách thể giáo dục từ trạng thái này sang trạng thái
khác, từ trình độ này lên trình độ khác, từ tiêu cực sang tích cực
Qua những nhiệm vụ trên, điều thấy được là chủ thể giáo dục không
phải chỉ được coi là người giáo dục và người thể hiện có ý thức các mục đích văn hoá- xã hội của giáo dục văn hoá mà đặc tính quan trọng khác là khả năng cải tạo chung, cụ thể hoá mục đích giáo dục văn hoá thành hệ thống nội dung nhiệm vụ giáo dục văn hoá Người sinh viên với tư cách là thành viên
của một tập thể trong nhà trường, trước hết biểu thị đặc tính của mình bằng thái độ trong học tập, tính kỷ luật, tỉnh thần trách nhiệm với công việc được
giao Những phẩm chất có nguồn gốc và ý nghĩa xã hội như thế phải được
giáo dục và chính câu lạc bộ sinh viên, sinh viên có thể nói được tiếng nói của mình Câu lạc bộ sinh viên tạo điều kiện cho mỗi người hình thành kiến
thức đạo đức - hành động, những chuẩn mực và quy tắc phổ biến nhất của
đạo đức, văn hoá
Động cơ hành động là kích thích bên trong như là như cầu, là hứng thú, là khát vọng của con người Nếu động cơ bên trong yếu thì đạo đức, văn hoá cũng không có sức mạnh thực hiện trong cuộc sống hàng ngày
Hồ Chí Minh đã từng nói: Chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm
hai mươi Ta thấy biện pháp phải phong phú, đa dạng nhưng thổi được ngọn lửa vào lòng người để có “quyết tâm hai mươi” thì mới tạo nên sức mạnh tinh thần của hành động Đây là yếu tố quyết định của động cơ hành động
29
Trang 30Trong giao tiếp ở câu lạc bộ sinh viên, mỗi người thường tự kìm hãm
những ý muốn cá nhân mà lại hình thành những cảm xúc tích cực do sự kích thích, khen ngợi của người xung quanh Những cảm xúc tích cực đó được
tích tụ lại trở thành động cơ hành động Và từ đây dễ hình thành cái mới
sáng tạo cho mỗi người cho nên câu lạc bộ sinh viên phải chọn lọc cái hay, cái tỉnh tế để tác dụng giáo dục nói chung hay giáo dục văn hoá có kết quả
tốt
* Tổ chức việc giáo dục văn hoá:
Tổ chức việc giáo dục văn hoá là công cụ quan trọng nhất nhằm đạt kết quả những nhiệm vụ đã để ra Nó cần sự thống nhất, sự tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau và sự phối hợp toàn bộ yếu tố cơ cấu của nó
Tổ chức việc giáo dục văn hoá ở câu lạc bộ có 5 yêu cầu cơ bản sau:
a Phân nhiệm rõ chức năng giữa các bộ phận hợp thành cộng đồng câu lạc bộ cho phù hợp với nhiệm vụ giáo dục đặt ra Thu hút các cộng tác viên tích cực
b Kế hoạch hoá việc sử dụng cơ sở vật chất như: Trụ sở, các trang
thiết bị kỹ thuật, các phương tiện văn hoá nghệ thuật và tài chính
c Lập kế hoạch công tác về các biện pháp hoạt động của câu lạc bộ,
thời gian, địa điểm, người phụ trách chính
d Xác định các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng các hoạt động vạch
kế hoạch thống kê và kiểm tra
e Xác định mối quan hệ mật thiết với các tổ chức và cơ quan có trách nhiệm thực hiện các chức năng giáo dục
Đó là 5 yêu cầu cơ bản đối với tập thể lãnh đạo câu lạc bộ Riêng chủ
nhiệm câu lạc bộ còn có các yêu cầu cụ thể sau đây:
a Lầm việc phải có chương trình, kế hoạch, bên cạnh các chương trình
kế hoạch 1 năm, 6 tháng phải vạch được lịch công tác cụ thể hàng tháng,
hàng tuần, hàng ngày cho từng bộ môn, từng nhóm chuyên đề Muốn xây dựng chương trình hoạt động thiết thực phải bám sát những vấn đề nóng hồi
Trang 31ở trường hoặc chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước.v.v Ví dụ: Những hoạt động ngày thành lập trường, khoa; ngày lễ lớn của đất nước; kỳ thi hoặc bảo vệ tốt nghiệp.v.v
Chủ nhiệm câu lạc bộ văn hoá phải xây dựng tác phong làm việc gì cũng phải điều tra nghiên cứu trước khi đưa vấn đề vào chương trình công
tấc, phân tích đến tác dụng thiết thực, tránh lối làm việc phô trương, hình
thức, tuỳ tiện
b Trong chỉ đạo nội dung phải toàn diện, không những nội dung chính
là hoạt động giáo dục văn hoá, cần chú ý cả nội dung thời sự - chính trị, khoa học chuyên môn, hoạt động vui chơi giải trí bổ ích
c Các hoạt động sát với đối tượng sinh viên Ví dụ: sinh viên năm đầu,
năm cuối; sinh viên các khoa chuyên môn khác nhau; sinh viên ở nội trú hay
ngoại trú nếu sát với sinh viên, các hoạt động sẽ đạt kết quả cao hơn
d Chú ý hoạt động của các chuyên đề Phải coi nhóm chuyên đề là
“xương sống” của câu lạc bộ, có kế hoạch giúp đỡ các nhóm chuyên đề sinh
hoạt thường xuyên, bổ ích, thiết thực
e Phải cố gắng dự các cuộc họp sơ kết, tổng kết các mặt công tác của
nhà trường để đề xuất chương trình công tác với hội đồng câu lạc bộ
* Phương tiện giáo dục:
Đối với mục đích giáo dục đã đề ra thì tất cả những gì được sử dụng
nhằm đạt mục đích ấy đều là phương tiện giáo dục
Câu lạc bộ sử dụng các phương tiện chung của công tác tuyên truyền,
cổ động và nâng cao văn hoá Nhưng hoạt động của nó thuộc loại đặc biệt nên đòi hỏi phải tính đến những điều kiện đặc thù khi sử dụng các phương tiện chung ấy
_ Phương tiện có quan hệ hữu cơ với phương pháp và hình thức hoạt
động Phương tiện giáo dục của câu lạc bộ gồm có: lời nói miệng, báo chí, máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, máy chiếu phim, các phương tiện trực
quan, phương tiện kỹ thuật, ánh sáng, màn ảnh và âm thanh, các tác phẩm
văn học, nghệ thuật +
31
Trang 32Lời nói miệng chiếm vị trí cực kỳ quan trọng trong hoạt động thực tế
của câu lạc bộ Nhờ lời nói miệng mà các kiến thức được truyền đạt, kinh nghiệm tiên tiến được phổ biến Lời nói miệng là yếu tố cơ bản của tác động qua lại giữa những người tham gia hoạt động, các cuộc hợp mặt tranh luận,
toạ đàm, mọi buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt tạp chí miệng, sinh hoạt của các đội văn nghệ không chuyên
Phát biểu bằng miệng có những ưu điểm không gì thay thế nổi đó là
tính chất nóng bỏng kịp thời của những điều cho biết, sự tính toán chính xác
về tâm trạng và tính chất cụ thể trong việc nói với một cử toạ nhất định, khả
năng trả lời tại chỗ những câu hỏi, bác bỏ tại chỗ những sai lầm về quan
điểm, phân tích sự kiện Ở một số trường đại học đã tổ chức các cuộc thi:
tuyển truyền viên trẻ; thi hùng biện; tranh luận các vấn đề thu được nhiều
kết quả tốt, sinh viên hưởng ứng rộng rãi Đó là sự thực tập phát biểu miệng
Cau lạc bộ văn hoá có liên quan chặt chẽ với thư viện Ở một số nơi, thư viện là một bộ phận của câu lạc bộ Cán bộ câu lạc bộ phải rất sáng tạo các hình thức tuyên truyền thông qua phương tiện sách báo Cần sử dụng hết
sức rộng rãi các loại sách báo, tạp chí, các loại sách Tiếc thay, nhu cầu đọc sách, báo của sinh viên rất cao mà sách báo lại nghèo nàn, chưa đáp ứng đầy
đủ Thậm chí phát hành rất chậm nên giảm tính thời sự Các trường ở xa
thành phố lớn thường gặp nhiều khó khăn về sách báo
Ta có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy” Vì vậy, các phương
tiện trực quan rất quan trọng Nó cụ thể hoá những cái trừn tượng, phức tạp
Nó tạo cho người ta cảm giác thích thú không chỉ bằng tư duy mà còn bằng
cảm xúc
Tác động giáo dục bằng các phương tiện nghệ thuật không chỉ tái hiện
hiện thực mà còn đánh giá hiện thực ấy dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm
mỹ nhất định Phương tiện nghệ thuật có sức mạnh đặc biệt trong việc phê
phán những quan niệm lạc hậu, những tàn dư cũ kỹ
“Cũng rất coi trọng các phương tiện nghệ thuật vì nó làm cho lời nói miệng có tác động mạnh hơn vào ý thức, tình cảm con người nhất là âm
thanh, ánh sáng
Trang 33* Hệ phương pháp công tác câu lạc bộ:
Hệ phương pháp công tác câu lạc bộ là toàn bộ những phương pháp được sử đụng trong hoạt động của câu lạc bộ nhằm đạt mục đích giáo dục
mà nhà trường đề ra Hệ phương pháp không có nghĩa là phép cộng các phương pháp mà các phương pháp có mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và hỗ trợ nhau Tuỳ mỗi buổi tổ chức, với đối tượng nào, nội dung nào mà có các
phương pháp thích hợp
Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung, mục đích và phương pháp là: Mục đích chỉ phối nội dung và phương pháp Phương phấp và nội dung phải được xuất phát từ mục đích Sau đó nội dung chỉ phối phương pháp, đồng thời phương pháp tác động trở lại nội dung Có sơ đồ sau:
MỤC uy NOI DUNG ~—— , PHUONG PHAP
Như phần trên đã nêu về phương pháp, biện pháp giáo dục văn hoá Trong hoạt động câu lạc bộ cũng cần đề cập thêm ba khái niệm: Biện pháp,
thủ pháp, phương pháp Mỗi biện pháp câu lạc bộ là một hoạt động câu lạc
bộ được tổ chức tại một địa điểm trong một thời gian nhất định nhằm thực
hiện nội dung đề ra
Thủ pháp là sự cụ thể hoá phương pháp Ví dụ: có nhiều thủ pháp trong phương pháp biểu đương: bằng lời, dùng bằng khen, tặng phẩm
Phương pháp là những con đường, những cách thức nhằm mục đích để
ra Nói chung, cấu trúc phương pháp có ba đặc điểm:
- Tính mục đích
- Tính hệ thống - Cách thức thao tác
- Gắn liền với nội dung
* Phải kết hợp giáo dục với giáo dưỡng: Giáo dục nhằm trang bị những
kiến thức cơ bản về con người, xã hội, tự nhiên Giáo dưỡng bao hàm các
thành phẩh: khai hoá, củng cố và mở rộng nhận thức Giáo dưỡng quan hệ
33
Trang 34chặt chế với giáo dục nhưng không đồng nhất Nhân cách được lập thành từ hai khía cạnh: nhận thức cuộc sống và hình thành mối quan hệ đến cuộc
sống Nhận thức cuộc sống là chức năng cơ bản của giáo dục còn hình thành
mối quan hệ đến cuộc sống là chức năng cơ bản của giáo dưỡng Cái chính của giáo đục là những trang kiến thức còn giáo dưỡng là hình thành niềm tỉn, tập quán, đạo đức, cùng những nhu cầu, khát vọng và lý tưởng Hoạt động câu lạc bộ văn hoá cho sinh viên cần nắm cả hai hệ phương pháp là: phương pháp giáo dục và phương pháp giáo dưỡng
Phương pháp giáo dục chia làm ba phương pháp nhỏ là:
- Phương pháp diễn giảng, bồi dưỡng năng khiếu, nghiệp vụ
- Phương pháp trưng bày - Thực quan, tham quan và hoạt động thư
viện
- Phương pháp chính luận- Nghệ thuật sân khấu hoá
Trong phương pháp giáo dưỡng lại có bốn phương pháp nhỏ:
- Phương pháp bồi dưỡng luân lý - đạo đức
- Phương pháp phát huy khả năng sáng tạo
- Phương pháp tổ chức đua tài, vui chơi, giải trí
- Phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn
* Phương pháp giáo dục:
Phương pháp giáo dục văn hoá có quan hệ chặt chẽ với lý luận giáo
dục chung, nếu lý luận giáo dục phát triển như một khoa học hình thành nhân cách thì phương pháp giáo dục văn hoá giúp cho quá trình đó sự phối hợp tổ chức thích ứng Phương pháp chuyển hoá sự giáo dục như một hiện
tượng xã hội thành đối tượng sự phạm có mục đích rõ ràng Có điều cần lưu
ý: không riêng gì người lớn mà ngay cả trẻ em cũng không thích mình là đối tượng của một hoạt động giáo dục Hoạt động của người giáo dục không nên thể hiện rõ ra ngoài mà phải được gữi kín để những người được giáo dục biết nghệ thuật của những người công tác phương pháp ở câu lạc bộ là tiến hành
Trang 35giáo dục mà không biểu hiện mình như chủ thể giáo dục, nhất là giáo dục
đạo đức
Trong hệ phương pháp và phương pháp, cần có những phương pháp
nhỏ để tăng hiệu quả giáo dục
SƠ ĐỒ HỆ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC GDVH
1 Phương pháp điễn giảng - Bôi dưỡng năng khiếu và nghiệp vụ: -
Phương pháp diễn giảng được thể hiện và sử dụng khá nhiều ở câu lạc
bộ Phương pháp này tác động không chỉ tới tình cảm đạo đức mà còn hướng tới xây dựng niềm tin đạo đức cho sinh viên Diễn giảng có sức mạnh đặc
biệt, trong một số trường hợp cụ thể, khó có thể thay thế nó bằng phương
pháp khác Trong diễn giảng, người nghe không chỉ nghe mà còn nhận biết
diện mạc, sự biểu cảm của diễn giả Giữa diễn giả và người nghe còn có khả
nang giao tiếp, mạn đàm trực tiếp Phương tiện chủ yếu của diễn giảng là lời
nói miệng cho nên ngôn ngữ cần tế nhị, linh hoạt Có những người thông qua diễn giảng mà trưởng thành nhanh chóng trong nghiệp vụ
35
Trang 362 Phương pháp trưng bày trực quan, tham quan và hoạt động thư
hào đối với các di tích, thắng cảnh
3 Phương pháp chính luận nghệ thuật - sân khấu hoá:
Là một trong các phương pháp quan trọng của câu lạc bộ văn hod Day
là phương pháp giáo dục thông qua nghệ thuật Cái đặc điểm rõ rệt khi hoạt động nghệ thuật trong câu lạc bộ là mang tính chính luận và tính quần chúng
dù người biểu diễn nghệ thuật là diễn viên chuyên nghiệp hay nghiệp dư Đối với phương pháp này, vai trò của người dẫn chuyện hay điều khiển chương
Câu lạc bộ thường không dung nạp kiểu lý luận trên bục giảng đường
vì như vậy sẽ mất dân người dự Không nên tạo ra khoảng cách quá lớn giữa
người diễn giảng, và biểu diễn và người nghe Tốt nhất, nên sân khấu hoá
một số hoạt động của mình thì sức hấp dẫn sẽ lớn hơn
* Phương pháp giáo dưỡng:
Mục đích của phương pháp giáo dưỡng và lĩnh vực đạo đức thông qua
câu lạc bộ là bồi dưỡng tập quán đạo đức trên cơ sở niềm tin sâu sắc Tập quần đạo đức đó là hành vi, hâu như tự nhiên có khuynh hướng dẫn đến cách thức hành động, chuyển biến trong kết quả được lặp lại nhiều lần
Trong thực tế cuộc sống đã cho thấy: giữa hiểu biết lý luận và kết quả
hành động ở nhiễu người có khoảng cách rất lớn Sẽ sai lắm khi cho rằng cứ hiểu biết lý luận là sẽ hành động đúng Lý luận và hành động có quan hệ với
2
Trang 37nhau, nhưng giữa những người có cùng chung vốn kiến thức hiểu biết nhưng
rất có thể giữa họ có những động cơ hành động rất khác nhau thậm chí đối lập nhau Thế nên, ở câu lạc bộ tiến hành giáo dục kiến thức là rất cần thiết nhưng việc bồi dưỡng cho họ động cơ hành động còn cần thiết hơn nhiều Như vậy, phương pháp giáo dưỡng hết sức quan trọng
San đây là một số phương pháp nhỏ trong phương pháp giáo dưỡng:
1 Phương pháp bôi dưỡng luân lý:
Đặc điểm của phương pháp này là thảo luận, tranh luận Thường
không phân định rõ chủ thể - khách thể Mục đích của thảo luận, tranh luận
là đưa ra dư luận xã hội những biểu hiện tiêu cực, vấn đề mọi người lo lắng, quan tâm Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp khắc phục Những buổi thảo luận, tranh luận được chuẩn bị tốt sẽ rất hứng thú, hấp dẫn
2 Phương pháp phát huy khả năng sáng tạo của sinh viên:
Một trong những nội dung quan trọng của hoạt động câu lạc bộ sinh viên là phát huy khả năng sáng tạo của sinh viên Đó là sự sang tao trong thời gian rỗi, theo khả năng và sở thích chứ không đặt ra như một nghĩa vụ
xã hội hoặc đối với trường
Muốn vậy, cán bộ câu lạc bộ sinh viên phải luôn biết khen ngợi, khuyến khích, động viên trước mỗi sáng tạo của họ một cách kịp thời dù là
nhỏ Hình thức phát huy khả năng sáng tạo của sinh viên có rất nhiều, đặc
biệt loại hình tạp chí miệng
Để tổ chức một buổi sinh hoạt tạp chí miệng, trước hết cán bộ câu lạc
bộ cần có để cương kịch bản, xác định để tài, chủ đề, tên gọi và nội dung sinh hoạt làm sao cho sát với tâm lý của đối tượng
* Sinh hoạt chuyên đề:
Câu lạc bộ có nhiều cuộc sinh hoạt nhưng không phải bao giờ cũng là sinh hoạt chuyên đề Sinh hoạt có chủ đề thì cũng chưa phải là sinh hoạt chuyên đề Sinh hoạt chuyên đề mang tính chính luận - nghệ thuật phức hợp
Nó trình bày một vấn đề quan trọng nào đó của cuộc sống, được nêu rõ ràng trong một đề tài cụ thể, sự liên tục những trình diễn bằng miệng, hình tượng
37
Trang 38va bang 4m nhac, nghé thuat Néu 6 tạp chí miệng hay theo hướng thông tin
lôgic là chủ yếu thì sinh hoạt chuyên để lại là cảm xúc hình tượng Hướng đề tài chủ yếu là các ngày lễ lớn; thi đua, giao lưu quốc tế.v.v Với tư liệu sưu
tầm công phu, người dẫn chương trình rất quan trọng Cần có một kịch bản
rất phong phú, sinh động, khoa học
Hoạt động của nhà văn hoá - câu lạc bộ sinh viên rất phong phú và
chiếm vị trí quan trọng nhất trong hoạt động ngoại khoá của sinh viên Nhà văn hoá và câu lạc bộ sinh viên đã được trình bày ở phần trên nhằm làm cho các hoạt động đó đúng “nghiệp vụ” hơn Thực tế nhà trường hiện nay, số lượng nhà văn hoá sinh viên không nhiều Cả khu vực Hà Nội mới có 8 nhà văn hoá trong đó chỉ còn tồn tại một số hoạt động tốt mà thôi Số câu lạc bộ sinh viên có nhiều và tồn tại được do nhiều trường phát huy dạng câu lạc bộ
nhỏ và câu lạc bộ theo sở thích Tuy còn khó khăn về kinh phí, lực lượng,
trình độ quản lý, ngành giáo dục cũng đã có những nhà văn hoá điển hình
như: nhà văn hoá sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Y, Đại
học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, trong đó đáng chú ý có nhà văn hoá sinh viên
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Được thành lập cách đây hơn năm năm, nhà văn hoá sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đang ngày càng khẳng định vị trí không thể thiếu
trong đời sống văn hoá, tính thần của sinh viên trường Bằng những hoạt
động phong phú, đa dạng, nhà văn hoá này đã đáp ứng được kịp thời và
tương đối đầy đủ những nhu cầu giải trí, vui chơi lành mạnh và trau đồi kiến
thức cho sinh viên Hàng trăm buổi nói chuyện thời sự, nói chuyện chuyên
đề đã cung cấp cho sinh viên những kiến thức về đời sống xã hội, kiến thức kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, về tình bạn, tình yêu, văn hoá nghệ
thuật như hội họa, âm nhạc, kiến trúc v.v
Hấp dẫn và vô cùng sôi nổi là những đêm biểu diễn nghệ thuật, đêm
thơ, nhạc sinh viên Cũng tại nhà văn hoá này, đã có hội thi tiếng hát sinh
viên, thi ban nhạc sinh viên thủ đô được tổ chức rất thành công
Với mục đích thỏa mãn các nhu cầu hoạt động theo sở thích của sinh viên, hàng loạt câu lạc bộ được thành lập Đó là câu lạc bộ nhiếp ảnh, câu lạc
bộ thơ, hội họa, câu lạc bộ bạn gái, câu lạc bộ các nhà kinh tế trẻ v.v Từ những câu lạc bộ này xuất hiện nhiều tay đàn, giọng ca được giới sinh viên
Trang 39thủ đô hâm mộ Ban nhạc sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân từng đoạt giải nhất trong cuộc thi các ban nhạc sinh viên Hà Nội Đội văn nghệ sinh viên
nhà trường đã từng biểu diễn phục vụ bộ đội nơi biên giới, đảo Trường Sa với thành công rực rỡ
Ban lãnh đạo trường đã đánh giá cao hoạt động của nhà văn hoá sinh viên này
Một đồng chí trong Ban giầm hiệu đã nói: Hoạt động của nhà văn hoá sinh viên là lĩnh vực cần thiết cho việc đào tạo toàn điện cho sinh viên Và quan trọng hơn là chính sinh viên của trường đã chấp nhận, yêu thích hoạt động trong nhà văn hoá của mình
Từ những hoạt động có hiệu quả của nhà văn hoá sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, nhiều nhà văn hoá khác đã học tập và thấy nhà văn hoá rất cần thiết Đây là biện pháp rất hay trong công tác giáo dục văn hoá cho sinh viên Không những nhà văn hoá rất cần thiết cho vui chơi; giải trí, mà tính giáo dục văn hoá, tư tưởng và nhân cách cho sinh viên rất được
một suy nghĩ đẹp là tự hào về văn hoá truyền thống dân tộc và tìm về cội
1IL2 Tham quan, đã ngoại, đu lịch:
; Tham quan, đã ngoại, du lịch là hình thức sinh viên rất ưa thích Cuộc
đi như vậy có thể do trường, công Đoàn trường, Đoàn thanh niên, Khoa, lớp
tổ chức Cũng nhiều trường hợp do các nhóm bạn tổ chức Những vai trò của
nhà văn hoá, câu lạc bộ sinh viên rất lớn Có thể nói trong tất cả mọi hình thức công tác sinh viên thi tham quan dã ngoại đóng vai trò đặc biệt Qua các buổi tọa đàm, hội thảo tại các trường đại học đều khẳng định như vậy Tham
quan, dã ngoại làm cho sinh viên quen thuộc với các di tích, danh thắng của đất nước, địa phương Mỗi người đi tham quan đã ngoại như vậy, họ cảm thụ
39
Trang 40trực quan, giao lưu với thiên nhiên hay nhà bảo tàng, lưu niệm, đi tích Văn
Hoá - lịch sử Nhận thức của sinh viên không những bằng thính giác (do người hướng dẫn thuyết minh) mà còn bằng thị giác trực tiếp (trăm nghe không bằng một thấy) Người hướng dẫn với sự hiểu biết sâu sắc, có chương
trình ngoạn mục, hấp dẫn biểu cảm sẽ khơi đậy nhiều suy nghĩ, cảm xúc tích
cực trong mỗi sinh viên Nếu tham quan, da ngoại được tổ chức phù hợp với
lứa tuổi, trình độ nghề nghiệp và tâm lý của đối tượng thì thành công vô cùng lớn lao Tuy nhiên, hình thức này tốn kém kinh phí, thời gian nên cũng còn nhiều khó khăn cho việc tổ chức
Muốn làm tốt công tác tổ chức tham quan tốt, cần lập nhóm cộng tác viên của Câu Lạc Bộ sinh viên Nhóm này hiểu biết lịch sử, địa lý, văn hoá, địa hình và họ sẽ tìm tòi, chọn lọc địa điểm đi tham quan hợp lý và hay nhất
Phương pháp tiến hành tham quan, đã ngoại, du lịch cũng cần theo nguyên tắc nghiệp vụ người tổ chức, hướng dẫn cần sưu tâm tài Hệu để am hiểu nơi đến nhằm truyền đạt hay nhất cho người tham gia Có 2 loại phương
pháp hướng dẫn tham quan:
- Phương pháp làm cho người tham gia bị động
- Phương pháp làm cho người tham gia hăng hái, thoải mái
Phương pháp giới thiệu hiện vật trưng bày hoặc di tích văn hoá - lịch
sử theo thứ tự từng hiện vật liên tiếp nhau sẽ làm người tham gia tiếp thu bị
động làm cho người tham gia chỉ biết về mặt ngoài của tài liệu do đó ấn tượng Ít sâu sắc
Phương pháp có ý nghĩa giáo dục to lớn là phương pháp tài liệu Cơ sở
tâm lý học của nó là sức tưởng tượng có thể tái sinh, tức là khả năng làm cho hiện tượng sống lại theo sự miêu tả hiện tượng và phục vụ nguyên hiện tượng
trong các mặt chỉ tiết Chỉ có tài liệu, hiện vật phong phú, đầy đủ mới có thể làm sống lại được hoàn cảnh quá khứ của di tích lịch sử và thiên nhiên
Trong khi tham quan, cần khêu gợi sự chú ý, đòi hỏi sự suy nghĩ đù
bằng mắt hay nói lên cũng được Giảng giải một cách nghệ thuật luôn hấp dẫn mọi người nhằm tạo cảm xúc cho mọi người Người tổ chức, hướng dẫn cần lưu ý rằng: mọi người đi tham quan không chỉ để tiêu khiển, “đổi không
«