(Ví dụ về trang mục lục của một luận án) BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỖ CAO PHÚC NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2000[.]
Trang 1ĐỖ CAO PHÚC
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN
CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2000-2015)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN ĐỨC HÒA
2 TS LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác
Tác giả
Đỗ Cao Phúc
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài 8
1.1.1 Cơ sở lý luận về khái niệm và những biến đổi của giai cấp công nhân 8
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu lí luận giai cấp công nhân 12
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam 16
1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của công nhân công nghiệp Việt Nam và công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 19
1.2 Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình nghiên cứu trên 34
1.3 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CÔNG NHÂN CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA (2000 – 2007) 38
2.1 Tình hình đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000 38
2.2 Bối cảnh lịch sử và nhân tố tác động đến những biến đổi đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2000-2007) 41
2.2.1 Bối cảnh lịch sử 41
2.2.2 Các yếu tố tác động tạo nên sự biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3 Những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2007 52
Trang 62.3.1 Về số lượng và cơ cấu đội ngũ 52
2.3.2 Về trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật 58
2.3.3 Về đời sống vật chất và tinh thần 63
2.3.4 Về hoạt động của tổ chức công đoàn 75
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3 NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CÔNG NHÂN CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (2008 – 2015) 80
3.1 Bối cảnh và những yếu tố tạo nên sự biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 80
3.1.1 Bối cảnh lịch sử 80
3.1.2 Chủ trương của Thành phố Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của đội ngũ công nhân công nghiệp 83
3.2 Sự biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 - 2015 85
3.2.1 Biến đổi số lượng và cơ cấu đội ngũ 85
3.2.2 Biến đổi trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật 89
3.2.3 Biến đổi đời sống vật chất và tinh thần 97
3.2.4 Biến đổi trong hoạt động công đoàn của công nhân 117
Tiểu kết chương 3 123
Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2000-2015) 125
4.1 Đặc điểm những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 125
4.1.1 Về số lượng, cơ cấu đội ngũ 125
4.1.2 Về trình độ học vấn và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ 128
4.1.3 Về thành phần xuất thân 131
4.1.4 Về đời sống vật chất, tinh thần và nhận thức chính trị 135
4.1.5 Tính truyền thống, năng động, sáng tạo, thu nhập và đời sống 139
Trang 74.1.6 Khả năng liên minh với giai cấp 141
4.1.7 Phản kháng của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 144
4.2 Sự biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp tác động đến đời sống xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh 145
4.2.1 Trên lĩnh vực kinh tế 146
4.2.2 Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội 149
4.2.3 Trên lĩnh vực chính trị, an ninh 151
Tiểu kết chương 4 156
KẾT LUẬN 157
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 162
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 PHỤ LỤC PL1
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
DNFDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài KCX, KCN Khu chế xuất, khu công nghiệp
CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
HEPZA Ban Quản lý các Khu chế xuất, khu công
nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CNVC-LĐ Công nhân viên chức – lao động
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng công nhân công nghiệp trong các KCX, KCN Thành phố
Hồ Chí Minh (2000-2007) 53Bảng 2.2 Tỷ lệ nữ công nhân trong KCX, KCN Thành phố Hồ Chí Minh
(2000-2007) 57Bảng 2.3 Trình độ học vấn của công nhân công nghiệp trong các KCX, KCN
Thành phố Hồ Chí Minh (2001-2007) 59Bảng 2.4 Số lượng tuyển dụng vào các KCX, KCN Thành phố Hồ Chí Minh
(2000-2007) 62Bảng 2.5 Kênh tuyển dụng công nhân công nghiệp tại các KCX, KCN Thành
phố Hồ Chí Minh (2001-2004) 64Bảng 2.6 Thu nhập bình quân theo loại hình doanh nghiệp và tính chất công
việc (2006) 67Bảng 2.7 Lương của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh theo
trình độ lao động (năm 2006) 67Bảng 2.8 Đời sống tinh thần của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2006 73 Bảng 3.1 Số lượng công nhân công nghiệp trong các KCX, KCN Thành phố
Hồ Chí Minh (2008-2015) 86Bảng 3.2 Công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh phân theo loại
hình hình doanh nghiệp (2008-2015) 88Bảng 3.3 Trình độ học vấn của công nhân công nghiệp tại KCX, KCN Thành
phố Hồ Chí Minh (2008-2015) 90Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ công nhân công nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh (2008-2015) 93Bảng 3.5 Cơ cấu cung và cầu lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật của
công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2010-2015) 94Bảng 3.6 Kênh giới thiệu việc làm của công nhân công nghiệp KCX, KCN
Thành phố Hồ Chí Minh (2018) 98
Trang 10Bảng 3.7 Trình độ lao động của công nhân công nghiệp thành phố Hồ Chí
Minh trước khi vào làm việc (năm 2018) 99Bảng 3.8 Lương bình quân của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh (2006 – 2015) 105Bảng 3.9 Thu nhập của công nhân công nghiệp theo nghề tại Thành phố Hồ
Chí Minh (2012-2015) 106Bảng 3.10 Tình hình xây dựng nhà lưu trú cho công nhân công nghiệp tại các
KCX, KCN Thành phố Hồ Chí Minh (2010-2015) 112Bảng 3.11 Tình hình xây dựng siêu thị phục vụ công nhân công nghiệp tại các
KCX, KCN ở Thành phố Hồ Chí Minh (2010-2015) 113
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất công nghiệp theo loại hình doanh
nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 2001-2006 55Biểu đồ 2.2 Công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh theo thành phần
kinh tế (2000-2007) 56 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh theo khu
vực kinh tế (2000-2015) 126Biểu đồ 4.2 Trình độ lao động của công nhân công nghiệp tại KCX, KCN
Thành phố Hồ Chí Minh (2001-2015) 130
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương dẫn đến sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam Thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội Thành tựu cơ bản của công cuộc đổi mới là ra tạo bước ngoặt quan trọng cho Việt Nam, từ một quốc gia lấy nông nghiệp là chủ yếu đã chuyển thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Khi đất nước tiến hành đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những biến đổi tích cực: tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng và ý thức giác ngộ chính trị được nâng lên Cùng với các giai tầng khác, giai cấp công nhân Việt Nam đóng góp
to lớn vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam là nhân tố then chốt để đưa công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi Mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm
2020 được nêu rõ trong Nghị Quyết số 20-NQ/TƯ (28/01/2008) là: “xây dựng giai cấp công nhân mạnh về số lượng và nâng cao về chất lượng, giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân (về nhà ở tại các khu công nghiệp, tiền lương và thu nhập…)”
Thành phố Hồ Chí Minh trung tâm công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam… Nhờ có thế mạnh về cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, hệ thống
42 cảng sông, biển lớn nhỏ (cảng Sài Gòn, Tân Cảng…) nên nơi đây được xem là đầu mối trung chuyển hàng hóa, tiêu thụ mạnh nhất giữa các địa phương, tỉnh thành trên
cả nước và quốc tế Đồng thời, Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường lao động sôi nổi nhất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp Do đó, Thành phố chủ trương thành lập khu chế xuất, khu công nghiệp
để định hướng, quy hoạch nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
1991 đến 2015 đã tạo ra một thị trường lớn thu hút lực lượng công nhân nhập cư, tại chỗ để tìm kiếm việc làm, thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư
Trang 14Từ năm 2000 trở đi, dưới tác động từ công cuộc đổi mới đất nước, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo nên những biến đổi đội ngũ công nhân công nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, đó
là sự tăng nhanh về số lượng và nâng cao chất lượng, góp phần rất quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của thành phố Từ năm 2008, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh xác định công nhân công nghiệp: “là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ thành phố… là lực lượng chủ yếu vận hành, sử dụng các công cụ sản xuất hiện đại; một bộ phận công nhân có trình độ học vấn, tay nghề cao đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; có tác phong và kỹ năng lao động trong môi trường công nghiệp hiện đại, thích nghi nhanh với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…” (Thành
ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, trang 1) Năm 2009, tác động từ cuộc suy thoái toàn cầu phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt là thị trường lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh làm cho đội ngũ công nhân công nghiệp có nhiều biến đổi Trước bối cảnh đó, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định, xác định vai trò, nhiệm vụ hàng đầu của đội ngũ công nhân công nghiệp để có những chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy những biến đổi theo chiều hướng tích cực Từ năm 2010 đến 2015, quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa diễn
ra mạnh mẽ, vị thế kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh từng bước khẳng định được ở khu vực Đông Nam Á, đây là tiền đề quan trọng để công nhân công nghiệp từng bước thích nghi, biến đổi phù hợp với bối cảnh lịch sử mới Do vậy, việc nghiên cứu về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này để thấy rõ bản chất cơ bản của những biến đổi, đánh giá đúng hơn mặt tích cực, hạn chế mà đội ngũ này đã bộc lộ
Ngoài ra, lý do nữa để chúng tôi nghiên cứu về vấn đề này là những đề tài trước đó chỉ nghiên cứu về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000, nên vẫn còn khoảng trống ở giai đoạn từ năm 2000 đến 2015 khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh, nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội hội chủ nghĩa, toàn cầu hóa diễn
ra quy mô, chuỗi cung ứng toàn cầu đã tác động và làm biến đổi căn bản đến đội ngũ công nhân công nghiệp vẫn còn chưa được làm rõ
Trang 15Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh (2000-2015)” làm luận án tiến
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích đặt ra, chúng tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài của
luận án Qua đó, chúng tôi tiếp thu, chọn lọc được các công trình trước đó và xác định những nội dung mà luận án cần tiếp tục làm rõ
Thứ hai, phân tích về bối cảnh lịch sử, đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế -
xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh tác động đến biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2000 - 2015)
Thứ ba, từ các nguồn tư liệu, số liệu thống kê… luận án tái hiện, phục dựng một
cách khách quan, khoa học những biến đổi về số lượng, chất lượng, đời sống vật chất
và tinh thần của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2000 - 2015)
Thứ tư, rút ra những đặc điểm nổi bật của những biến đổi và tác động của sự
biến đổi này trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị, quốc phòng an ninh trong sự phát triển bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 163 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2015
Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là lực lượng sản xuất nòng cốt, đang phát triển lớn mạnh Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu những người lao động làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thuộc khu vực: nhà nước, ngoài nhà nước, có vốn đầu tư nước ngoài (không bao gồm các chủ doanh nghiệp, các chuyên gia và lao động người nước ngoài) tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận án về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm nhiều yếu tố cấu thành, đây là một vấn đề có nội hàm rất rộng Trong phạm vi tiếp cận của luận án, chúng tôi tập trung bốn vấn đề then chốt trong biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh về: số lượng và cơ cấu, trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân công nghiệp, hoạt động của tổ chức Công đoàn
- Thời gian: luận án nghiên cứu từ năm 2000 đến 2015, chọn mốc năm 2000 bởi đây là năm tiến hành Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII (12/2000) tạo định hướng mạnh phát triển công nghiệp Thành phố; hai là đánh dấu thời điểm Thành phố Hồ Chí Minh kết thúc thế kỉ XX chuẩn bị bước vào kỉ nguyên mới của thế kỉ XXI trong bối cảnh hợp tác khu vực Năm 2015, kết thúc Đại hội Đảng
bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần IX, đồng thời nhằm đánh giá chặng đường lịch sử mà đội ngũ công nhân công nghiệp có những biến đổi và tác động của sự biến đổi đối với của sự phát triển chung Thành phố Hồ Chí Minh
- Không gian nghiên cứu: công nhân công nghiệp đang làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 174 Cơ sở lí luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lí luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Ðảng và Nhà nước Việt Nam về giai cấp công nhân
Trên cơ sở lí luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan điểm giai cấp công nhân trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì luận án kế thừa để bám sát cho việc nghiên cứu những biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2015 Theo quan điểm của Đảng:
“Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công ăn lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch
vụ có tính chất công nghiệp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008, trang 23)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu luận án, chúng tôi sử dụng hai phương pháp thích hợp với chuyên ngành lịch sử: phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận án này nhằm khôi phục, tái hiện một bức tranh toàn cảnh, một góc nhìn khoa học về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Luận án được phân thành hai giai đoạn lịch sử: 2000 đến 2007, 2008 đến 2015 Ứng với mỗi giai đoạn, chúng tôi trình bày theo tiến trình lịch sử và nêu bối cảnh lịch sử cụ thể Đồng thời kết hợp các thao tác
kỹ thuật như phân tích, tổng hợp của phương pháp logic để vạch và rút ra quy luật, khuynh hướng vận động… của những biến đổi này Ngoài ra, việc phân chia thành hai giai đoạn lịch sử cụ thể vừa đảm bảo sử dụng phương pháp lịch đại, đồng đại trong luận án
Chúng tôi kết hợp thực hiện công tác tư liệu: sử dụng phương pháp định tính, định lượng để mô tả chỉ ra rõ đặc trưng về chất của những biến đổi này; kết hợp vận dụng các phương pháp thống kê, so sánh, điền dã, khảo sát…
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành khảo sát về đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ công nhân công nghiệp đang làm việc ở một số doanh nghiệp đang hoạt động
Trang 18trong khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để thấy rõ những biến đổi này
4.3 Nguồn tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã khai thác, sử dụng và kết hợp với nhiều nguồn tư liệu:
- Các Văn kiện, Nghị quyết, Chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi định hướng về quan điểm, phương hướng nghiên cứu đúng các vấn đề đặt ra
- Báo cáo chính trị, tổng kết của Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân và các Sở, Ban ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh; tài liệu do Chi cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh công bố qua các năm từ 2000 đến 2015, Ban Quản lí các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng làm cơ sở để chúng tôi xử lý, sử dụng và khai thác trong luận án
- Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài nghiên cứu khoa học, các luận án giai cấp công nhân Việt Nam, về xu hướng biến đổi, phát triển của công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh của đã công bố có liên quan tới đề tài Đây
là tài liệu tham khảo để giúp chúng tôi so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu của luận án
- Các nguồn tư liệu trên website của Chính phủ, Sở, Ban, Ngành, báo đài, truyền thông ở Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin và dữ liệu được thu thập qua cuộc khảo sát thực địa của chúng tôi
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt khoa học
- Trình bày, làm rõ các công trình nghiên cứu và bổ sung thêm các tư liệu, số
liệu, cập nhật liên quan tới những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến 2015
- Từ kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số nhận xét về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp và tác động của biến đổi đối với sự phát triển chung Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 195.2 Về mặt thực tiễn
- Kết quả của luận án là cơ sở khoa học để cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách tham khảo nhằm phát triển công nhân công nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Luận án là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, biên soạn giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội liên quan đến giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Những biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa (2000-2007)
Chương 3: Những biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế (2008-2015)
Chương 4: Một số nhận xét về những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2000 - 2015)
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa thành quả các công trình nghiên cứu trước đó, luận án “Những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (2000-2015)” được nhìn nhận dưới góc độ đa chiều
1.1.1 Cơ sở lý luận về khái niệm và những biến đổi của giai cấp công nhân
Khái niệm giai cấp công nhân
Vấn đề về giai cấp công nhân hiện nay là một nội dung rất rộng và còn tồn tại
nhiều ý kiến tương đồng và dị biệt về khái niệm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân Tùy theo quan điểm của nhà lãnh đạo, thái độ chính trị, nhà khoa học mà người
ta đưa ra ý kiến của mình về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó Cơ bản
có hai loại ý kiến sau:
- Thứ nhất, những ý kiến dị biệt cho rằng vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân hiện nay không còn Họ cho rằng ở các nước tư bản chủ nghĩa có nền kinh
tế phát triển mạnh, công nhân từng bước đã có cổ phần, hưởng thu nhập từ lợi nhuận, đời sống nâng cao cho nên họ đã trở thành những người giàu có và từng bước tan biến vào các bộ phận khác trong xã hội Cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ
tư tác động làm cho giai cấp công nhân gia nhập vào tầng lớp trí thức, các thiết bị máy móc hiện đại, dây chuyền công nghệ tự động hóa đã thay thế công nhân nên họ trở thành một bộ phận không đáng kể trong xã hội
- Thứ hai, những ý kiến tương đồng cho rằng giai cấp công nhân tiếp tục tồn tại
và phát triển cùng lịch sử, nhưng được bổ sung thêm những biểu hiện, đặc trưng mới Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân hiện đại,
sẽ có những đặc trưng cơ bản: giai cấp công nhân hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất công nghiệp Đó là quá trình lao động sản xuất vật chất kết hợp các quy trình công nghiệp hiện đại, là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của xã hội; là giai cấp có hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đội tiên phong là Đảng cộng sản Việt Nam; có ý thức
tổ chức, kỷ luật cao, có tinh thần triệt để cách mạng; có khả năng tổ chức và lãnh đạo
Trang 21dân tộc thực hiện tiến trình cách mạng đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc trưng trong thời
kì đổi mới và hội nhập, giai cấp công nhân Việt Nam có những nét riêng so với công nhân ở thế kỷ XIX; hoặc những năm đầu thế kỷ XX, hoặc là hiểu theo như công nhân
ở các nước tư bản phát triển cao
Trong thời kì mới, sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam đang có sự chuyển dịch, đan xen giữa các giai tầng rất phức tạp Do tính chất công việc sẽ phân định thành phần giai cấp và tầng lớp trong xã hội Giữa thành phần giai cấp, tầng lớp
xã hội xuất thân và hiện tại của mỗi người, ở mỗi thời điểm, tùy tính chất công việc đang làm, mà có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất
Giáo trình “Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay” cho rằng: “Giai cấp công nhân là những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ khác nhau mà địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời Ở các nước tư bản họ là những người không có hoặc
về cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp
tư bản bóc lột giá trị thặng dư Ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người cùng với nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình (Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, 1996, trang 97-98)
Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ (Hội
Trang 22đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, 2003, trang 99)
Theo PGS.TS Dương Xuân Ngọc cho rằng: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển gắn liền với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại, với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa, quốc tế hóa cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại hiện nay, là động lực chủ yếu và lực lượng lãnh đạo quá trình chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia cũng như phạm vi trên toàn thế giới Trong các nước tư bản chủ nghĩa, do không có hoặc cơ bản không có những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, họ phải bán sức lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; trong các nước xã hội chủ nghĩa, họ cùng với nhân dân lao động làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động sáng tạo và vì lợi ích của xã hội và của giai cấp mình” (Dương Xuân Ngọc ,
2004, trang 34-35)
Tiến sĩ Đặng Ngọc Tùng đã nêu ra định nghĩa: Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong nền sản xuất hiện đại, lao động trong môi trường công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là giai cấp tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (Đặng Ngọc Tùng, 2010, trang 65) Trên cơ sở quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những quan điểm lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta
về khái niệm giai cấp công nhân, đồng thời mở rộng tầm nhìn, tham khảo những ý kiến ít nhiều liên quan của nhà khoa học trong và ngoài nước Trong luận án này, chúng tôi dựa theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xác định khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam như sau: “Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng
xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí
Trang 23óc, làm công ăn lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008, trang 23)
Khái niệm công nhân công nghiệp được đề cập trong luận án này là người lao
động đang làm việc trong các ngành sản xuất công nghiệp (cơ khí, điện tử, hóa nhựa, dệt may, dịch vụ, thực phẩm, vật liệu xây dựng, bao bì, da dày, gia dụng, trang sức)
mà chúng tôi căn cứ trên danh mục thống kê các ngành nghề của Ban quản lí các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp
Khái niệm về biến đổi của công nhân công nghiệp
Khái niệm về biến đổi: là hình thức tồn tại phổ biến nhất của tất cả sự vật và hiện tượng Biến đổi bao hàm mọi sự vận động và sự tác động qua lại, sự chuyển hóa
từ trạng thái này sang trạng thái khác” (Từ điển Triết học , 1975, trang 79); là động
từ dùng để chỉ sự thay đổi thành khác trước” (Viện Ngôn ngữ học, 2006, trang 64) Luận theo khái niệm này thì chúng tôi cho rằng biến đổi có nghĩa sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển đều có sự thay đổi, đồng thời có thêm những biểu hiện, đặc trưng mới được bổ sung hoặc bớt đi so với thời điểm trước đó
Dưới đây, chúng tôi tiếp cận những biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến 2015 đặt trong bối cảnh lịch sử, Thành phố chuyển mình từng bước hòa nhập với nền kinh tế quốc tế, quá trình toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng toàn cầu… Những yếu tố đó tác động đến những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và được thể hiện qua những vấn đề sau:
- Biến đổi về số lượng và cơ cấu đội ngũ công nhân công nghiệp, chủ yếu chúng
tôi muốn tìm hiểu về sự thay đổi về số lượng và cơ cấu đội ngũ công nhân công nghiệp trong thành phần kinh tế
- Biến đổi về trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật: trong quá trình phát triển
về số lượng thì chất lượng của công nhân công nghiệp được nâng lên để đáp ứng với yêu cầu của thời đại, đó là trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, tác phong và kỷ luật lao động, ý thức và lập trường giai cấp, tổ chức hoạt động của giai cấp công nhân…
Trang 24- Biến đổi về đời sống vật chất và tinh thần của công nhân công nghiệp Thành
phố Hồ Chí Minh Từ biến đổi về số lượng và chất lượng thì công nhân có sự thay đổi trong việc làm, thu nhập, điều kiện lao động; nhà ở, ý thức tham gia vào tổ chức Công đoàn…
Như vậy, với những nội dung được vạch ra rõ ràng, hướng tiếp cận vấn đề được định hình chi tiết giúp luận án làm sáng tỏ được những điều đặt ra, từng bước nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của công nhân công nghiệp ở Thành phố trong lịch
sử phát triển của dân tộc, thời đại mới - thời đại hội nhập và phát triển
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu lí luận giai cấp công nhân
Các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân được dịch sang tiếng Việt
Một số tác phẩm kinh điển gồm các tác phẩm: “C.Mác và Ph Ăngghen toàn tập” bao gồm 50 tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Sự thật được dịch dựa vào
bản tiếng Nga bộ toàn tập C.Mác và Ph Ăngghen và một số tài liệu chỉ dẫn do Viện
nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin Liên Xô (trước đây); “Lênin toàn tập” do Nhà
xuất bản Tiến bộ, Mát-xco-va xuất bản đã luận giải sự vận động phát triển của xã hội Trong đó, giai cấp công nhân ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản công trường thủ công là rời rạc, phân tán trong sản xuất, không đồng nhất về cơ cấu, điều đó đã gây trở ngại cho việc “hoàn thiện” quan hệ sản xuất Những cuộc đấu tranh đó của công nhân còn mang tính tự phát Sự phát triển giai cấp công nhân ở giai đoạn mới của gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, cụ thể là gắn với sự lan rộng của sản xuất công xưởng, khi giai cấp công nhân công nghiệp xuất hiện Thời kỳ này, giai cấp công nhân công nghiệp khác về căn bản so với công nhân làm thuê thời kỳ công trường thủ công, họ là những người trực tiếp sản xuất hoàn toàn tách khỏi tư liệu sản xuất Như vậy, các công trình của C.Mác và Ph Ăngghen và
Lênin được xem là cơ sở lí luận khi nghiên cứu về giai cấp công nhân thế giới
Tác phẩm “Phong trào công nhân quốc tế - những vấn đề lịch sử và lý luận” (Tập thể tác giả, 2004-2011) gồm 8 tập là một công trình được nghiên cứu công phu của các nhà khoa học Liên Xô đã phân tích sự ra đời và hình thành giai cấp công
Trang 25nhân, về những bước đi đầu tiên của phong trào công nhân trên con đường trở thành lực lượng xã hội độc lập Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, giai cấp công nhân và phong trào công nhân có sự trưởng thành Thời kỳ trước
và sau cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, phong trào công nhân quốc tế đều phát triển Thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm đầu thập kỷ
70 của thế kỷ XX, phong trào công nhân quốc tế tiếp tục phát triển Đây là thời kỳ phong trào công nhân ở các nước phát triển không ngừng và tăng cường sự ảnh hưởng của nó đối với tiến trình phát triển của lịch sử, tuy rằng phong trào cũng có lúc lâm vào tình trạng khó khăn và diễn biến phức tạp Ngoài ra, các tác giả cũng phân tích
sự phát triển phong trào cộng sản ở khu vực thế giới phi xã hội chủ nghĩa, những quy luật và những xu hướng phát triển tiêu biểu có tính đến những điều kiện khu vực và dân tộc đặc trưng cho toàn bộ phong trào Nhìn chung, trong công trình này các tác giả đã phân tích lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên cơ sở những lập luận, nhận định của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có tư cách lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, là động lực thay đổi lịch sử, các tác giả: Maicen Nhepsi
về “Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng chính trị quan trọng nhất” (Maicen Nhepsi,
2005, trang 11-16); “Triển vọng phát triển của giai cấp công nhân ở thế kỷ XXI” (Trushkov, 2007, trang 1-5) của Trushkov đã chỉ ra những mâu thuẫn trong chủ nghĩa
tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản không những không được giải quyết
mà ngày càng trở nên sâu sắc Hai tác giả cho rằng hiện nay trong xã hội tư bản chỉ
có giai cấp công nhân đủ khả năng lật đổ giai cấp tư sản Là lực lượng chính trị - xã hội lớn, giai cấp công nhân có tổ chức công đoàn cũng như chính đảng của mình Trong chặng đường biến đổi, giai cấp công nhân phát huy tính sáng tạo hình thành nên văn hóa giai cấp mình, phần nào làm thay đổi nền văn hóa tư sản Nhìn chung, hai tác giả cho rằng giai cấp công nhân tiếp tục là lực lượng lao động tiên tiến của xã hội, nhất là trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển rất nhanh (thế kỷ thứ XXI);
là giai cấp chủ thể của bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Trang 26Bài viết “Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Nga hiện nay” (V.Kh Belenski , 2009) của Kh.Belenski đã xác định hiện nay hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Nga
vô cùng khó khăn và phức tạp Sau sự kiện lịch sử năm 1991, giai cấp công nhân Nga đang sống trong điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội theo tư bản Tuy nhiên, họ vẫn muốn xây dựng một mô hình xã hội có sự kết hợp giữa các yếu tố quan hệ thị trường
và quan hệ xã hội chủ nghĩa Giai cấp công nhân Nga muốn đi theo một hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác đổi mới, có sự sáng tạo trong bối cảnh lịch sử mới của xã hội
Bài viết “Đào tạo nghề và việc làm cho thanh niên - vấn đề toàn cầu thế kỷ XXI” (Ivanova S.V và các cộng sự , 2014, trang 10-20) làm rõ nội dung phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở Nga và một số nước khác như: Bồ Đào Nha, Pháp, Cộng hòa Séc, Đức, Mỹ, Anh, Tây Ban Nha Bài viết góp phần đã chỉ ra các hình thức dạy nghề và quan hệ tương tác giữa xã hội, doanh nghiệp với các cơ sở giáo dục trong đào tạo lực lượng lao động của xã hội ở các nước tư bản phát triển Hiện nay quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế làm cho lực lượng lao động giữa các quốc gia tự do di chuyển đến bất cứ đâu để làm việc và trở thành công dân toàn cầu Nhiệm vụ của mỗi quốc gia là giải quyết việc làm cho người lao động, gắn đào tạo với sử dụng, sự thích ứng và sự chuẩn bị nghề nghiệp cho thanh niên và mang tính toàn cầu của thế kỷ XXI
Trong công trình “Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại” (Liễu Khả Bạch, Vương Mai và Diêm Xuân Chi, 2008) phân tích trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, giai cấp công nhân cần phát huy vai trò của mình hơn Điều tra thực tế cho thấy rằng, các tác giả đã phân tích những biểu hiện mới của giai cấp công nhân đó là có sự tham gia của công nhân trong quá trình phân chia lợi nhuận với giới chủ Khi đề cập đến quan niệm về giai cấp công nhân, các tác giả ch rằng khái niệm giai cấp công nhân hiện nay đã được mở rộng, không chỉ có những người lao động trực tiếp đứng máy, mà còn các tầng lớp lao động trong nhiều lĩnh vực khác, họ đã trở thành một khái niệm với nội hàm rộng lớn (gồm công nhân phổ thông, thành phần trí thức, nhân viên kỹ thuật và người quản lý kinh doanh)
Trang 27Các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân ở trong nước
Trong “Hồ Chí Minh toàn tập” do nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2000, tập hợp các bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam cho rằng: “chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân Với lý luận cách mạng tiên phong
và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam” (Hồ Chí Minh,
2000, trang 9); Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nhân lao động trong lĩnh vực công nghiệp, đây là lực lượng chủ lực, tiêu biểu cho giai cấp công nhân, “chủ chốt của giai cấp ấy, là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những
cố nông… cũng thuộc về giai cấp công nhân Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân” (Hồ Chí Minh, 2000, trang 212)
Công trình “Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay - thực trạng và triển vọng” (Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Hoàng Giáp, 2010) đã phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân, tác động từ bối cảnh lịch sử mới ảnh hưởng đến giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển Các nhân tố tác động đến giai cấp công nhân như: thành tựu của khoa học
- công nghệ hiện đại; xu thế toàn cầu hóa; sự phát triển nền kinh tế tri thức; những điều chỉnh của giai cấp tư sản và nhà nước tư bản; sự thay đổi cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh và sự vận động phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển; trào lưu dân chủ xã hội Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau năm 1991 đến nay trên những phương diện:
sự thay đổi về số lượng, cơ cấu, chất lượng; trình độ giác ngộ, tổ chức và sự lựa chọn con đường cách mạng dân chủ hòa bình Từ đó chỉ ra những đặc trưng cơ bản và triển vọng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển trong hai thập niên tới vẫn
là “động lực tinh thần, sức mạnh trí tuệ và đạo đức”, là người thực thi bước quá độ từ
Trang 28chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Từ đó rút ra ý nghĩa đối với xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Nguyễn Viết Thông với bài viết “Những nhận thức khác nhau về giai cấp và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân; phê phán quan điểm phủ nhận sự tồn tại và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay” (Nguyễn Viết Thông,
2013, trang 6-10) làm rõ nhận thức khác nhau về giai cấp công nhân, từ đó đặt vấn
đề có giai cấp công nhân còn hay không Trên cơ sở phân tích, khái niệm về giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin còn nguyên ý nghĩa trong thời đại ngày nay Tác giả chỉ ra giai cấp công nhân là ai, ai là công nhân Cùng với đó, tác giả làm sáng
tỏ những nhận thức khác nhau về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Đối với một số học giả ở nhiều nước Bắc Mỹ và châu Âu phủ nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thì ở các như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cu Ba khẳng định giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam
Khi nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kì trước và sau đổi
mới phải kể đến các nhà Sử học với những công trình nghiên cứu công phu Điển hình là hai công trình đồ sộ (gần 2000 trang) của cố Giáo sư Trần Văn Giàu: ”Giai cấp công nhân Việt Nam - Sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp “tự mình” đến giai cấp cho mình”(Trần Văn Giàu, 1985)và “Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng tháng Tám thành công” Ở mỗi công trình, tác giả đều dành ra một chương để mô tả tỉ mỉ về đời sống của giai cấp công nhân dưới chế độ thực dân - phong kiến, thể hiện các điều kiện lao động và sinh hoạt hết sức tồi tệ như: Giờ làm việc quá dài, tiền lương, nạn đói, thất nghiệp tràn lan, tệ chửi mắng và đánh đập diễn ra phổ biến, bệnh tật và chết thảm thương… Song, do phạm
vi nghiên cứu của tác giả chỉ giới hạn trong khoảng thời gian từ khi giai cấp công nhân ra đời đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, nên cả hai công trình tầm cỡ đó chưa thể nói đến đời sống văn hóa, sự chuyển biến của giai cấp công nhân dưới chế
độ mới
Trang 29“Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” (Bùi Đình Bôn, 1997) tác giả đã phân tích nội dung đề cập đến khái niệm về giai cấp công nhân dựa
trên hệ thống quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về giai cấp công nhân và những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân: “Đó là giai cấp những người lao động gắn liền với nền công nghiệp hiện đại, trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào quá trình tạo
ra giá trị vật chất cho xã hội Do vậy, có thể đưa vào thành phần của giai cấp công nhân một bộ phận trí thức - các nhà nghiên cứu, áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, các kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý trực tiếp lao động trong quá trình sản xuất công nghiệp, tạo ra của cải vật chất, thực hiện chức năng của người công nhân lành nghề trong sản xuất Cả những người lao động trong các bộ phận dịch vụ công nghiệp mà lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp” (Bùi Đình Bôn, 1997, trang 39) Tác động của kinh tế thị trường, sự phát triển khoa học kỹ thuật, của yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai cấp công nhân Việt Nam có sự biến đổi sâu sắc cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; theo
cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Do vậy, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngang tầm với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Trần Đình Huỳnh với bài viết “Giai cấp vô sản trí thức” (Trần Đình Huỳnh, 2011, trang 7-9); Văn Tạo với bài viết “Quan điểm mới về giai cấp công nhân Việt Nam qua văn kiện Đại hội X của Đảng” (Văn Tạo, 2006, trang 43-46); Quang Cận với bài viết “Tư duy mới về giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản” (Quang Cận,
2007, trang 40-45) cho rằng hiện nay giai cấp công nhân Việt Nam về cơ bản từng bước được trí thức hóa; họ đã trở thành người làm chủ, chí ít là làm chủ đất nước; từ người vô sản, công nhân có sở hữu; giai cấp công nhân đưa khoa học trên đà trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; giai cấp công nhân Việt Nam có một vị thế quốc tế mới trong quá trình hội nhập Sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại, khái niệm lực lượng sản xuất cũng cần được mở rộng nội hàm, gồm có lực lượng sản xuất bằng
cơ bắp và lực lượng sản xuất bằng trí tuệ, chất xám Tựu chung là cần phải có quan niệm mới về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay theo hướng mở rộng nội hàm, đồng thời xem trí thức là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam
Trang 30Trong công trình “Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Đỗ Ngọc Ninh, Nguyễn Văn Giang, 2008); “Để
hệ giá trị của giai cấp công nhân Việt Nam trở thành một hệ giá trị xã hội” (Nguyễn
An Ninh, 2007, trang 34-40) làm rõ bản chất giai cấp công nhân được biểu hiện ở giá trị phổ quát của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, trên một số khía cạnh: lao động, công bằng, bình đẳng, sự phát triển tự do và toàn diện của công nhân, là tiền đề trở thành
hệ giá trị xã hội Giai cấp công nhân gắn với vai trò của Đảng Cộng sản, xây dựng Đảng là tăng cường bản chất giai cấp công nhân
Bài viết “Bàn về cái gọi là phê phán bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Nguyễn Văn Nam, 2014, trang 32-37) đã đưa ra luận cứ phê phán quan điểm sai trái, phản khoa học của các ý kiến phản bác bản chất giai cấp công nhân của Đảng Theo tác giả, bản chất giai cấp của Đảng cần phải kiên định mục tiêu, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; nền tảng tư tưởng của Đảng
là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân phải được củng cố vững chắc
Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết “Cần có nghiên cứu cơ bản về giai cấp công nhân trong tiến trình phát triển của lịch sử đương đại” (Nguyễn Trọng Chuẩn, Cần nghiên cứu cơ bản về giai cấp công nhân trong tiến trình phát triển của lịch sử đương đại, 2013, trang 9-13); Mạch Quang Thắng trong bài viết “Nghiên cứu, phát triển lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam” (Mạch Quang Thắng, 2014, trang 31-35) đưa ra về sự cần thiết phải có nghiên cứu mới về giai cấp công nhân hiện nay Trên cơ sở phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả đưa ra những luận cứ khoa học khi nền kinh tế tri thức đang phát triển rất nhanh trong thời đại toàn cầu hóa thì tính tất yếu cần phải có nhận thức mới về giai cấp công nhân hiện nay Qua đó các tác giả cho rằng, cần phải tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Trong công trình “Bác Hồ với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn” (Tổng liên đoàn động Việt Nam , 2010) do Tổng liên đoàn lao động chủ biên đã tập hợp các bài viết nhận định đến quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và
Trang 31công đoàn Việt Nam Theo đó, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân Việt Nam được vận dụng sáng tạo vào điều kiện hiện nay; các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn; quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị cho giai cấp công nhân…
1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của công nhân công nghiệp Việt Nam và công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của công nhân công nghiệp Việt Nam
Trong công trình “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, 2001) gồm các bài viết của nhiều tác giả đề cập về xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân nước ta Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế Nội dung chủ yếu tập trung vào: đặc điểm, thực trạng và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay Các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến
sự biến đổi giai cấp công nhân Việt Nam Biểu hiện về ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta, thực trạng và xu hướng Toàn cầu hóa và những thách thức đối với xu hướng biến đổi giai cấp công nhân Việt Nam
Bàn về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam, Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết “Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2009, trang 3-9) đã phân tích sự biến đổi của giai cấp công nhân hiện đại trên thế giới về trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp, về quyền sở hữu… Tác giả nhận định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, xu hướng phát triển của giai cấp công nhân sẽ có sự thay đổi lớn về số lượng và chất lượng, thay đổi
về khu vực và ngành nghề, về quyền sở hữu tài sản; sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và
sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội đã làm cho cơ cấu của giai cấp công nhân cũng thay đổi; sự phân tầng trong công nhân do quyền sở hữu và mức độ sở hữu tài sản khác nhau hoặc không có quyền đó trong thực tế mang lại; sự mâu thuẫn về lợi ích, khoảng cách giàu nghèo trong nội bộ, sự không đồng nhất về nhiều mặt của giai cấp công nhân sẽ là những vấn đề đặt ra Tác giả cho rằng, thông qua việc nhận thức
Trang 32rõ các xu hướng biến đổi để có những chính sách thích hợp góp phần làm cho giai cấp công nhân giữ được vai trò tiên phong của mình
Công trình “Trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” (Bùi Kim Hậu, 2012) cho rằng, trí thức hóa công nhân Việt Nam là quá trình tác động một cách toàn diện để nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của công nhân lên trình độ cao, mà trước hết là học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức chính trị và tác phong công nghiệp Hội nhập kinh tế quốc tế và mối quan hệ giữa trí thức hóa công nhân với hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay có tác động biện chứng qua lại, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi để trí thức hóa công nhân, ngược lại trí thức hóa công nhân là điều kiện
để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mang lại hiệu quả cao Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực trạng trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng cũng còn nhiều hạn chế như: trình độ học vấn của công nhân còn thấp; trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân còn yếu kém; ý thức chính trị và tác phong công nghiệp của công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập Qua đó tác giả chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu
và hạn chế và đưa ra quan điểm, giải pháp đẩy mạnh trí thức hóa công nhân Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tác phẩm “Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay” (Đặng Quang Định, 2010) phân tích những lợi ích kinh tế của giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức; làm rõ thống nhất và cả những biểu hiện của sự thiếu thống nhất trong lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức; qua đó đưa ra một số giải pháp định hướng tăng cường sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức Tuy Tuy công nhân, nông dân, trí thức
có những đặc điểm riêng quy định lợi ích kinh tế nhưng về cơ bản giữa họ có chung lợi ích kinh tế Trong đó, giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản đại biểu cho lợi ích chung, tập hợp nông dân và trí thức cùng thực hiện sứ mệnh lịch sử, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường còn những điểm thiếu thống nhất trong quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí
Trang 33thức Tình trạng tranh chấp việc làm; tranh chấp, vi phạm các lợi ích kinh tế; sự chênh lệch về thu nhập và thụ hưởng phúc lợi xã hội; những vấn đề nảy sinh trong quan hệ
sở hữu tư liệu sản xuất Trên cơ sở đó, tác giả làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức; đưa ra một số giải pháp định hướng tăng cường sự thống nhất kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức hiện nay Qua kết quả khảo sát tác giả khẳng định: Liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức nước ta đang có những thay đổi to lớn, làm cơ sở cho những thay đổi bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng Nên việc củng cố, tăng cường mối liên minh công - nông - trí thức vững mạnh là cơ sở để thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Luận án Tiến sĩ “Vai trò của đội ngũ công nhân trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2014) cho rằng trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức đã tạo ra tiền đề, điều kiện cho sự hình thành ngày càng đông đảo đội ngũ công nhân trí thức Đội ngũ công nhân trí thức có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và đối với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Tuy nhiên, đội ngũ công nhân trí thức ở nước ta hiện nay chưa theo kịp sự phát triển và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân trí thức; chưa có sự thống nhất về khái niệm, đặc điểm,
vị trí, vai trò của đội ngũ này trong lý luận Trong thực tiễn, về số lượng và trình độ chuyên môn, tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật còn nhiều điểm bất cập, đặc biệt thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, chuyên sâu… làm cho vai trò của đội ngũ công nhân trí thức Việt Nam chưa được thể hiện phát huy
rõ nét
Bùi Đình Bôn trong bài viết “Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Bùi Đình Bôn, 2008, trang 32-37) đã đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nội dung tập
Trang 34trung vào việc nghiên cứu, bổ sung lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện mới; nâng cao ý thức chính trị, lập trường giai cấp, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho giai cấp công nhân; nâng cao chất lượng đào tạo nghề và trình độ học vấn cho công nhân; hệ thống chính sách pháp luật được hoàn thiện nhằm bảo đảm lợi ích cho công nhân; thực hiện quyền làm chủ thực sự của giai cấp công nhân; xây dựng Đảng, công đoàn trong doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh; phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của toàn xã hội trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân
Tập hợp các công trình liên quan đến đến nhân tố tác động đến quá trình trình chuyển biến, thực trạng của giai cấp công nhân trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gồm: “Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của Đại học Quốc gia Hà Nội (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010); “Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của (Dương Xuân Ngọc, 2004); “Giai cấp công nhân Việt Nam - thực trạng và suy ngẫm” (Trương Giang Long, 2007, trang 34-39) và “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Tú Hoa, 2013, trang 29-34) làm rõ tình hình chính trị thế giới, cách mạng khoa học - công nghệ, sự phát triển của kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa đã tác động đến quá trình biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam Trên cơ sở đó, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam: số lượng tăng, chất lượng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ cấu đa dạng thành phần và ngành nghề, việc làm phong phú nhưng thất nghiệp vẫn còn nhiều; thu nhập được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiết yếu của công nhân; ý thức chính trị có diễn biến phức tạp… Qua đó, các tác giả đưa ra những giải pháp chủ yếu xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
“Về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” (Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường, 2001) công trình đã trình bày thực trạng phát triển công nghiệp, đội ngũ công nhân Việt Nam sau những năm đổi mới Đặc biệt các tác
Trang 35giả đã nghiên cứu công phu về khảo sát thực trạng kinh tế - xã hội giai cấp công nhân công nghiệp ở các khu vực trọng yếu như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Định, Bình Phước, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ ở giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2000, đưa ra những số liệu thống kê về vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội, gia định và đời sống, nghề nghiệp và đào tạo, điều kiện lao động, đánh giá các tệ nạn
xã hội, tâm tư nguyện vọng của công nhân….Công trình đã phác họa được bức tranh toàn cảnh về thực trạng giai cấp công nhân với sự phân tích cụ thể
Trong chuyên khảo “Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (Nguyễn Viết Vượng, 2010) đã đề cập đến sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam; vai trò của tổ chức công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Theo tác giả, toàn cầu hóa có tác động tích cực như: làm thay đổi cơ cấu giai cấp công nhân trong lực lượng lao động xã hội; việc làm và thu nhập của người lao động tăng lên; rèn luyện tác phong công nghiệp Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa được tác giả chỉ ra như: gia tăng nạn thất nghiệp; phân hóa giàu nghèo trong nội bộ giai cấp công nhân; điều kiện lao động, vệ sinh môi trường, các biện pháp bảo hộ lao động chưa tốt
Bài viết “Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất” (Trần Văn Chử, 2007, trang 53-55) nêu ra những thực trang về đời sống vật chất và tinh thần của công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay Đưa ra các giải pháp khắc phục là phải thực hiện nghiêm túc việc cấp phép thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiện tiện ích đối với đời sống vật chất và tinh thần của công nhân; gắn quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội với quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất; cải cách chế độ tiền lương phù hợp với điều kiện sống trong cơ chế thị trường; xây dựng nhà ở cho công nhân; đổi mới hoạt động của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân Công trình “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” (Đặng Ngọc Tùng, 2011) đã phân tích những cơ sở lý luận để xây dựng giai cấp công
Trang 36nhân Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta Phân tích thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam qua 25 năm đổi mới, đó là sự phát triển nhanh về số lượng và chuyển biến cơ cấu đa dạng; trình độ học vấn, chuyên môn của giai cấp công nhân được nâng cao, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập; tình hình việc làm, đời sống, nhà ở, điều kiện làm việc mặc dù được cải thiện nhưng còn nhiều bất hợp lý và chưa thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu của công nhân hiện nay; đời sống tinh thần, tình cảm giai cấp, ý thức chính trị của một bộ phận công nhân còn mơ hồ, phai nhạt lý tưởng cách mạng; quan hệ lao động của công nhân với giới chủ còn nhiều diễn biến phức tạp Trên cơ sở đó, tác giả Đỗ Ngọc Tùng đã chỉ ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đổi mới
Luận án tiến sĩ “Giai cấp công nhân - giai cấp tiên phong trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(Nguyễn Thị Hường, 2012) đã phân tích vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng văn hóa Tác giả đã làm rõ một số vấn đề đặt ra với vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay Đó là, toàn cầu hóa, kinh tế tri thức do chủ nghĩa tư bản chi phối và chủ nghĩa xã hội chưa qua thóai trào - thử thách lớn với vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay; vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện ít về số lượng, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng thấp; thiếu việc làm, thu nhập không ổn định, đời sống thấp; nhiều tổ chức cơ sở Đảng yếu kém, không ít cán bộ Đảng viên thóai hóa, biến chất và công tác quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước còn nhiều khuyết điểm Tác giả đưa ra quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn tới
Bài viết “Giải quyết những vấn đề cấp bách của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Mạnh Thắng (Nguyễn Mạnh Thắng, 2014, trang 36-40) đưa
ra thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay như: thu nhập thấp, bức xúc
về nhà ở, thiếu việc làm, cường độ lao động cao, nợ bảo hiểm xã hội Từ đó, tác giả nêu ra một số giải pháp: đổi mới và hoàn thiện chính sách việc làm; tiếp tục cải cách
Trang 37tiền lương, tiền thưởng; hoàn thiện chính sách nhà ở, nhà trẻ, trường học; xây dựng
hệ thống Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hoàn chỉnh
Về đời sống văn hóa, tinh thần của giai cấp công nhân, trong các công trình:
“Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Nguyễn Văn Nhật, 2010); “Xây dựng lối sống văn hóa của công nhân Việt Nam - lý luận và thực tiễn” (Vũ Quang Thọ, 2015) đều đã đề cập đến cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và đời sống văn hóa, lối sống và lối sống văn hóa của giai cấp công nhân theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta Phân tích sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, mở rộng giao lưu và hợp tác văn hóa với các nước trên thế giới đã tác động đến đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Về thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đa dạng và phong phú, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn và bất cập về các điều kiện sinh hoạt văn hóa của công nhân dẫn đến “nghèo” về văn hóa Các tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao đời sống văn hóa cho giai cấp công nhân như: tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện các điều kiện về ăn, mặc, ở, sinh hoạt; yêu cầu về xây dựng hạnh phúc gia đình; nâng cao trình độ học vấn và tay nghề cho công nhân; phát huy dân chủ trong đời sống công nhân lao động…
Để nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân nước ta trong hội nhập quốc tế, các tác giả: Dương Xuân Ngọc trong bài viết “Nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam trước yêu cầu, nhiệm vụ mới” (Dương Quang Ngọc,
2008, trang 11-16); Dương Văn Sao với bài viết “Phát huy vai trò của công đoàn trong nâng cao ý thức chính trị và kỷ luật cho công nhân” (Dương Văn Sao, 2014, trang 13-17); “Nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (Dương Văn Sao, 2005); “Đình công ở nước ta hiện nay và giải pháp của Công đoàn” (Dương Văn Sao, 2009a); “Đình công của công nhân lao động – nguyên nhân và giải pháp hạn chế” (Trần Thị Như Quỳnh, 2009, trang 36-39), “ Đổi mới nội dung phương pháp hoạt động công đoàn trong tình hình hiện nay”
Trang 38(Dương Văn Sao, 2009b); tác giả Đan Tâm với: “Công đoàn Việt Nam truyền thống
và hiện đại” (Đan Tâm, 2008); “Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI” (Đan Tâm, 2010a), “80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam với giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam” (Đan Tâm, 2010b) đều đề cập đến ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam biểu hiện trên các mặt: sự giác ngộ về vị trí, vai trò lãnh đạo cách mạng; sự giác ngộ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; sự giác ngộ về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị nói chung, cũng như các thành tố cấu thành hệ thống chính trị; sự nhận thức
và thái độ đúng đắn về con đường đổi mới đất nước; sự hiểu biết và tự giác thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhận thức sâu sắc về tình hình, đặc điểm của thời đại ngày nay; sự giác ngộ về chủ nghĩa quốc tế trong sáng
Để nâng cao ý thức chính trị cho công nhân, vai trò của tổ chức công đoàn là hết sức quan trọng; do đó, công đoàn cần đẩy mạnh tuyên truyền cho công nhân lao động, cần chú ý đến đối tượng công nhân lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước Đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức tuyên truyền giáo dục, trong đó đội ngũ cán bộ công đoàn đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam
Công trình “Xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn hiện nay (Qua khảo sát ở miền Đông Nam Bộ)” (Huỳnh Thị Gấm, 2013) đề cập đến vị trí, vai trò, tầm quan trọng của tổ chức cơ sở đảng và sự cần thiết xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay Thực trạng của việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài ở miền Đông Nam Bộ hiện nay Đó là, ít về số lượng, cơ cấu chưa hợp lý; công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng còn nhiều khó khăn, hạn chế và bất cập Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở miền Đông Nam Bộ, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp tiếp tục xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở miền Đông Nam Bộ hiện nay
Trang 39Nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm đề nhận định, đề ra phương hướng
để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời đại mới như: Hội thảo Phương pháp điều tra, khảo sát đề tài “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2010
- 2020” vào ngày 26/2/2009, tại trụ sở Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện Công nhân Công đoàn chủ trì, Hội thảo tập trung đóng góp ý kiến vào các mẫu phiếu điều tra khảo sát lấy ý kiến của công nhân lao động, chủ doanh nghiệp, cán bộ công đoàn Đây là cuộc điều tra khảo sát trên diện rộng nhằm thu thập những thông tin trung thực, khách quan, khoa học về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay; Hội thảo khoa học: “Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” vào ngày 26/2/2009, tại Hà Nội
do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì các nhà khoa học đã đóng góp nhiều
ý kiến tâm huyết nhằm hoàn thiện dự thảo “Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Các ý kiến tham luận tại
Hội thảo đã tập trung vào những vấn đề chủ yếu như: Dự báo xu hướng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam; mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2020; các chương trình thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân; nhiệm vụ của các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể đối với việc thực hiện Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020 “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI” (Nguyễn Trần Quế, 2004) cho rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là quá trình của phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh
tế xã hội quốc gia lên trình độ cao mới Nội dung làm rõ được thực trạng các ngành kinh tế, trong đó đề cập đến chuyển dịch cơ cấu lao động, quá trình xây dựng và phát triển những vùng sản xuất tập trung với công nghiệp và thị trường Đặc biệt là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp đó là nhân tố tác động đến quá trình chuyển biến của đội ngũ công nhân công nghiệp Việt Nam hiện nay
Công trình “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước
ta thời kỳ đổi mới” (Bùi Thị Thanh Hà, 2003) dưới góc nhìn chuyên môn về xã hội
Trang 40học, kinh tế học nghiên cứu sự nghiệp đổi mới và sự hình thành nhóm công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh Đặc trưng của đội ngũ công nhân này về cơ cấu, điều kiện lao động, quan hệ xã hội, các hoạt động, quan hệ ngoài doanh nghiệp và một số vấn đề liên quan Tác giả đưa ra kết luận công nhân trong các doanh nghiệp liên doanh đa phần là lao động nữ; có sự biến đổi theo thời gian trong quan
hệ giữa công nhân với nhau nhằm thích ứng với cơ chế mới; công đoàn phát huy vai trò tích cực; thời gian làm việc và thu nhập tại doanh nghiệp sẽ chi phối các hoạt động, quan hệ ngoài doanh nghiệp Song song đó, tác giả chỉ ra một vài vấn đề đặt ra với công nhân như: dịch chuyển chất lượng nguồn lao động; quản lý lao động; mất cân bằng giới trong doanh nghiệp cần phải được quan tâm tiếp cận nghiên cứu
Công trình liên quan đến những biến đổi của công nhân công nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Việt Nam của Đào Quang Trung “Những biến đổi của đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995)” (Đào Quang Trung, 1996) đã khái quát tình hình phong trào đấu tranh của công nhân trước năm
1975 Luận án đã phân tích, đưa ra những thống kê về tình hình đội ngũ công nhân theo biên niên: giai đoạn 1975 - 1985 khi đất nước còn thời kì bao cấp, đóng cửa đã tác động đến số lượng, cơ cấu ngành, nghề, đời sống công nhân cơ cực, bước sang giai đoạn từ 1986 đến 1995 khi đất nước tiến hành đổi mới, mở rộng kinh tế thị trường thì thời điểm này đã có sự biến đổi sâu sắc ở các mặt Đồng thời, nhấn mạnh đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhân tố tác động mạnh đến đội ngũ công nhân công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Việt Nam của Trần Văn Thận về “Sự phát triển của đội ngũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh thời kì 1986 – 2000 Qua thực tiễn Quận Ba” (Trần Văn Thận, 2004) được trình bày theo nội dung vấn đề, tác giả đã phân tích
về sự phát triển của đội ngũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 2000, trong đó có lý giải đến quá trình chuyển biến về số lượng và cơ cấu của đội ngũ công nhân Đồng thời tác giả của luận án nêu ra đặc điểm và phân tích xu hướng phát triển của đội ngũ công nhân ở thời kì 1986 đến 2000