1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này đề xuất giải pháp điều khiển động đa miền cho mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm (SD-EON) sử dụng kỹ thuật định tuyến dựa trên các tham số phản ánh chất lượng truyền dẫn (QoT) và cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt. Trong giải pháp được đề xuất này, các bộ điều khiển SDN của các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt phối hợp hoạt động với nhau theo cơ chế điều khiển phân tán trong đó, các bộ điều khiển SDN của các vùng chỉ trao đổi thông tin định tuyến với các bộ điều khiển lân cận (có liên kết điều khiển trực tiếp) khi có yêu cầu thiết lập/giải phóng kết nối quang. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho

mạng EON định nghĩa bằng phần mềm

Lê Hải Châu, Trần Thủy Bình và Nguyễn Đức Nhân

Khoa Viễn thông I, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Email: chaulh@ptit.edu.vn, tran_thuy_binh@yahoo.com, nhannd@ptit.edu.vn

Abstract—Giải pháp kết hợp giữa công nghệ mạng điều khiển bằng

phần mềm và công nghệ mạng quang lưới bước sóng linh hoạt

(EON) hứa hẹn cho phép hiện thực hóa việc cung cấp động các

dịch vụ kết nối băng thông linh hoạt trên cơ sở hạ tầng linh hoạt

có khả năng tùy biến cao, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch

vụ điều chỉnh và hoạch định chiến lược nâng cấp hạ tầng một cách

cơ động, hiệu quả để đáp ứng tốt các yêu cầu phức tạp của nhiều

loại hình dịch vụ truyền thông và Internet hiện tại và trong tương

lai gần Bài báo này đề xuất giải pháp điều khiển động đa miền cho

mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm

(SD-EON) sử dụng kỹ thuật định tuyến dựa trên các tham số phản

ánh chất lượng truyền dẫn (QoT) và cơ chế đặt trước tài nguyên

linh hoạt Trong giải pháp được đề xuất này, các bộ điều khiển

SDN của các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt phối hợp hoạt

động với nhau theo cơ chế điều khiển phân tán trong đó, các bộ

điều khiển SDN của các vùng chỉ trao đổi thông tin định tuyến với

các bộ điều khiển lân cận (có liên kết điều khiển trực tiếp) khi có

yêu cầu thiết lập/giải phóng kết nối quang Việc định tuyến được

thực hiện thông qua cơ chế phát quảng bá yêu cầu và lựa chọn

tuyến đường khả dụng ngắn nhất theo chất lượng truyền dẫn và

cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt được áp dụng để làm tăng độ

khả dụng của tuyến quang và tránh xung đột phổ tần trong mạng

Hiệu năng của giải pháp đề xuất được đánh giá bằng phương pháp

mô phỏng số và được đối sánh với giải pháp truyền thống dựa trên

thuật toán đường đi ngắn nhất Kết quả mô phỏng đạt được cho

thấy giải pháp được đề xuất có hiệu năng vượt trội so với giải pháp

truyền thống

Keywords- Mạng định nghĩa bằng phần mềm, truyền thông

quang, mạng quang lưới bước sóng linh hoạt, định tuyến và gán phổ

tần

I GIỚI THIỆU Lưu lượng Internet đang phát triển bùng phát trong suốt thập

kỷ vừa qua do sự phát triển đa dạng của các loại hình dịch vụ

hướng video như video theo yêu cầu, mạng xã hội, dịch vụ chia

sẻ video, … cũng như do sự xuất hiện của nhiều loại hình dịch

vụ băng thông siêu cao mới (3D/4k TV, điện toán đám mây, …)

[1] Nhu cầu lưu lượng vẫn đang ngày càng gia tăng này không

chỉ đặt ra yêu cầu ngày càng cao không chỉ về số lượng, chất

lượng mà còn cả về sự linh hoạt trong băng thông và trong việc

triển khai và cung cấp dịch vụ của mạng lưới Trong quá trình

thích ứng với các nhu cầu lưu lượng mới, mạng đường trục

quang với công nghệ cơ bản hiện tại là WDM đang gặp phải rất

nhiều thách thức do những hạn chế về kỹ thuật như việc sử dụng

lưới tần số cố định hay các hạn chế về khả năng cung cấp linh hoạt dịch vụ với băng thông thay đổi [2] Vì vậy, để giải quyết những hạn chế của công nghệ mạng lõi hiện tại, công nghệ mạng quang lưới bước sóng linh hoạt (Elastic Optical Network

- EON) đã được đề xuất và nghiên cứu triển khai với tư cách là công nghệ mạng đường trục hứa hẹn cho mạng Internet tương lai gần [3] Mạng quang lưới bước sóng linh hoạt sử dụng lưới tần số linh hoạt có khả năng tận dụng hiệu quả băng tần sợi quang và cung cấp dịch vụ với băng thông linh hoạt (từ các dịch

vụ tốc độ thấp đến các dịch vụ tốc độ cao và siêu cao) Bên cạnh

đó, nhằm giải quyết triệt để các khó khăn tồn tại trong kỹ thuật điều khiển mạng hiện tại, cũng như để tạo sự linh hoạt trong vấn đề quản lý, điều khiển và triển khai dịch vụ mới, kỹ thuật mạng định nghĩa bằng phần mềm (Software-Defined Networking - SDN) đã được nghiên cứu và đề xuất cho mặt phẳng điều khiển, quản lý và ứng dụng của các hệ thống mạng tương lai [4-5] Giải pháp kết hợp giữa công nghệ mạng điều khiển bằng phần mềm và công nghệ mạng quang lưới bước sóng linh hoạt hứa hẹn cho phép hiện thực hóa việc cung cấp động các dịch vụ kết nối băng thông linh hoạt trên cơ sở hạ tầng linh hoạt có khả năng tùy biến cao, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ điều chỉnh và hoạch định chiến lược nâng cấp hạ tầng một cách cơ động, hiệu quả để đáp ứng tốt các yêu cầu phức tạp của nhiều loại hình dịch vụ khác nhau [6-8]

Hầu hết các nghiên cứu cho đến nay đều chủ yếu tập trung vào các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm đơn miền [6] Tuy nhiên, kiến trúc mạng đa miền là rất cần thiết và có tính thực tế cao xuất phát từ yêu cầu về phối hợp hoạt động liên mạng/liên vùng [8-10] Mạng đa miền có thể được áp dụng trong một số trường hợp thực tế như hoạt động phối hợp liên mạng khi triển khai các thiết bị của nhiều nhà cung cấp khác nhau, khi phân chia mạng thành các phân vùng, khu vực để tăng cường khả năng nâng cấp và quản lý hiệu quả mạng cũng như nhằm hạn chế tầm với dịch vụ và quản lý các kịch bản mạng với các nút mạng phân tán do đặc điểm địa lý hay do nhu cầu quản lý theo vùng [11-13] Để hiện thực hóa được các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt đa miền định nghĩa bằng phần mềm, nhiều cơ chế điều khiển và quản lý mạng được thực hiện, nổi bật lên nhà cơ chế điều phối chung (tương

tự như kiến trúc PCE phân tầng) đã được nghiên cứu và đề xuất [11] Các phương pháp điều khiển và quản lý phân tầng này đòi hỏi phải có một thiết bị điều phối SDN ở trung tâm cho mỗi một

Trang 2

vùng mạng hoặc một hệ thống tự vận hành (AS) Mặt khác, kịch

bản điều khiển mạng SD-EON đa miền phân tán cũng được mô

tả trong [11, 13], nhưng kịch bản này tập trung vào việc quản

lý chỉ hai miền đơn giản mà chưa quan tâm đến khả năng định

tuyến liên miền – một trong các yêu cầu thiết yếu của mạng đa

miền Do vậy, việc phát triển một giải pháp điều khiển động có

khả năng hỗ trợ kết nối đầu cuối đến đầu cuối một cách hiệu quả

trong khi vẫn thỏa mãn được các yêu cầu của mạng đa miền như

tính bảo mật, tính độc lập về chính sách của mỗi miền, … là vô

cùng cần thiết

Bên cạnh đó, trong mạng truyền thông quang, chất lượng tín

hiệu quang truyền dẫn trong mạng quang bị suy giảm do ảnh

hưởng bởi các yếu tố trong truyền thông quang như méo, nhiễu,

… gọi chung là các yếu tố ảnh hưởng vật lý (physical

impairments) [14-15] Những yếu tố ảnh hưởng vật lý được tích

lũy dần dọc theo tuyến truyền dẫn và làm giảm khả năng truyền

đi xa của tín hiệu; giới hạn tầm với quang khả dụng-khoảng

cách lớn nhất mà tín hiệu quang có thể truyền được đi mà không

cần đến các bộ lặp hay khuếch đại Ảnh hưởng của các yếu tố

ảnh hưởng vật lý này trở nên nghiêm trọng hơn đối với các

mạng đa miền do khoảng cách truyền dẫn trong các mạng đa

miền thường lớn hơn nhiều các mạng đơn miền Do vậy, những

ảnh hưởng này cần được xem xét trong quá trình định tuyến

cũng như trong việc lựa chọn và gán khuôn dạng điều chế

Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một giải pháp điều

khiển động cho mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định

nghĩa bằng phần mềm đa miền bằng cách sử dụng kết hợp giữa

kỹ thuật định tuyến theo các tham số chất lượng truyền dẫn và

cơ chế đăng ký trước tài nguyên linh hoạt Quá trình định tuyến

được thực hiện thông qua cơ chế quảng bá yêu cầu và lựa chọn

tối đa hai tuyến đường khả dụng gần nhất, trong khi phổ tần và

phương thức điều chế được lựa chọn bằng việc kết hợp xem xét

ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng vật lý đến chất lượng

truyền Nhờ vậy, các bộ điều khiển SDN của các miền mạng

phối hợp hoạt động với nhau theo cơ chế điều khiển phân tán

trong đó, các bộ điều khiển SDN của các vùng chỉ trao đổi thông

tin định tuyến với các bộ điều khiển lân cận (có liên kết điều

khiển trực tiếp) khi có yêu cầu thiết lập/giải phóng kết nối quang

Bên cạnh đó, nhằm tận dụng được triệt để các ưu điểm của kỹ

thuật kết nối mạng định nghĩa bằng phần mềm trong khi vẫn

tránh được vấn đề "đăng ký trước quá nhiều"

(“over-reservation”), trong giải pháp này, chúng tôi cũng đề xuất sử

dụng cơ chế đăng ký trước tài nguyên kép (multiple (double)

reservation mechanism) cải tiến linh hoạt nhằm giảm thiểu xung

đột phổ tần và tăng cường độ khả dụng của các tuyến quang

Hiệu năng của giải pháp đề xuất được đánh giá bằng phương

pháp mô phỏng số và được đối sánh với giải pháp truyền thống

sử dụng thuật toán đường đi ngắn nhất (ví dụ, giải pháp

GMPLS/PCE [16]) Kết quả mô phỏng đạt được đã chứng minh

hiệu năng vượt trội của giải pháp chúng tôi đề xuất so với giải

pháp truyền thống

II GIẢI PHÁP ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CHO MẠNG

SD-EON ĐA MIỀN DỰA VÀO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN DẪN

VÀCƠCHẾĐẶTTRƯỚCTÀINGUYÊNLINHHOẠT

A Mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng

phần mềm điều khiển phân tán

Trong các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm đa miền được xem xét trong khuôn khổ bài báo này, mỗi vùng (miền) mạng bao gồm các chuyển mạch quang băng tần khả chỉnh được điều khiển bởi các agent định nghĩa bằng phần mềm (ví dụ: OpenFlow agent) và một bộ điều khiển SDN dành riêng như là NOX, Ryu, OpenDaylight, … Bộ điều khiển SDN dành riêng dùng để cập nhật/trao đổi thông tin và điều khiển các thiết bị chuyển mạch quang thông qua các SDN agent và giao thức OpenFlow [9-11] Nhờ kiến trúc điều khiển tập trung trong mỗi miền, các bộ điều khiển SDN của mỗi miền mạng có thể dễ dàng quản lý và bảo trì các thông tin nội miền như là tính khả dụng của các khe phổ tần trên các liên kết mạng

mà không yêu cầu thêm nhiều thông tin bổ sung trong mặt phẳng điều khiển Các bộ điều khiển này cũng có khả năng thực hiện định tuyến và gán phổ tần nội mạng cùng việc điều khiển động các hệ thống trong mạng để cung cấp các kết nối đầu cuối-đến-đầu cuối dựa trên các kết quả định tuyến đó Tuy nhiên, để phối hợp hoạt động và điều khiển giữa các miền mạng với nhau, người ta đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau và phân theo hai hướng tiếp cận chính là điều khiển tập trung và điều khiển phân tán

Trong kỹ thuật điều khiển liên miền tập trung, giải pháp sử dụng bộ điều phối SDN đang rất được quan tâm nghiên cứu và triển khai thử nghiệm [8-9] Trong kỹ thuật này, người ta sử dụng một bộ điều khiển SDN kết nối với tất cả các bộ điều khiển SDN nội miền của các miền mạng để điều phối chung cho toàn

bộ mạng lưới (hoặc một trong các bộ điều khiển SDN nội vùng đóng vai trò điều phối) [9] Giải pháp này có nhược điểm là bộ điều phối SDN yêu cầu được thông báo và cập nhật thông tin định tuyến và điều khiển của tất cả các miền mạng khác, do vậy,

vị trí đặt bộ điều phối này cũng như việc phân quyền quản lý hệ thống cho các nhà cung cấp viễn thông trở thành vấn đề nan giải

để đảm bảo hiệu năng điều khiển chung của mạng

Trong khi đó, kỹ thuật điều khiển phân tán cũng đang cho thấy nhiều tiềm năng trong việc quản lý và điều khiển hiệu quả mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm

đa miền Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật này là các bộ điều khiển SDN của các miền mạng chỉ chia sẻ thông tin và điều phối hoạt động cùng các bộ điều khiển miền mạng kề cận nó Điều này giúp đơn giản hóa tiến trình điều khiển, tăng khả năng thích nghi với các trạng thái miền mạng và đảm bảo tính độc lập tối đa cho mỗi miền Một trong các đề xuất giải pháp điều khiển phân tán đáng chú ý nhất được công bố trong [13], tuy nhiên, giải pháp này chỉ nhắm đến mạng hai miền đơn giản, khó mở rộng cho các mạng đa miền cũng như không xem xét đến định tuyến trong mạng lớn và xử lý xung đột khi đăng ký sử dụng tài nguyên

B Ước lượng chất lượng truyền dẫn (QoT) trong mạng

quang lưới bước sóng linh hoạt

Chất lượng tín hiệu quang truyền dẫn trong mạng quang bị suy giảm do ảnh hưởng bởi các yếu tố ảnh hưởng vật lý được tích lũy dần dọc theo tuyến truyền dẫn Những yếu tố này chính

là nguyên nhân làm giới hạn tầm với quang khả dụng [14-15] Chính vì thế, trong quá trình định tuyến cho các kết nối quang, các tham số ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu quang cần phải được xem xét để đảm bảo kết nối đạt mức chất lượng yêu cầu Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng tham số tỉ lệ tín hiệu quang trên nhiễu (OSNR) để làm cơ sở đánh giá chính

Trang 3

Tỉ lệ tín hiệu quang trên nhiễu (OSNR) được định nghĩa theo

công thức như sau [17],

tx

P OSNR

trong đó, P tx là công suất thu được của tín hiệu quang tại kênh

bước sóng được lựa chọn, P ASE là công suất nhiễu ASE và P NLI

là công suất nhiễu phi tuyến

Trong khi công suất thu được của tín hiệu quang bị suy giảm

theo khoảng cách truyền dẫn (chiều dài sợi quang) và cũng phụ

thuộc vào hệ số suy hao sợi quang () thì công suất nhiễu ASE,

P ASE, được tính theo công thức [18]:

.

với S ASE là mật độ phổ công suất của nhiễu ASE và B o là băng

thông của nhiễu Ta có,

ASE s

SN h G  NF (3)

trong công thức này, G là độ lợi khuếch đại, NF là hệ số tạp âm

(nhiễu) và N s là số khoảng lặp khuếch đại

Bên cạnh đó, công suất nhiễu phi tuyến, P NLI, được tính xấp

xỉ như sau [18],

 2 2 2 

3

2

2 3

3 2

log 2

3

ch s eff

s

N R L

R

 

 

 

với N ch là số kênh trên sợi quang, γ là hệ số phi tuyến của sợi, 2

là hệ số tán sắc, R s là tốc độ baud (R s = R b/log2(M) với R b là tốc

độ bít của kênh truyền và M là mức điều chế) và L eff là chiều dài

hiệu dụng của sợi quang Theo định nghĩa, L eff được tính như

sau:

eff

e L

trong đó, L là độ dài khoảng lặp quang và  là hệ số suy hao sợi

quang

Ngoài ra, S ASE và P NLI cũng có thể tính xấp xỉ theo công thức

sau đây:

4

3

2

2 3

3 2

log 2

3

ch s tot

s

N R L

R

 

 

 

với L tot là tổng chiều dài tuyến quang, K T là hằng số (K T 1,13

đối với khuếch đại Raman)

Các đại lượng trên được tính dọc theo tuyến truyền dẫn

quang Tại mỗi bộ điều khiển SDN của mạng, dựa trên các đại

lượng này, tỉ lệ lỗi bít (BER) của hệ thống được ước lượng để

kiểm tra chất lượng của tuyến quang có đảm bảo theo đúng mức

chất lượng yêu cầu (≥BER threshold) khi đi qua miền mạng do bộ

điều khiển này quản lý theo công thức sau (đối với tín hiệu điều

chế M-QAM) [19]:

 2 

2

1

2 1

3log

M M

(8) với tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu SNR được tính theo giá trị OSNR

thu được [20]:

2

log

C Nội dung chính của giải pháp đề xuất

Nhằm thực hiện hiệu quả quá trình định tuyến liên

mạng/liên vùng cho các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa bằng phần mềm đa miền, thay vì sử dụng một bộ điều phối SDN để điều khiển/điều phối hoạt động của tất cả các

bộ điều khiển SDN của các vùng mạng như thông thường, chúng tôi đề xuất ứng dụng cơ chế điều khiển phân tán giữa các

bộ điều khiển vùng trong đó, các bộ điều khiển SDN của các vùng chỉ trao đổi thông tin định tuyến với các bộ điều khiển lân cận (có liên kết điều khiển trực tiếp) khi có yêu cầu thiết lập/giải phóng kết nối quang Ngoài ra, để tận dụng được các ưu điểm của kỹ thuật kết nối mạng định nghĩa bằng phần mềm và tăng cường khả năng thích nghi với trạng thái liên kết của các vùng mạng, kỹ thuật phát quảng bá thông tin yêu cầu kết nối và lựa chọn đường đi nhằm giảm thiểu sự phân mảnh phổ tần sẽ được

sử dụng trong giải pháp đề xuất để thiết lập kết nối quang phục

vụ các yêu cầu dịch vụ bước sóng quang với băng thông linh hoạt

Bảng 1 Pseudo-code của thuật toán định tuyến

Đầu vào: G={V, E} trong đó V và E là tập đỉnh (các vùng mạng)

và tập cạnh (kết nối liên mạng) của mạng liên miền được các vùng mạng chia sẻ

BER threshold := Tỉ lệ lỗi bít ngưỡng

s := nguồn

d := đích

Đầu ra: Kết nối từ s đến d 1: Gán nhãn ID s,d cho yêu cầu kết nối;

2: Lập danh sách M chứa các vùng mạng đã tiếp nhận nhãn

ID s,d ;

3: Lập danh sách Q chứa các vùng mạng đang xử lý yêu cầu

hiện tại;

4: Q.enqueue(s); // Cho vùng nguồn s vào Q

5: M.enqueue(s); // Đánh dấu vùng s đã tiếp

nhận yêu cầu

6: while( Q is not empty & d is not

in M)

// Thực hiện tiếp khi còn miền đều đã tiếp nhận yêu cầu và chưa đạt đến đích

7: v =Q.dequeue( ); // Vùng mạng v xử lý yêu cầu

kết nối

8: Cập nhật thông tin(QoT, ) ;

9: For all neighbours w of v in

Graph G

// Xem xét tất cả các vùng

mạng w kề cận với v

10: if (w is not in M & BER

BER threshold)

// Nếu w chưa tiếp nhận yêu

cầu kết nối và chất lượng tuyến vẫn đảm bảo

11: Q.enqueue( w ); // Cho vùng w vào danh sách

đã tiếp nhận Q

12: M.enqueue( w ); // Đánh dấu vùng w đã tiếp

nhận yêu cầu

13: endif 14: endfor 15: endwhile

16: if d is in M // Kiểm tra kết quả định tuyến

17: Đăng ký trước tài nguyên

kép(M, s,d);

// Đăng ký tài nguyên dọc tuyến đường và kết nối

18: else

19: Chặn kết nối; // Không tìm được đường đi

(Chặn kết nối)

20: endif

Thuật toán định tuyến được sử dụng trong giải pháp đề xuất được phát triển dựa trên cơ sở thuật toán tìm kiếm theo chiều rộng Mỗi yêu cầu kết nối liên mạng sẽ được bộ điều khiển SDN của vùng mạng nguồn tiếp nhận và khởi phát quá trình xử lý,

Trang 4

các bộ điều khiển trung gian thực hiện chuyển tiếp và bộ điều

khiển vùng đích sẽ quyết định khuôn dạng điều chế và gán phổ

tần phù hợp Bộ điều khiển đích sẽ chấp nhận hai tuyến đường

khác nhau (một tuyến chính và một tuyến dự phòng) và trên đó,

cơ chế đăng ký sử dụng tài nguyên ngược (backward

reservation) từ vùng đích về vùng nguồn cũng được áp dụng để

tạo kết nối theo tuyến đường tìm được Bảng 1 thể hiện thuật

toán định tuyến được đề xuất để xử lý yêu cầu kết nối

Khi có yêu cầu kết nối từ thiết bị (thiết bị nguồn) của một

vùng mạng (vùng nguồn) đến một thiết bị (thiết bị đích) của

vùng mạng khác (vùng đích), thiết bị nguồn sẽ khởi phát bản tin

thông báo yêu cầu thiết lập kết nối (PATH REQ) tới bộ điều

khiển SDN của miền mạng nguồn Sau đó, bộ điều khiển thiết bị

SDN vùng nguồn sẽ tạo lập và phát quảng bá bản tin yêu cầu kết

nối (PATH REQ) đến các bộ điều khiển lân cận Cứ như vậy,

khi bộ điều khiển của một vùng mạng nhận được thông tin kết

nối, nó sẽ kiểm tra: 1) bản tin có bị trùng lặp với các bản tin trước

hay không, nếu có thì loại bỏ, nếu không thì thực hiện 2) xem

thiết bị đích có thuộc vùng mạng nó quản lý hay không, nếu

không thì kiểm tra tính kết nối, cập nhật thông tin về độ khả dụng

của các khe phổ tần, chất lượng truyền dẫn, Sau đó, bộ điều

khiển này sẽ ước lượng tỉ lệ lỗi bít (BER) và so sánh với giá trị

ngưỡng được yêu cầu (BER threshold), nếu chất lượng tuyến truyền

dẫn vẫn đạt yêu cầu (BER≤ BER threshold) thì tiếp tục chuyển tiếp

bản tin yêu cầu đến các bộ điều khiển vùng mạng lân cận còn

nếu không đạt thì loại bỏ bản tin Nếu thiết bị đích thuộc vùng

mạng do bộ điều khiển SDN hiện thời quản lý, thiết bị này sẽ

kiểm tra tính kết nối và giá trị BER đến thiết bị đích và nếu thành

công thì tạo lập bản tin kết nối để thực hiện đăng ký tài nguyên

cho kết nối để gửi ngược trở lại cho các bộ điều khiển SDN trên

tuyến đường đã gửi bản tin đến nó

Các bộ điều khiển khi nhận được bản tin kết nối cũng sẽ kiểm

tra và đăng ký tài nguyên khả dụng cho kết nối và chuyển tiếp

bản tin Để thực hiện cơ chế đăng ký trước tài nguyên kép,

chúng tôi định nghĩa hai trạng thái đăng ký trước tài nguyên là

active và passive (tương ứng là các bản tin Active/Passive

RESV) Trạng thái active là trạng thái mà tài nguyên mạng của

kết nối được đăng ký và dành trước thực sự; các tài nguyên này

sẽ không thể chia sẻ hay bị chiếm dụng bởi các kết nối khác cho

đến khi kết nối được giải phóng Ngược lại, trạng thái passive là

trạng thái mà theo đó, các bộ điều khiển SDN dọc theo tuyến kết nối sẽ chỉ đăng ký tạm thời tài nguyên và các tài nguyên được đăng ký tạm thời này vẫn có thể được cấp phát cho các kết nối khác nếu cần thiết; các tài nguyên này chỉ được dành riêng một

khi trạng thái của nó được chuyển sang thành active Trong giải

pháp đề xuất của chúng tôi, hai tuyến đường được lựa chọn cho mỗi kết nối và tuyến ngắn nhất sẽ được đặt trước theo trạng thái

active còn tuyến kia được dự trữ theo trạng thái passive Nếu

tuyến active không thể đăng ký trước tài nguyên thành công, tuyến passive sẽ được kích hoạt về trạng thái active để thay thế

Bản tin kết nối (Active/Passive RESV) sẽ được chuyển ngược lại cho đến bộ điều khiển SDN của vùng nguồn Nếu bản tin được gửi thành công đến vùng nguồn, tài nguyên cho kết nối

từ thiết bị nguồn đến thiết bị đích sẽ được đăng ký và cung cấp

để thiết lập cuộc gọi từ đầu cuối đến đầu cuối Kết nối không thực hiện được (bị chặn) nếu như tại một vùng mạng nào đó, bộ điều khiển xác định thấy tỉ lệ lỗi bít của kết nối không đạt yêu cầu hoặc không thể sắp xếp được tài nguyên khả dụng tới vùng mạng kề cận để chuyển tiếp bản tin

Bên cạnh đó, nhằm làm tăng độ khả dụng về tài nguyên khi thiết lập các kết nối, bộ điều khiển miền đích sẽ chấp nhận tối đa hai tuyến đường cho một kết nối và cơ chế đăng ký trước tài nguyên kép được áp dụng cho hai tuyến đường tìm được này, trong đó bao gồm một tuyến chính (ACTIVE PATH) và một tuyến dự phòng (PASSIVE PATH) Việc đăng ký tài nguyên cho tuyến dự phòng được thực hiện theo nguyên tắc tạm thời, nghĩa

là tài nguyên đăng ký này vẫn có thể được đăng ký cho tuyến chính của kết nối khác Tuyến dự phòng sẽ bị hủy bỏ nếu tuyến chính được đăng ký thành công Ngược lại, tuyến dự phòng sẽ được chuyển thành tuyến chính nếu quá trình đăng ký tài nguyên dọc tuyến chính gặp phải xung đột Cơ chế thực hiện của giải pháp đề xuất được minh họa trong Hình 1

III ĐÁNH GIÁ VÀ SO SÁNH HIỆU NĂNG Nhằm đánh giá hiệu năng của giải pháp điều khiển động định tuyến dựa trên QoT và sử dụng cơ chế đăng ký tài nguyên kép được đề xuất cho mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định

nghĩa bằng phần mềm đa miền phân tán (ký hiệu là QoT-aware

solution with double reservation), phương pháp mô phỏng số

Hình 1 Cơ chế định tuyến thích nghi và đăng ký tài nguyên kép của giải pháp đề xuất

Trang 5

được thực hiện và các kết quả thu được được đánh giá và so sánh

với kết quả tương ứng của giải pháp dựa trên thuật toán đường

đi ngắn nhất thông thường như giải pháp GMPLS/PCE [16] (ký

hiệu là Traditional solution) Kịch bản mô phỏng được thực hiện

trên cấu hình mạng thực tế của Mỹ là mạng NSF (National

Science Foundation network) với 14 nút và 22 liên kết hai chiều

Mạng SD-EON đa miền có thể thiết lập và giải phóng kết nối

linh hoạt theo yêu cầu với các tham số được thiết lập trong mô

phỏng như sau: dung lượng tổng của mỗi liên kết quang là 125

khe tần số với độ rộng mỗi khe tần số là 12,5 GHz như khuyến

nghị ITU-T G.694.1 [21] Các yêu cầu kết nối được tạo ngẫu

nhiên và xuất hiện theo quy luật phân bố Poisson với tốc độ xuất

hiện trung bình là λ (yêu cầu/đơn vị thời gian) Phân bố của thời

gian giữ kết nối được giả định là theo quy luật mũ âm (negative

exponential distribution) với giá trị trung bình là 1/µ (đơn vị thời

gian) Trong các mô phỏng số, dung lượng của mỗi kết nối được

giả định là gán ngẫu nhiên theo một trong ba tốc độ tiêu chuẩn

hiện nay cho mạng đường trục là 10 Gbps, 40 Gbps và 100 Gbps

với số khe tần số yêu cầu tương ứng là 1, 3 và 7 khe

Sự so sánh hiệu năng của giải pháp đề xuất với giải pháp

truyền thống theo tỉ lệ chặn kết nối khi lưu lượng yêu cầu thay

đổi từ 200 đến 1500 Erlang và thời gian giữ kết nối trung bình

được thiết lập ở mức 1000 đơn vị thời gian được thể hiện trong

Hình 2 Kết quả đạt được cho thấy giải pháp đề xuất có khả năng

giảm thiểu tỉ lệ chặn kết nối và cung cấp hiệu năng cao hơn nhiều

so với giải pháp truyền thống Với lưu lượng đến là 700 Erlang

(và 900 Erlang), tỉ lệ chặn kết nối của giải pháp đề xuất giảm

được đến 68,3% (và 58,6%) so với giải pháp truyền thống Điều

này đạt được là do giải pháp đề xuất có khả năng định tuyến

thích nghi tốt với trạng thái hiện thời của mạng cũng như có

chiến lược lựa chọn và gán phổ tần thông minh cùng cơ chế đăng

ký tài nguyên kép và nhờ vậy, tránh được xung đột phổ tần và

làm tăng khả năng kết nối của mạng

Hình 2 So sánh hiệu năng của giải pháp đề xuất với giải pháp truyền

thống

Hình 3 so sánh tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối,

được tính bằng tỉ lệ giữa số kết nối được chấp nhận đạt được bởi

phương pháp đề xuất và số kết nối của phương pháp truyền

thống trong cùng một điều kiện mạng khi xác suất chặn kết nối

giả định lần lượt là 10-4, 10-3 và 10-2 Kết quả thể hiện trên đồ thị

cho thấy rằng giải pháp được đề xuất có khả năng chấp nhận lưu

lượng nhiều hơn đáng kể (hơn tối thiểu 18%) so với phương pháp truyền thống Đồ thị cũng cho thấy hiệu quả của giải pháp

đề xuất cũng tăng lên rõ rệt khi điều kiện về tỉ lệ chặn kết nối tối

đa bớt chặt chẽ hơn

Hình 3 Tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối

Mặt khác, ảnh hưởng của tham số thời gian giữ kết nối trung bình (Mean Hold Time)- một trong các tham số đặc tính quan trọng thể hiện tính chất lưu lượng của mạng – đến hiệu năng của mạng sử dụng hai giải pháp điều khiển đối sánh được thể hiện trên Hình 4 Các kết quả mô phỏng số đạt được một lần nữa xác nhận hiệu năng vượt trội của giải pháp đề xuất so với giải pháp truyền thống Hiệu quả của giải pháp đề xuất (độ chênh giữa xác suất chặn kết nối đạt được bởi phương pháp đề xuất so với giải pháp truyền thống) tăng lên rõ rệt khi thời gian giữ kết nối trung bình càng lớn Lý do là vì với cùng một tốc độ xuất hiện của yêu cầu kết nối thì thời gian giữ kết nối trung bình càng lớn (tức là lưu lượng mạng càng lớn), thì mức độ khan hiếm phổ tần càng cao, dẫn đến ảnh hưởng của sự phân mảnh phổ tần đối với hiệu năng mạng càng trầm trọng Nhờ có khả năng hạn chế xung đột phổ tần, phương pháp đề xuất của chúng tôi có khả năng thích nghi tốt ngay cả đối với điều kiện lưu lượng mạng lớn

Hình 4 Ảnh hưởng của tham số thời gian giữ kết nối trung bình

IV KẾT LUẬN Nhằm mục tiêu hỗ trợ cấp phát động các dịch vụ bước sóng

và phát triển giải pháp điều khiển mạng hiệu quả cho các hệ thống mạng đường trục Internet, chúng tôi đề xuất một giải pháp định tuyến, gán phổ tần động và đăng ký trước tài nguyên linh

Trang 6

hoạt cho các mạng quang lưới bước sóng linh hoạt định nghĩa

bằng phần mềm đa miền điều khiển phân tán Trong giải pháp

đề xuất, việc định tuyến cho mỗi kết nối được thực hiện thông

qua cơ chế quảng bá yêu cầu và lựa chọn tối đa hai tuyến đường

khả dụng dựa trên chất lượng truyền dẫn quang, trong khi phổ

tần và phương thức điều chế cũng được lựa chọn bằng việc kết

hợp với tỉ lệ lỗi bít theo yêu cầu của hệ thống Cơ chế đặt trước

tài nguyên linh hoạt được áp dụng với hai trạng thái đặt trước tài

nguyên là active và passive nhằm giảm thiểu khả năng xung đột

tài nguyên phổ tần Các kết quả mô phỏng số đạt được cho thấy

rằng giải pháp được đề xuất có khả năng là giảm đáng kể tỉ lệ

chặn kết nối và có hiệu năng vượt trội so với giải pháp truyền

thống

TÀILIỆUTHAMKHẢO [1] A Jukan and J Mambretti, “Evolution of Optical Networking Toward

Rich Digital Media Services,” Proceedings of the IEEE , vol 100, no 4,

pp 855-871, 2012

[2] M Jinno, H Takara, B Kozicki, Y Tsukishima, Y Sone, and S

Matsuoka, “Spectrum-Efficient and Scalable Elastic Optical Path

Network: Architecture, Benefits, and Enabling Technologies,” IEEE

Communications Magazine, vol 47, pp 66-73, 2009

[3] B Chatterjee, N Sarma and E Oki, “Routing and Spectrum Allocation in

Elastic Optical Networks: A Tutorial,” IEEE Communications Surveys &

Tutorials, vol PP, no 99, pp 1, 2015

[4] D Kreutz, F.M Ramos, P.E Verissimo, C.E Rothenberg, S

Azodolmolky and S Uhlig, “Software-defined networking: A

compreh-ensive survey,” Proceedings of the IEEE, 103(1), pp.14-76, 2015

[5] Y Jarraya, T Madi, and M Debbabi, ‘‘A survey and a layered taxonomy

of software-defined networking,’’ IEEE Commun Surv Tut., vol 16, no

4, pp 1955–1980, Fourth Quart 2014

[6] L Liu et al., "Design and performance evaluation of an Openflow-based

control plane for software-defined elastic optical networks with

direct-detection optical OFDM (DDO-OFDM) transmission," Opt Exp., vol 22,

pp 30-40, 2013

[7] L Liu et al., "Software-Defined Fragmentation-Aware Elastic Optical

Networks Enabled by OpenFlow," ECOC 2013

[8] Y Yoshida et al., "First international SDN-based Network Orchestration

of Variable-capacity OPS over Programmable Flexi-grid EON,"

OFC/NFOEC 2014

[9] R Casellas et al., "SDN based Provisioning Orchestration of OpenFlow/GMPLS Flexi-grid Networks with a Stateful Hierarchical PCE," OFC/NFOEC 2014

[10] M Chamania et al., "A Survey of Inter-Domain Peering and Provisioning Solutions for Next Generation Optical Networks," IEEE Comm Surveys

& Tutorials, vol 11, pp 33-51, 2009

[11] C Chen et al., "Demonstration of OpenFlow-Controlled Cooperative Resource Allocation in a Multi-Domain SD-EON Testbed across Multiple Nations," ECOC 2014

[12] H.-C Le, N T Dang, and S Vu-Van, "Dynamic multi-domain elastic optical networks with 4R regeneration capable border nodes," in 2015 2nd National Foundation for Science and Technology Development Conference on Information and Computer Science (NICS), vol., no., pp.169-173, 16-18 Sept 2015

[13] Z Zuqing, L Wei, Z Liang, and N Ansari, "Dynamic Service Provisioning in Elastic Optical Networks With Hybrid Single-/Multi-Path Routing," Journal of Lightwave Technology, vol 31, pp 15-22, 2013 [14] Sartzetakis I, Christodoulopoulos K, Tsekrekos CP, Syvridis D, Varvarigos E., “Quality of transmission estimation in WDM and elastic optical networks accounting for space–spectrum dependencies,” IEEE/OSA Journal of Optical Communications and Networking, vol 8(9), pp 676-88, 2016

[15] Koubàa, M., Bakri, M., Bouallègue, A and Gagnaire, M., “QoT-aware elastic bandwidth allocation and spare capacity assignment in flexible island-based optical transport networks under shared risk link group constraints,” Computer Networks, vol 116, pp 111-140, 2017 [16] A Giorgetti et al., "Hierarchical PCE in GMPLS-based Multi-domain Wavelength Switched Optical Networks," OFC/NFOEC 2011

[17] P Poggiolini, A Carena, V Curri, G Bosco, and F Forghieri, “Analytical modeling of non-linear propagation in uncompensated optical transmission links,” Photon Technol Lett.23, pp 742-744, 2011 [18] G Bosco, P Poggiolini, A Carena, V Curri, and F Forghieri, “Analytical results on channel capacity in uncompensated optical links with coherent detection,” Opt Express, vol 19, pp B438-B449, 2011

[19] J.G Proakis, Digital Communications (4th Edition), New York, McGraw-Hill, 2000

[20] R.-J Essiambre, “Capacity Limits of Fiber-Optic Communication Systems”, Proc OFC 2009, San Diego, ISA, Paper OThL1, 2009 [21] ITU-T Recommendations G.694.1: Transmission media and optical systems characteristics – Characteristics of optical systems, 02/2012

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Pseudo-code của thuật toán định tuyến - Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm
Bảng 1. Pseudo-code của thuật toán định tuyến (Trang 3)
Hình 1. Cơ chế định tuyến thích nghi và đăng ký tài nguyên kép của giải pháp đề xuất. - Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm
Hình 1. Cơ chế định tuyến thích nghi và đăng ký tài nguyên kép của giải pháp đề xuất (Trang 4)
Hình 3. Tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối. - Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm
Hình 3. Tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối (Trang 5)
Hình 2. So sánh hiệu năng của giải pháp đề xuất với giải pháp truyền thống.  - Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm
Hình 2. So sánh hiệu năng của giải pháp đề xuất với giải pháp truyền thống. (Trang 5)
Hình 3 so sánh tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối, được tính bằng tỉ lệ giữa số kết nối được chấp nhận đạt được bởi  phương  pháp  đề  xuất  và  số  kết  nối  của  phương  pháp  truyền  thống trong cùng một điều kiện mạng khi xác suất chặn kết nối   - Giải pháp điều khiển động dựa vào chất lượng truyền dẫn sử dụng cơ chế đặt trước tài nguyên linh hoạt cho mạng EON định nghĩa bằng phần mềm
Hình 3 so sánh tỉ lệ lưu lượng được chấp nhận tương đối, được tính bằng tỉ lệ giữa số kết nối được chấp nhận đạt được bởi phương pháp đề xuất và số kết nối của phương pháp truyền thống trong cùng một điều kiện mạng khi xác suất chặn kết nối (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w