Bài báo đề xuất và xây dựng thành công hệ thống có khả năng tự động đo công suất và tốc độ nhảy tần của máy thông tin nhảy tần mà không cần phải sử dụng thiết bị phân tích tín hiệu băng rộng và các phần mềm đi kèm có giá thành đắt đỏ, sử dụng phức tạp. Kết quả thử nghiệm cho thấy chỉ cần sử dụng một máy phân tích phổ tín hiệu, bộ suy hao hoặc bộ ghép định hướng phù hợp, máy tính có cài đặt phần mềm đo công suất và tốc độ nhảy tần (là sản phẩm của bài báo) có thể thực hiện tự động đo công suất và tốc độ nhảy tần (với độ chính xác tương đương với hệ thống đo tốc độ nhảy tần phức tạp và đắt đỏ của Hãng Keysight). Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Nghiên cứu xây dựng hệ thống đo công suất và tốc độ nhảy tần đối với máy thông tin nhảy tần
dựa trên máy phân tích phổ
Nguyễn Tất Nam∗
∗Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng/Bộ Tổng Tham mưu
Email: {namnguyentat}@gmail.com
Tóm tắt—Bài báo đề xuất và xây dựng thành công hệ
thống có khả năng tự động đo công suất và tốc độ nhảy
tần của máy thông tin nhảy tần mà không cần phải sử
dụng thiết bị phân tích tín hiệu băng rộng và các phần
mềm đi kèm có giá thành đắt đỏ, sử dụng phức tạp Kết
quả thử nghiệm cho thấy chỉ cần sử dụng một máy phân
tích phổ tín hiệu, bộ suy hao hoặc bộ ghép định hướng
phù hợp, máy tính có cài đặt phần mềm đo công suất và
tốc độ nhảy tần (là sản phẩm của bài báo) có thể thực
hiện tự động đo công suất và tốc độ nhảy tần (với độ chính
xác tương đương với hệ thống đo tốc độ nhảy tần phức
tạp và đắt đỏ của Hãng Keysight).
Từ khóa—Kỹ thuật nhảy tần, tự động, vô tuyến, Matlab.
I GIỚI THIỆU
Kỹ thuật nhảy tần là một trong hai kỹ thuật truyền
thông trải phổ đã được sử dụng và nghiên cứu thời gian
dài trong lĩnh vực thông tin quân sự và thương mại
[1] Với ưu điểm miễn nhiễm đối với nhiễu cố ý, xác
suất chặn/phát hiện thấp (LPI/LDP: Low Probability of
Intercept/Detection) và hỗ trợ khả năng liên kết mạng
Tín hiệu nhảy tần có công suất đỉnh thấp và tần số sóng
mang thay đổi theo mã giả ngẫu nhiên nên dễ dàng che
dấu thông tin và khó phát hiện bởi kẻ địch Do vậy việc
trinh sát tín hiệu nhảy tần của kẻ địch gặp nhiều khó
khăn khi không có được thông tin về tần số nhảy, thời
gian tồn tại, định thời nhảy tần và tốc độ nhảy tần
Hiện nay trong Quân đội chúng ta cũng đã các đơn
vị nghiên cứu chế tạo, đưa vào thử nghiệm hoặc mua
những thiết bị thông tin sử dụng kỹ thuật trải phổ nhảy
tần Vấn đề được đặt ra đối với đơn vị làm công tác chất
lượng trong Quân đội là làm thể nào để kiểm soát chất
lượng những thiết bị thông tin quân sự được mua hoặc
do các đơn vị nghiên cứu chế thử Các Hãng chuyên
về thiết bị đo lường như Aeroflex, Rohde & Schwarz
hoặc Keysight đều đã có những giải pháp kiểm tra chất
lượng riêng của mình nhưng tựu chung lại đều sử dụng
một thiết bị phân tích tín hiệu có băng thông rộng chùm toàn bộ dải tần của thiết bị nhảy tần để thu nhập dữ liệu Sau đó, dữ liệu được đưa tới một phần mềm chuyên biệt
để xử lý và đưa ra kết quả đo Cụ thể: Hãng Aeroflex
sử dụng thiết bị Hunter CS1207 kết hợp với phần mềm Broadband Signal Analyzer, Hãng Rohde & Schwarz sử dụng thiết bị thu giám sát băng rộng ESMD và phần mềm phân tích tín hiệu GX430, trong khi đó hệ thống phân tích tín hiệu nhảy tần của Hãng Keysight đề xuất gồm có máy phân tích tín hiệu PXA N9030A dải tần đến 26.5 GHz, phần mềm phân tích tín hiệu Keysight
89600 VSA [2] kết hợp với phần mềm phân tích tín hiệu nhảy tần FHSA do Keysight Việt Nam
Phần mềm phân tích tín hiệu nhảy tần FHSA có chức năng thu thập số liệu từ phần mềm Agilent 89600 VSA
để tính toán ra tốc độ nhảy tần của tín hiệu, mức công suất, tần số hoạt động và thời gian tồn tại của tần số Tuy nhiên, kết quả hiển thị chỉ cho một lần đo trên đồ thị, không lưu giữ lại được dạng đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa mức công suất-tần số, tần số-thời gian để
so sánh với các lần đo tiếp theo Ngoài ra, ở các đồ thị không có chức năng phóng to hoặc thu nhỏ, không điều chỉnh được giá trị hiển thị tối ưu trên các trục hiển thị nên không thể hiện hết đặc tính của các mối quan hệ công suất - tần số, tần số - thời gian Phần mềm FHSA mới chỉ đưa ra tốc độ nhảy tần tức thời dưới dạng rời rạc, chưa đưa ra đồ thị biểu thị sự thay đổi của tốc độ nhảy tần theo thời gian Trong công trình [3], các tác giả đã xây dựng chương trình xử lý kết quả đo tín hiệu nhảy tần và biểu diễn mối quan hệ công suất-tần số, tần
số - thời gian, tốc độ nhảy tần - thơi gian của nhiều lần
đo trên cùng một đồ thị Chương trình có thể hiển thị tối
đa kết quả của mười lần đo liên tiếp, tự động điều chỉnh hiển thị giá tối ưu trên các trục của đồ thị để thuận lợi cho việc quan sát, so sánh các đường đặc tính biểu diễn mức công suất - tần số, tần số - thời gian, tốc độ nhảy tần - thời gian Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ
Trang 2dừng lại ở việc hỗ trợ xử lý khối dữ liệu “offline”1, giải
pháp này chỉ thuận lợi cho quá trình theo dõi, so sánh
và phân tích nguồn tín hiệu nhảy tần tồn tại trong thời
gian dài Chương trình chưa có khả năng hỗ trợ xử lý dữ
liệu “online”2 Mặt khác, cả chương trình xử lý tín hiệu
nhảy tần của Keysight Việt Nam (FHSA) và những cải
tiến trong [3] đều đưa ra kết quả đo công suất là chưa
chính xác do hệ thống đo nhảy tần sử dụng ăng-ten để
thu tín hiệu Do thiết bị phân tích tín hiệu PXA N9030A
cho phép mức tính hiệu đầu vào lớn nhất là khoảng 30
dBm, trong khi đó các máy thu phát nhảy tần như PRC
2188 hoạt động ở chế độ phát thấp nhất cũng là 2 W
Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng giải pháp
đo tốc độ nhảy tần của thiết bị thông tin vô tuyến nhảy
tần có giá thành rất đắt đỏ, đặc biệt là giải pháp của
Hãng Keysight (sử dụng một máy phân tích tín hiệu
băng rộng kết hợp với 02 phần mềm xử lý dữ liệu)
Trong khi đó, tác giả nhận thấy nếu chỉ cần xác định
tốc độ nhảy tần thì có thể dùng thiết bị phân tích tín
hiệu hoặc phân tích phổ với băng thông phân tích không
quá lớn cũng có thể cho kết quả chính xác Chính vì vậy,
tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu: “Nghiên cứu xây dựng
hệ thống đo công suất và tốc độ nhảy tần đối với máy
thông tin nhảy tần dựa trên máy phân tích phổ” Trong
bài báo này, tác giả đưa ra giải pháp để đo công suất
phát lớn nhất và tốc độ nhảy tần của máy thông tin nhảy
tần Từ đó tiến hành thử nghiệm so sánh kết quả từ giải
pháp đo của bài báo với giải pháp đo của Hãng Keysight
đối với cùng một máy nhảy tần PRC 2188
Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau Giải
pháp đo công suất với độ chính xác cao và giải pháp
đo tốc độ nhảy tần được trình bày trong phần II; Thử
nghiệm và đánh giá kết quả đạt được ở trong phần III;
Cuối cùng, kết luận trình bày ở trong phần IV
II GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
A Đo công suất phát của máy thông tin vô tuyến nhảy
tần
đo công suất phát lớn hơn 1 W của máy thông tin vô
tuyến nhảy tần bằng máy phân tích tín hiệu/máy phân
tích phổ hoặc các đầu đo cảm biến công suất sử dụng
bộ ghép định hướng công suất lớn hoặc bộ suy hao cao
tần công suất lớn để làm suy giảm tín hiệu trước khi đưa
vào thiết bị đo như trong Hình 1 Công suất máy phát
được tính bằng mức đo trên máy phân tích tín hiệu/máy
1 Xử lý dữ liệu “offline” là quá trình thu thập dữ liệu từ thiết bị
xong mới xử lý và phân tích dữ liệu
2 Xử lý dữ liệu “online” là quá trình thu thập dữ liệu sa xử lý dữ
liệu được diễn ra đồng thời
nhảy tần công suất lớn
Máy phân tích tín hiệu của Keysight N9030A/Máy phân tích phổ/Cảm biến đo công suất
Bộ suy hao
nhảy tần công suất lớn
Máy phân tích tín hiệu của Keysight N9030A/Máy phân tích phổ/Cảm biến đo công suất
Bộ ghép định hướng Tải cao tần công suất nhỏ
Tải cao tần công suất lớn (a) (b)
Hình 1 Sơ đồ khối đo công suất phát của máy thông tin vô tuyến: (a)
Hệ thống đo sử dụng bộ suy hao cao tần; (b) Hệ thống đo sử dụng
bộ ghép định hướng.
Bộ suy hao In
Out
Máy phân tích mạng Port 1
Port 2
Máy phân tích mạng Port 1
Port 2
Bộ ghép định hướng
Tải công suất 5 W
Tải cao tần công suất cao
Hình 2 Sơ đồ khảo sát giá trị suy hao hoặc giá trị hệ số ghép theo tần số bằng máy phân tích mạng: (a) Khi hệ thống sử dụng bộ suy hao; (b) Hệ thống sử dụng bộ ghép định hướng.
phân tích phổ hoặc đầu đo cảm biến công suất cộng với giá trị suy hao của bộ suy hao sử dụng hoặc giá trị của
hệ số ghép (Coupling Factor) của bộ ghép định hướng Tuy nhiên, giá trị suy hao của bộ suy hao hoặc giá trị của hệ số ghép của bộ ghép định hướng thay đổi theo tần số, do vậy việc lấy giá trị mức tín hiệu đo được trên thiết bị đo cộng với giá trị danh định của hệ số suy hao hoặc hệ số ghép do nhà sản xuất công bố là chưa chính xác Do vậy, tác giả đề xuất việc khảo sát giá trị suy hao của bộ suy hao sử dụng hoặc giá trị của hệ
số ghép của bộ ghép bằng máy phân tích mạng để bù theo tần số đo công suất Sơ đồ thực hiện khảo sát như trong Hình 2 Sau quá trình khảo sát, ta có tập giá trị (f0,A0), (f1,A1) (fn,An) của bộ suy hao hoặc tập hệ
số ghép định hướng (f0,C0), (f1,C1) (fn,Cn) của bộ ghép định hướng Trong đó, fi là tần số khảo sát, Ai là giá trị suy hao tại tần số fi, Cilà giá trị của hệ số ghép của bộ ghép định hướng tại tần số fi Để xác định giá trị suy hao của bộ suy hao hoặc giá trị của hệ số ghép của bộ ghép tại tần số đo công suất fj (fj không có trong tập giá trị khảo sát), chúng ta sử dụng thuật toán nội suy tuyến tính:
Aj =Ai−1(fi− fj) + Ai(fj− fi−1)
Trang 3Máy thông tin
Bộ suy hao cao tần
Máy tính
Phần mềm đo công suất và tốc
độ nhảy tần RJ-45
Hình 3 Giải pháp đo tự động công suất phát đối với máy thông tin
vô tuyến nhảy tần
hoặc
Cj =Ci−1(fi− fj) + Ci(fj− fi−1)
trong đó, fj là tần số cần đo công suất phát, có giá trị
nằm giữa fi và fi−1; Ai hoặc Ci và Ai−1 hoặc Ci−1
tương ứng là giá trị suy hao hoặc hệ số ghép tại điểm
tần số fi và fi−1
Khi đó công suất phát của máy thông tin vô tuyến
nhảy tần được tính theo công thức (3):
Pj[dBm] =Cj|Aj [dB] + Bj[dBm] (3)
trong đó, Pj: công suất phát đo được của máy thông tin
vô tuyến nhảy tần cần đo tại tần số fj; Bj: Giá trị mức
đo được trên máy phân tích phổ/máy phân tích tín hiệu
hoặc cảm biến đo công suất tại tần số fj; Cj|Aj[dB]:
Giá trị của hệ số ghép của bô ghép định hướng hoặc
giá trị suy hao của bô suy hao tại tần số fj Chúng ta
có thể giảm sai số ước lượng giá trị suy hao hoặc hệ số
ghép bằng cách tăng số lượng điểm khảo sát trong dải
tần hoạt động của bộ suy hao hoặc bộ ghép định hướng
Khi đó, chúng ta có sơ đồ đo công suất phát của máy
thông tin vô tuyến nhảy tần như trong Hình 3
ra thuật toán thực hiện đo công suất phát của máy thông
tin vô tuyến nhảy tần được thực hiện trên máy phân tích
phổ N9322C mô tả như trong Bảng I
sai số đo công suất của hệ thống phụ thuộc sai số đo
mức của máy phân tích phổ tín hiệu, bộ suy hao, cáp kết
nối từ bộ suy hao đến máy đo Tuy nhiên, trong phần
trước đã đưa ra giải pháp nhằm loại bỏ sai số của bộ suy
hao và cáp kết nối bằng cách tăng số lượng điểm khảo
sát trong dải tần số cần đo [4] Do vậy, sai số của hệ
thống đo công suất lúc này chỉ còn sai số đo mức của
máy phân tích phổ N9322C với điều kiện sử dụng bộ
Bảng I THUẬT TOÁN THỰC HIỆN ĐO CÔNG SUẤT PHÁT BẰNG MÁY PHÂN
TÍCH PHỔ N9332C SỬ DỤNG BỘ SUY GIẢM
Bắt đầu
(1)
Khai báo các tham số:
- Tần số bắt đầu: f start ;
- Tần số kết thúc: f stop ;
- Độ phân giải băng thông, RBW ;
- Số lần lặp lại của quá trình đo, T 1 ;
- Số lần lấy mẫu giá trị đo, T 2 ;
- Nhập dữ liệu của bộ suy hao/bộ ghép định hướng:
A=importdata(’SA3N10W20.txt’);
(2)
Kết nối với máy phân tích phổ N9322C:
SA=tcpip(y,x); % y là địa chỉ IP của N9322C;
% x là cổng điều khiển (thông thường là 5025);
(3) Thiết lập các tham số trên máy phân tích phổ N9322C;
(4)
Thực hiện thủ tục đo công suất của máy phát thông tin nhảy tần:
for j=1: T 1 for i=1:T 2 fprintf(N9322C, ’:CALCulate:MARKer1:CPEak ON’); Lev(1,i)=str2num(query(N9322C,’:CALCulate:MARKer1:Y?’)); f(1,i)=str2num(query(N9322C,’:CALCulate:MARKer1:X?’)); pause(0.2);
end [Level(1,j) index1]=min(Lev);
fre(1,j)=f(:,index1);
end [Pow index2]=max(Level);
Freq=fre(:,index2)./10^6;
FREQ=round(Freq,2);
ATT=interp1(A(:,1),A(:,2),Freq);
Pow_dBm=Pow + ATT;
Pow_watt=10^((Pow_dBm -30)/10);
Pow_watt=round(Pow_watt,4);
C=[FREQ; Pow_dBm; Pow_watt];
(5) Thực hiện lưu dữ liệu:save_Results_N9322C(C);
Kết thúc
tách sóng đỉnh, độ phân giải băng thông 1 kHz, VBW
100 Hz, mức tín hiệu vào (-50÷0) dBm, tắt tiền khuếch đại, sử dụng suy hao 20 dB, ở nhiệt độ (20÷30)◦C:
Dải tần số (100 kHz đến 3 GHz): ± 0.6 dB;
Dải tần số (3 ÷ 4) GHz: ± 0.65 dB;
Dải tần số (4 ÷ 7) GHz: ± 0.8 dB
B Đo tốc độ nhảy tần của máy thông tin vô tuyến nhảy tần
để xác định tốc độ nhảy tần là chuyển tín hiệu phân tích được trên miền tần số sang miền thời gian để từ đó xác định thời gian tồn tại của tín hiệu Sau đó, tốc độ nhảy tần được xác định là nghịch đảo của thời gian tồn tại tín hiệu Cụ thể, giải pháp của Hãng Keysight có thể mô
tả như trong Hình 4 Tín hiệu thu được trên máy phân tích tín hiệu băng rộng sẽ được chuyển sang đồ thị thác nước bằng phần mềm VSA 89600; sau đó, phần mềm
Trang 4Máy thu phát vô
tuyến điện SCN
nhảy tần
PRC2188
Máy phân tích tín hiệu của Keysight N9030A
Máy tính
Phần mềm VSA
89600 và Phần mềm FHSA RJ-45 Ăng-ten
phát Ăng-ten thu
Hình 4 Giải pháp đo tốc độ nhảy tần của Hãng Keysight
FHSA sẽ truy xuất dữ liệu từ phần mềm VSA 89600 để
tính ra tốc độ nhảy tần của tín hiệu phân tích được Tuy
nhiên, 02 phần mềm sử dụng trong giải pháp này cũng
chưa có chức năng đọc ra công suất phát thực của máy
thông tin vô tuyến nhảy tần Từ đó, ta có thể thấy giải
pháp của Hãng Keysight có giá thành đắt đỏ và phức
tạp trong quá trình sử dụng (do phải sử dụng 02 phần
mềm cùng một lúc) nhưng kết quả vẫn chưa đưa ra giá
trị chính xác của công suất Ngoài ra, các máy phân
tích tín hiệu hoặc phân tích phổ hiện nay đều có tính
năng Zero Span có thể chuyển tín hiệu phân tích được
ở một tần số cụ thể sang tín hiệu trên miền thời gian
Do vậy, giải pháp đo tốc độ nhảy tần của bài báo này
là sau khi đo được tham số công suất phát, máy phân
tích tín hiệu/phân tích phổ sẽ tự động chuyển sang chế
đô Zero Span để từ đó phần mềm (phần mềm đo công
suất và tốc độ nhảy tần) tự động xác định thời gian tồn
tại của tín hiệu để tính ra tốc độ nhảy tần của thiết bị
phát Sơ đồ khối thực hiện giải pháp đo tốc độ nhảy tần
như Hình 3
tần tự động trên máy phân tích phổ N9322C được mô
tả bằng thuật toán tóm tắt ở trong Bảng II
đo của hệ thống đo tốc độ nhảy tần phụ thuộc vào thời
gian quét được chọn để quan sát tín hiệu, số điểm hiển
thị của máy phân tích phổ N9932C Theo [5], số điểm
hiển thị cố định 461 điểm Thông thường, thời gian quét
để quan sát tín hiệu bằng bốn lần thời gian tồn tại của
tín hiệu cần phân tích Khi đó sai số cho phép của hệ
thống đo tốc độ nhảy tần bằng công thức (4):
ehopping= ∓4000 × H
(461000 ± 4000), (4) trong đó: ehoppinglà sai số đo tốc độ nhảy tần cho phép
và H là tốc độ nhảy tần danh định của thiết bị thông
Bảng II TÓM TẮT THUẬT TOÁN THỰC HIỆN ĐO TỐC ĐỘ NHẢY TẦN BẰNG MÁY PHÂN TÍCH PHỔ N9332C SỬ DỤNG BỘ SUY GIẢM
Bắt đầu
(1)
Khai báo các tham số:
- Độ phân giải băng thông, RBW ;
- Thời gian quét một trace tín hiệu, T ;
- Sai số đo, err;
(2)
Kết nối với máy phân tích phổ N9322C:
SA=tcpip(y,x); % y là địa chỉ IP của N9322C;
% x là cổng điều khiển (thông thường là 5025); (3) Thiết lập các tham số trên máy phân tích phổ N9322C; (4)
Thực hiện xác định tốc độ nhảy tần của thiết bị bằng hàm con Hopping_Rate:
C=Hopping_Rate(SA,RBW,T,err);
(5) Thực hiện lưu dữ liệu:
save_Results_N9322C(C);
Kết thúc
Máy thôn tin
vô tuyến nhảy tần PRC2188
Máy phân tích tín hiệu N9030A
Máy phân tích phổ N9322C
Bộ chia tín hiệu 1167A
Suy hao
20 dB
Máy tính cài đặt phần mềm VSA89600 và FHSA
Máy tính cài đặt phần mềm đo công suất và tốc độ nhảy tần
RJ-45
RJ-45
Hình 5 Sơ đồ khối thực hiện thử nghiệm đo công suất và tốc độ nhảy tần của máy thông tin quân sự nhảy tần PRC 2188
tin liên lạc cần đo
III THỬ NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
A Sơ đồ khối thực hiện thử nghiệm
Để đánh giá tính đúng đắn của giải pháp trong bài báo, chúng ta sử dụng đồng thời giải pháp đo của Hãng Keysight và giải pháp đo của bài báo để đo công suất và tốc độ nhảy tần của một máy thông tin vô tuyến nhảy tần PRC 2188 hoạt động ở cả chế độ phát tín hiệu ở mức cao và mức trung bình thấp Sơ đồ khối thực hiện
và sơ đồ thực tế được mô tả lần lượt ở trong Hình 5 và Hình 6 Trong đó, máy thông tin quân sự PRC 2188 là máy thu phát vô tuyến điện sóng cực ngắn nhảy tần do Tập đoàn Phong Hỏa của Trung Quốc sản xuất Dải tần công tác của máy từ (30,000 ÷ 87,975) MHz, giãn cách tần số 25 kHz Công suất phát của máy có 02 mức: Mức
Trang 5Hình 6 Sơ đồ thực tế thực hiện thử nghiệm đo công suất và tốc độ
nhảy tần của máy thông tin quân sự nhảy tần PRC 2188
Bảng III KẾT QUẢ ĐO CÔNG SUẤT VÀ TỐC ĐỘ NHẢY TẦN CỦA MÁY THÔNG
TIN PRC 2188
TT Băng tần
(MHz)
Kết quả đo PRC 2188 Giải pháp đo mới Keysight
PHigh (W)
PLow (W)
Tốc độ (Hop/s)
Tốc độ (Hop/s)
1 Băng tần 1:
30 ÷ 36.375 9.54 2.12 496.61 498.06
2 Băng tần 2:
40 ÷ 46.375 10.71 2.03 497.84 496.13
3 Băng tần 3:
50 ÷ 56.375 11.44 2.24 495.44 498.06
4 Băng tần 4:
60 ÷ 66.375 11.55 2.37 500.69 505.18
5 Băng tần 5:
70 ÷ 77.375 11.63 2.33 497.84 496.13
6 Băng tần 6:
80 ÷ 87.375 12.23 2.39 502.12 496.13
7 Băng tần 7:
30 ÷ 42.375 10.45 2.09 498.66 498.06
8 Băng tần 8:
30 ÷ 55.500 11.72 2.30 497.84 501.95
9 Băng tần 9:
50 ÷ 75.500 12.31 2.57 501.09 496.13
10 Băng tần 0:
30 ÷ 87.375 12.35 2.42 497.84 501.95
cao 10 W; Mức thấp 2 W Máy thông tin PRC 2188 có
thể liên lạc hướng, liên lạc mạng trong đó có thể thiết
lập mạng từ trước; công tác ở nhiều chế độ như thoại
rõ hoặc thoại mật, tần số cố định hoặc nhảy tần, truyền
số liệu, làm trung gian chuyển tiếp, thu canh hoặc thực
hiện chức năng nói thầm
B Kết quả đo đạt được
Kết quả đo công suất và tốc độ nhảy tần cụ thể của
máy thông tin quân sự PRC 2188 hoạt động ở cả 10 băng
tần, chế độ thoại số nhảy tần ECC/C tại tốc độ nhảy tần
500 Hop/s bằng giải pháp đo của Hãng Keysight và giải
pháp thực hiện đo của bài báo được thống kê ở trong
Bảng III Từ kết quả đo tốc độ nhảy tần của máy thông
tin quân sự PRC 2188 ở Bảng 3 cho thấy có sự sai lệch không đáng kể về kết quả đo tốc độ nhảy tần giữa giải pháp đo của bài báo và giải pháp đo của Hãng Keysight Sai lệch lớn nhất ở băng tần số 4 là khoảng 5 Hop/s
Sự sai khác nhỏ về kết quả đo của hai giải pháp có thể được giải thích một cách định tính do: Theo [5], máy phân tích phổ N9322C có số điểm quét cố định là 461 điểm và [6] cho thấy máy phân tích tín hiệu N9030A có
số điểm quét có thể đạt lớn nhất đến 40001 điểm có thể
là nguyên nhân dẫn đến việc xác định được thời gian tồn tại của tín hiệu nhảy tần khác nhau Từ đó, kết quả
đo tốc độ nhảy tần cũng có sự khác biệt nhẹ
IV KẾT LUẬN Bài báo đã đề xuất và xây dựng thành công hệ thống
có khả năng đo tự động công suất và tốc độ nhảy tần của máy thông tin quân sự nhảy tần mà không cần phải sử dụng thiết bị phân tích tín hiệu băng rộng và các phần mềm đi kèm có giá thành đắt đỏ và sử dụng phức tạp Trong đó, bài báo đã đề xuất một giải pháp mới để đo tốc độ nhảy tần bằng thiết bị phân tích phổ mà không cần chuyển tín hiệu sang dạng đồ thị thác nước Ngoài
ra, một giải pháp đo công suất với độ chính xác cao cũng được đề đưa ra trong bài báo Kết quả thử nghiệm cho thấy chỉ cần sử dụng một máy phân tích phổ tín hiệu, bộ suy hao với phù hợp hoặc bộ ghép định hướng, máy tính có cài đặt phần mềm đo công suất và tốc độ nhảy tần (là kết quả của bài báo) có thể tự động đo công suất và tốc độ nhảy tần (với độ chính xác tương đương với hệ thống đo tốc độ nhảy tần phức tạp và đắt đỏ của Hãng Keysight)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] D Torrieri, Principles of Spread-Spectrum Communication Sys-tems, 2nd Edition: Springer Publishing Company, 2011 [2] Agilent, “Agilent 89600 VSA Software,” Quick Start Guide, 2014 [3] Nguyễn Tất Nam, Hoàng Minh Quân, Nguyễn Trọng Thắng, Phùng Phú Bình, and N Đ Bình, “Xây dựng chương trình xử
lý kết quả đo tín hiệu nhảy tần từ máy phát trải phổ nhảy tần bằng phần mềm Matlab,” Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Đo lường toàn quốc lần thứ VI, Hà Nội, Tháng 5 Năm 2015.
[4] Nguyễn Tất Nam,“Nghiên cứu giải pháp giảm sai số đo công suất cao khi sử dụng bộ ghép định hướng DC2035A trong dải tần số
từ 10 kHz đến 250 MHz,” Tạp chí Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Quân sự, số 38+39, Tháng 01 Năm 2018.
[5] Keysight, “N9322C Basic Spectrum Analyzer”, Data Sheet, July 2018;
[6] Keysight, “PXA X-Series Signal Analyzer N9030A”, Data Sheet, March 2018.