1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy

4 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 754,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc ứng dụng phương pháp siêu âm không phá hủy để xác định độ dày mô cơ và mô ỡ trong lợn theo đó có thể xác định được tỉ lệ các lớp mô trong lợn. Bằng việc sử dụng kĩ thuật siêu âm xung dội là một trong những phương pháp đo lường bằng siêu âm, vận tốc của sóng siêu âm truyền trong mô mỡ và cơ của lợn được xác định. Sau đó, một thuật toán xử lý tín hiệu số được áp dụng để nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của phép đo. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Xác Định Tỉ Lệ Mô Mỡ Và Mô Cơ Trên Lợn

Sử Dụng Phương Pháp Siêu Âm Không Phá Hủy

Đỗ Thị Thanh Dịu1, Nguyễn Đức Triều, Nguyễn Ngọc An1, Phạm Văn Thành2 và Chử Đức Trình1

1 Khoa Điện tử Viễn thông, Trường Đại học Công Nghệ - ĐHQGHN

2 Khoa Vật Lí, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên - ĐHQGHN

trinhcd@vnu.edu.vn

Abstract— Trong bài báo này, chúng tôi trình bày việc ứng dụng

phương pháp siêu âm không phá hủy để xác định độ dày mô cơ

và mô ỡ trong lợn theo đó có thể xác định được tỉ lệ các lớp mô

trong lợn Bằng việc sử dụng kĩ thuật siêu âm xung dội là một

trong những phương pháp đo lường bằng siêu âm, vận tốc của

sóng siêu âm truyền trong mô mỡ và cơ của lợn được xác định

Sau đó, một thuật toán xử lý tín hiệu số được áp dụng để nâng

cao độ chính xác và độ tin cậy của phép đo Vận tốc sóng siêu âm

truyền trong mỡ dưới da và cơ có giá trị lần lượt là 1422.9 ± 52.4

và 1583.9 ± 12.5 m/s Các vận tốc này sau đó được sử dụng để

tính toán độ dày mô mỡ và mô cơ của các mẫu vật khác Các kết

quả thí nghiệm có được với các giá trị sai số phép đo nhỏ hơn

5.2% khi so sánh với độ dày đo được bởi thước kẹp điện tử

Keywords- Phương pháp không phá hủy, vận tốc siêu âm, xử lý

tín hiệu số

I GIỚITHIỆU

Tỉ lệ mô mỡ dưới da và cơ trong thịt lợn là một nhân tố

quan trọng để ước lượng chất lượng của các sản phẩm thịt Tỉ

lệ đó phù hợp sẽ đem lại cho con người những bữa ăn ngon

Ngược lại, nếu miếng thịt với tỉ lệ mỡ cao, khi nấu lên món ăn

sẽ chứa rất nhiều chất béo không chỉ gây ra cảm giác không

ngon miệng mà việc tiêu thụ các sản phẩm như vậy về lâu dài

sẽ có ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe Nếu tỉ lệ mỡ quá thấp,

món ăn sẽ không mềm, ngon Để nâng cao chất lượng các sản

phẩm từ thịt, công nghệ sinh học ra đời và trở thành một cuộc

cách mạng trong chăn nuôi Bằng việc ứng dụng công nghệ

này, các con lợn được nuôi trong môi trường giống với tự

nhiên và được cung cấp nguồn thức ăn sạch Mặc dù chất

lượng thịt lợn được cải thiện đáng kể về mùi vị thơm ngon

nhưng hạn chế của phương pháp chăn nuôi này là này là tỉ lệ

mỡ trong thịt vẫn còn cao và do đó các sản phẩm này khó mở

rộng được thị trường, và không đem lại lợi ích kinh tế cao cho

người chăn nuôi Vấn đề đặt ra là kiểm soát tốt tỉ lệ mỡ dưới

da và tỉ lệ nạc của lợn và sản phẩm thịt có được phải an toàn

cho người tiêu dùng Một phương pháp có thể giải quyết hiệu

quả vấn đề này là đó là kiểm tra không phá hủy (NDT) NDT

là một quá trình xem xét, kiểm tra và ước lượng cấu trúc vật

liệu mà không phá hủy hay làm hư hại tới vật liệu đó Kiểm

tra bằng siêu âm xung dội là một trong các phương pháp NDT

được ứng dụng rộng rãi trong một số lĩnh vực khác nhau của

cuộc sống Nó đã được sử dụng để tính toán độ sâu thực tế của

biển [1], độ dày lớp mỡ dưới da và dự đoán tổng lượng mỡ

trong cơ thể của một số loài chó [2], độ dày của mỡ dưới da

của người [3], chỉ ra sự thay đổi độ dày tương đối của lớp mỡ

dưới da của đàn lợn đang trong thời kì phát triển [4], ước định

các thành phần dinh dưỡng trong thịt lợn [5] Nghiên cứu này cho ra kết quả vận tốc truyền siêu âm trong mô mềm của lợn,

từ đó ước tính tỉ lệ các lớp trong lợn bằng việc thiết lập một hệ

đo đơn giản Sóng siêu âm là âm thanh có tần số cao trên ngưỡng nghe của con người, trên 20kHz Vì vậy, nó có rất nhiều ứng dụng trong sinh học Phương pháp không phá hủy này rất dễ dàng thực hiện Khi đặt đầu dò siêu âm trên bề mặt

da của lợn, xung siêu âm từ đầu dò sẽ truyền qua da, mỡ, cơ

và xương Khi sóng siêu âm truyền qua mặt phân cách giữa 2 môi trường có trở kháng khác nhau, nó sẽ bị phản xạ một phần Khoảng thời gian từ lúc xung siêu âm được phát đi cho tới khi nó trở lại đầu dò giúp xác định được vận tốc sóng âm truyền trong mô Sử dụng vận tốc này để tính toán độ dày của lớp mỡ dưới da và lớp cơ Vì vậy mà có thể ước lượng được tỉ

lệ các thành phần mô trong lợn

Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: trong phần

II, chúng tôi miêu tả mô hình thí nghiệm và phương pháp tính tính toán Trong phần III, chúng tôi đưa ra kết quả đo và thảo luận Cuối cùng, chúng tôi kết luận bài báo trong phần IV

Khi sóng siêu âm truyền qua mặt phân cách giữa 2 lớp mô, một phần sẽ bị phản xạ trở lại môi trường ban đầu Tổng năng lượng bị phản xạ từ mặt phân cách phụ thuộc vào trở khác giữa 2 môi trường Sự sai khác về trở kháng giữa 2 loại mô càng lớn, năng lượng bị phản xạ càng nhiều Trở kháng là một đặc tính của mô được xác định bởi mật độ mô tế bào và vận tốc siêu âm truyền trong mô đó Thời gian truyền âm (TOF) được quan sát để tính vận tốc truyền trong vật liệu và được xác định bởi công thức [6]:

với l và v lần lượt là độ dày mẫu vật [m] và vận tốc truyền siêu

âm [m/s] Thí nghiệm được cài đặt cho phép đo vận tốc truyền siêu âm trong mô của lợn được minh họa trong Fig.2(a) Một máy phát siêu âm (5077PR)[7] được kết nối với một đầu dò có tần số trung tâm là 5MHz (Olympus) [8] (dải đo trong y tế đến

20 MHz Trong nghiên cứu này chọn 5 MHz do có sẵn, các tần số khác sẽ khảo sát sau) để tạo ra sóng siêu âm truyền trong mẫu vật Nếu xuất hiện một sự gián đoạn trong quá trình truyền âm, xung phản xạ sẽ được thu lại trên dao động ký [2] chỉ ra như trong Hình 2(b) Tín hiệu phát đi và thu lại được số hóa với chu kỳ lấy mẫu là 0.02s Trong thí nghiệm này, chất

Trang 2

tiếp âm được sử dụng để loại bỏ lớp không khí giữa mẫu vật

và đầu dò

Phần mỡ và nạc của lợn đã xẻ thịt sử dụng cho thí nghiệm lấy

từ các con lợn khỏe mạnh và mẫu vật không qua quy trình xử

lý để đảm bảo giữ được các đặc điểm tự nhiên của thịt

Khoảng 50 mẫu vật được chọn ngẫu nhiên sau 6 giờ con vật

được giết mổ ở các lò giết mổ Các mẫu vật được lựa chọn có

cấu trúc tương đối ổn định để đơn giản hóa phép đo và thuận

tiện cho việc tính toán Các thí nghiệm đều được tiến hành

trong điều kiện nhiệt độ phòng

(a)

(b)

(c) Hình 1 Thiết lập thí nghiệm (a) Thiết lập thí nghiệm siêu âm truyền

trong mô mỡ và mô cơ của lợn (b) Một mẫu mô cơ lợn (c) Dạng tín

hiệu siêu âm thu được

Thí nghiệm cho phép đo vận tốc siêu âm truyền trong mô mỡ

và mô cơ được tiến hành với các mẫu vật khác nhau và lấy giá trị trung bình của các lần đo Xung siêu âm phát ra từ đầu dò

và truyền qua các mô Khi xung siêu âm chạm tới mặt phân cách giữa 2 loại mô, nó sẽ phản xạ trở lại đầu dò, làm thạch anh trong đầu dò dao động và tín hiệu điện thế được tạo ra Tín hiệu siêu âm sau đó được rời rạc hóa và truyền tới máy tính Một tín hiệu siêu âm thu được ở đầu dò được chỉ ra trên

Sử dụng phương pháp xử lý tín hiệu số trên MATLAB, vị trí

và thời gian truyền của các đỉnh phản xạ được xác định

Hình 2 Lưu đồ thuật toán xử lý tín hiệu siêu âm phản xạ lại đầu dò

Lưu đồ thuật toán để lấy đỉnh phản xạ được chỉ ra trong Hình

2 Đầu tiên, sử dụng biến đổi Hilbert để thu được đường bao tín hiệu Tiếp đó, tín hiệu được cho qua một bộ lọc thông thấp

để làm giảm bớt các đỉnh do nhiễu cao tần gây ra Tín hiệu sau

đó được chuyển lại miền thời gian để làm mịn bởi hàm Smooth Sau bước làm mịn, một ngưỡng được xác định để loại

bỏ các đỉnh không mong muốn Cuối cùng, hàm Findpeaks được sử dụng giúp thu được đỉnh theo mong muốn Khoảng thời gian giữa các đỉnh kề nhau chính là thời gian phản xạ của sóng siêu âm và tính toán vận tốc truyền siêu âm trong các mô bằng công thức (1)

III KẾTQUẢVÀTHẢOLUẬN Tín hiệu siêu âm truyền trong mô mỡ và mô cơ của lợn sau khi phản xạ trở lại đầu dò sẽ được lưu lại trên máy tính thông qua một kết nối mạng LAN Tiếp đó, tín hiệu được xử lý theo lưu

đồ thuật toán đã đề cập ở Hình 2 Tín hiệu mô mỡ và mô cơ sau khi qua xử lý có dạng lần lượt như ở Hình 3 và Hình 4 Hình 5 và Hình 6 cho thấy các vận tốc mô mỡ và mô cơ tính toán được tại các lần đo khác nhau Vận tốc siêu âm trung bình trong mô mỡ và cơ lần lượt 1422 ± 52.4 và 1583.9 ± 12.5 m/s Bảng 1 và Bảng 2 so sánh kết quả độ dày của các mẫu vật khi đo bằng phương pháp siêu âm và đo bằng thước kẹp điện

tử với các kết quả vận tốc đã tính được trước đó Sai số giữa phép đo bằng thước kẹp điện tử và phép đo bằng siêu âm qua các lần đo đều nhỏ hơn 5.2%

Trang 3

(a)

(b)

(c) Hình 3 Sóng siêu âm truyền trong mô mỡ (a) Biến đổi Hilbert, (b)

Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh

(a)

(b)

(c) Hình 4 Sóng siêu âm truyền trong mô cơ (a) Biến đổi Hilbert, (b) Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh

Hình 5 Vận tốc siêu âm truyền trong mô mỡ qua các lần đo

khác nhau

Hình 6 Vận tốc siêu âm truyền trong mô cơ qua các lần đo

khác nhau

Trang 4

Bảng 1 Độ dày mô mỡ được đo bởi siêu âm và thước kẹp

điện tử Mẫu Vật Độ dày đo bằng

thước kẹp điện

tử (cm)

Độ dày đo bằng phương pháp siêu âm [cm]

Sai số [%]

1 1.49 1.51 1.342

2 2.41 2.39 0.830

3 4.18 3.96 5.263

4 4.75 4.53 4.632

5 7.17 6.96 2.929

Bảng 2 Độ dày mô cơ được đo bởi siêu âm và thước kẹp

điện tử Mẫu Vật Độ dày đo bằng

thước kẹp điện

tử (cm)

Độ dày đo bằng phương pháp siêu âm [cm]

Sai số [%]

1 1.93 1.98 2.591

2 2.68 2.72 1.493

3 5.74 5.71 0.523

4 6.33 6.44 1.738

5 5.32 5.33 0.188

(a)

(b)

Hình 7 Thí nghiệm với mẫu vật gồm 2 lớp (a) Mẫu vật với lớp

mỡ và cơ (b) Tín hiệu thu được từ mẫu vật 2 lớp

Ở thí nghiệm với mẫu vật gồm 2 lớp, nghiên cứu chỉ ra ứng

dụng của phương pháp siêu âm trong việc tính toán độ dày của

lớp mỡ ở một số vị trí trên cơ thể lợn Mẫu vật được sử dụng

trong thí nghiệm này gồm 2 lớp: một lớp mỡ và một lớp cơ

(Hình 7(a)) Để dễ dàng cho việc tính toán, lớp mỡ được đặt

lên trên lớp nạc và được liên kết bởi lớp gel siêu âm Mỡ được

lấy từ phần lưng và cơ được lấy từ phần thăn lợn Tín hiệu

phản xạ và tín hiệu sau xử lý cho ta nhận biết cơ bản sự tồn tại của các lớp (Hình 7(b)) Áp dụng lý thuyết siêu âm, có thể ước lượng tương đối về độ dày mỗi lớp Tuy nhiên, tín hiệu thu được còn bị nhiễu là một cản trở lớn trong việc phân tích tín hiệu chính xác hơn Trong thực tế, các loại mô khác nhau tại một số vị trí trên cơ thể con vật có sự liên kết về cấu trúc phức tạp tương đối phức tạp Đây là một thách thức lớn của nhóm nghiên cứu Dù vậy, bước đầu xác định được độ dày hay đặc điểm truyền âm của mỗi lớp, như lớp mỡ thông qua tín hiệu phản xạ, cho ta cái nhìn tổng quan bên trong mẫu vật, mở ra tiềm năng kiểm soát chất lượng thịt lợn trong chăn nuôi, cung cấp thông tin kịp tức tới người nuôi lợn Do đó, việc cải thiện phương án xử lý tín hiệu và phép đo là cần thiết cho các nghiên cứu trong tương lai

Trong nghiên cứu này, việc xác định vận tốc siêu âm truyền trong mô mỡ và mô cơ của lợn được tiến hành trên nhiều mẫu vật Các kết quả đo cho đưa ra vận tốc siêu âm truyền trong

mô mỡ và mô cơ lần lượt là 1422 ± 52.4 và 1583.9 ± 12.5 (m/s) Các kết quả này sau đó được sử dụng để xác định độ dày của lớp mỡ trong các mẫu vật khác mà không cần xẻ mẫu vật (phương pháp không xâm lấn) Độ dày lớp mỡ tính toán được bằng siêu âm có mức độ tương đồng cao với độ dày đo bằng thước kẹp điện tử Độ dày các lớp đo được có sai số nhỏ hơn 5.2% Dù vậy, việc cải tiến phương pháp xử lý tín hiệu và phép đo là vẫn cần thiết Các kết quả ban đầu thu được đưa ra một cách tiếp cận khả quan để có thể ước lượng tỉ lệ mỡ và cơ trong lợn, giúp người chăn nuôi kiểm soát chất lượng thịt chặt chẽ hơn từ bên trong trong quá trình chăn nuôi Trong tương lai, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và phát triển thiết bị cầm tay được sử dụng rộng rãi trong đời sống

TÀILIỆUTHAMKHẢO

[1] S E Borujeni, “Ultrasonic underwater depth measurement,”

Underw Technol., vol 2002–Janua, pp 33–36, 2002

[2] M J Wilkinson and N A McEwan, “Use of ultrasound in the measurement of subcutaneous fat and prediction of total

body fat in dogs.,” J Nutr., vol 121, no April, pp S47–S50,

1991

[3] J Ying and C Ng, “Automatic Measurement of Human Subcutaneous Fat with Ultrasound,” no September, 2006 [4] F J McEvoy, A B Strathe, M T Madsen, and E Svalastoga, “Changes in the relative thickness of individual

subcutaneous adipose tissue layers in growing pigs,” Acta

Vet Scand., vol 49, no 1, pp 1–7, 2007

[5] T Koch et al., “Ultrasound parameters of porcine back fat

with relation to structure and composition,” no May 2014,

pp 1–3, 2007

[6] J D N.Cheeke, Fundamentals and Applications of

Ultrasonic Waves 2012

[7] N Magic, “User ’ S Manual,” no 408, pp 1–39, 2009 [8] Olympus Corporation, “Ultrasonic Transducers,” pp 45–46,

2015

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Thiết lập thí nghiệm. (a) Thiết lập thí nghiệm siêu âm truyền trong mô mỡ và mô cơ của lợn - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 1. Thiết lập thí nghiệm. (a) Thiết lập thí nghiệm siêu âm truyền trong mô mỡ và mô cơ của lợn (Trang 2)
Hình 2. Lưu đồ thuật toán xử lý tín hiệu siêu âm phản xạ lại đầu dò. - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 2. Lưu đồ thuật toán xử lý tín hiệu siêu âm phản xạ lại đầu dò (Trang 2)
Hình 3. Sóng siêu âm truyền trong mô mỡ (a) Biến đổi Hilbert, (b) Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 3. Sóng siêu âm truyền trong mô mỡ (a) Biến đổi Hilbert, (b) Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh (Trang 3)
Hình 4. Sóng siêu âm truyền trong mô cơ (a) Biến đổi Hilbert, (b) Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 4. Sóng siêu âm truyền trong mô cơ (a) Biến đổi Hilbert, (b) Lọc thông thấp và làm mịn, (c) Lọc ngưỡng và tìm đỉnh (Trang 3)
Hình 6. Vận tốc siêu âm truyền trong mô cơ qua các lần đo khác nhau.  - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 6. Vận tốc siêu âm truyền trong mô cơ qua các lần đo khác nhau. (Trang 3)
Hình 5. Vận tốc siêu âm truyền trong mô mỡ qua các lần đo khác nhau.  - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Hình 5. Vận tốc siêu âm truyền trong mô mỡ qua các lần đo khác nhau. (Trang 3)
Bảng 2. Độ dày mô cơ được đo bởi siêu âm và thước kẹp  điện tử  - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Bảng 2. Độ dày mô cơ được đo bởi siêu âm và thước kẹp điện tử (Trang 4)
Bảng 1. Độ dày mô mỡ được đo bởi siêu âm và thước kẹp điện tử  - Xác định tỉ lệ mô mỡ và mô cơ trên lợn sử dụng phương pháp siêu âm không phá hủy
Bảng 1. Độ dày mô mỡ được đo bởi siêu âm và thước kẹp điện tử (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm