1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Kênh truyền sóng trong truyền hình số mặt đất và tác động đến chất lượng truyền dẫn

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm mục đích tìm giải pháp nâng cao chất lượng truyền dẫn trong truyền hình số mặt đất, bài báo này tập trung nghiên cứu kênh truyền sóng vô tuyến trong truyền hình số mặt đất, các ảnh hưởng của kênh truyền lên chất lượng truyền dẫn. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Kênh truyền sóng trong truyền hình số mặt đất

và tác động đến chất lượng truyền dẫn Nguyễn Trung Hiền1,2, Nguyễn Ngọc San2, Nguyễn Đình Thu1, Lê Nhật Thăng2

Tóm tắt — Trong hơn hai thập niên qua, hệ thống quảng bá truyền

hình số mặt đất (DTTB – Digital Television Terrestrial

Broadcasting) đã phát triển mạnh trên khắp thế giới Thời gian

gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ xử lý tín

hiệu số tiên tiến, hệ thống DTTB thế hệ tiếp theo được nghiên cứu

để cung cấp nhiều loại dịch vụ với chất lượng tốt hơn và hiệu suất

phổ tần cao hơn Đối với truyền hình số mặt đất, kênh truyền dẫn

có nhiều nhược điểm như: Giảm chất lượng do truyền sóng đa

đường từ phản xạ trên bề mặt, nhiễu xạ với các vật cản nhọn, tán

xạ khi qua môi trường không đồng nhất Nhằm mục đích tìm giải

pháp nâng cao chất lượng truyền dẫn trong truyền hình số mặt

đất, bài báo này tập trung nghiên cứu kênh truyền sóng vô tuyến

trong truyền hình số mặt đất, các ảnh hưởng của kênh truyền lên

chất lượng truyền dẫn

Từ khóa – Truyền hình số mặt đất, kênh truyền sóng, chất lượng

truyền dẫn

Truyền hình số được giới thiệu từ năm 1994 ở Mỹ và 1996

ở châu Âu và Nhật Bản, đầu tiên là qua hệ thống qua vệ tinh và

sau đó là mạng mặt đất Kỳ vọng được đặt nhiều vào hệ thống

truyền hình số nói chung và hệ thống truyền hình số mặt đất

(DTTB) nói riêng Điểm quan trọng nhất là hệ thống DTTB phải

đáp ứng truyền hình HDTV với yêu cầu cao về chất lượng đường

truyền [1] [3] Sau khi ITU chấp nhận tiêu chuẩn DTTB thứ tư:

Quảng bá đa phương tiện truyền hình số mặt đất – DTMB, vào

tháng 12/2011, hiện tại có 4 chuẩn DTTB được sử dụng rộng rãi

ở nhiều nước: ATSC (Hệ thống truyền hình tiên tiến) của Mỹ,

DVB-T (Truyền hình số mặt đất) của Viện tiêu chuẩn viễn thông

châu Âu -ETSI, ISDB-T (Quảng bá số tích hợp dịch vụ mặt đất)

của Nhật và DTMB (Quảng bá đa phương tiện truyền hình số

mặt đất) của Trung Quốc [5][6] Nhìn chung các chuẩn này đều

hỗ trợ tốt HDTV, tuy nhiên do sự bùng nổ của thông tin và nhu

cầu dịch vụ đa dạng về tốc độ và chất lượng, điều này đòi hỏi

cần có hệ thống DTTB với hiệu năng mạnh hơn và nhờ sự phát

triển nhanh của các công nghệ xử lý tín hiệu tiên tiến mà hệ

thống DTTB thế hệ thứ hai đã ra đời

Trong truyền dẫn vô tuyến, các đặc tính kênh vô tuyến có

tầm quan trọng đặc biệt vì chúng ảnh hưởng trực tiếp lên chất

lượng truyền dẫn và dung lượng Trong các hệ thống vô tuyến

thông thường (không phải các hệ thống vô tuyến thích ứng), các

tính chất thống kê dài hạn của kênh được đo và đánh giá trước

khi thiết kế hệ thống Nhưng trong các hệ thống vô tuyến tiên

tiến thường sử dụng điều chế thích ứng, vấn đề này phức tạp

hơn Để đảm bảo hoạt động thích ứng đúng, cần phải liên tục

nhận được thông tin về các tính chất thông kê ngắn hạn thậm chí

tức thời của kênh

Các yếu tố chính là hạn chế của hệ thống thông tin vô tuyến bắt nguồn từ môi trường vô tuyến Các yếu tố này là:

+ Suy hao theo khoảng cách, che tối bởi các vật cản trên đường truyền

+ Pha đinh đa đường và phân tán thời gian: Phản xạ, nhiễu

xạ và tán xạ làm méo tín hiệu thu bằng cách trải rộng chúng theo thời gian Phụ thuộc vào băng thông của hệ thống, yếu tố này dẫn đến thay đổi nhanh cường độ tín hiệu và gây ra nhiễu giao thoa giữa các ký hiệu (ISI: Inter Symbol Interference)

+ Nhiễu cùng tần số hay các tần số lân cận gây méo cho tín hiệu mong muốn

Để làm rõ ảnh hưởng của kênh truyền sóng vô tuyến trong truyền hình số mặt đất lên chất lượng truyền dẫn, sau phần giới thiệu bài báo tập trung trình bày với phần 2: Hệ thống DTTB; phần 3: Mô hình kênh truyền sóng của DTTB; phần 4: Các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng truyền dẫn và phần cuối cùng là Kết luận

Kiến trúc cơ bản của hệ thống DTTB như hình 1 Mặc dù cả bốn chuẩn ATSC, DVB-T, ISDB-T và DTMB đều được ITU chấp nhận cho hệ thống DTTB thế hệ thứ nhất nhưng chúng có những đặc tính kỹ thuật khá khác biệt [1] [2]

Video coding

Audio coding

Video decoding

Audio decoding

Chương trình trung gian

Lớp truyền tải

Giải điều chế và giải mã kênh

Điều chế và mã hóa kênh Lớp

truyền tải

Video

Audio

Số liệu

Máy chủ ứng dụng

Luồng chương trình

Luồng truyền tải

Kênh quảng bá

vô tuyến Tháp truyền hình

Anten người dùng

Luồng chương trình

Luồng truyền tải

Dữ liệu và hướng dẫn

Video

Audio

MÁY PHÁT

MÁY THU

Hình 1 Kiến trúc hệ thống DTTB điển hình

ATSC

Trang 2

Đây là chuẩn DTTB đầu tiên được đề xuất ở Mỹ năm 1995

ATSC cho phép sử dụng truyền dẫn đơn sóng mang Mục đích

ban đầu khi thiết kế ATSC là thu HDTV cố định ngoài trời trên

kênh 6MHz với tốc độ dữ liệu 19,39Mb/s Dù có công suất phát

thấp nhưng do độ phức tạp cao, lan truyền lỗi trong quá trình cân

bằng hồi tiếp quyết định nên ATSC nhạy cảm với kênh pha đinh

đa đường và khó hỗ trợ máy thu di động

DVB-T

Được ETSI công bố vào năm 1997, đây là chuẩn DTTB được

sử dụng rộng rãi nhất với trên 60 quốc gia Công nghệ nền tảng

của DVB-T là truyền dẫn đa sóng mang ghép kênh phân chia

theo tần số trực giao (OFDM), mã hóa với khả năng chống pha

đinh đa đường khá tốt DVB-T có thể hỗ trợ máy thu cố định

trong và ngoài nhà, máy thu di động trên kênh 8MHz và tốc độ

dữ liệu trong dải 4,98Mb/s đến 31,67Mb/s

ISDB-T

Chuẩn này được Nhật phát triển năm 1999 Về công nghệ

T khá giống với DVB-T, tuy nhiên so với DVB-T,

ISDB-T có hai cải tiến cơ bản: ISDB-Thứ nhất, bộ ghép xen dài hơn giúp cải

thiện chất lượng thu di động Thứ hai, với công nghệ OFDM

truyền dẫn phân đoạn băng tần (BST-OFDM) giúp ISDB-T hỗ

trợ đa dịch vụ

Bảng 1 Thông số hệ thống cơ bản của các chuẩn DTTB

Chuẩn

ứng

dụng

A.52/A.53 EN 300 744 ARIB

STD-B31 GB 20600-2006

Băng

Mã hóa

Sơ đồ

truyền

dẫn

Đơn sóng

mang

Coded-OFDM với kích thước FFT:

2k và 8k

BST-OFDM với kích thước FFT:

2k 4k và 8k

TDS-OFDM với kích thước FFT: 3780

Thời

gian bảo

vệ

- 1/32, 1/16, 1/8 và 1/4 1/4, 1/7, 1/9

Mã hóa

kênh

Mã lưới tỷ lệ

2/3

+RS(207,187,

t=10)

Mã xoắn đục lỗ

1/2, 2/3, 3/4, 5/6, 7/8 + RS(204,188, t=8)

LDPC(7488,300 8/4512/6016) + BCH(762,752)

Sơ đồ

QPSK, 16QAM và 64QAM

DQPSK, QPSK, 16QAM và 64QAM

QPSK,

4QAM-NR, 16, 32 và 64QAM

Đan xen Đan xen lưới

12/1

Đan xen bit + đan xen

ký hiệu

Đan xen bit + đan xen thời gian–

tần số

Đan xen xoắn

Tốc độ

số liệu 19,39Mb/s

4,98–

31,67Mb/s

3,65 – 23,23Mb/s

4,81 – 32,49Mb/s

DTMB

DTMB được triển khai ở Trung Quốc từ năm 2006 Công

nghệ chìa khóa của DTMB là sơ đồ truyền dẫn đa sóng mang

mới với tên gọi OFDM đồng bộ thời gian (TDS-OFDM), trong

đó sử dụng chuỗi tạp âm giả ngẫu nhiên (PN) thay cho tiền tố

chu kỳ (CP) làm khoảng bảo vệ giữa các khối dữ liệu liền kề để

đạt được hiệu suất phổ tần cao hơn, đồng bộ nhanh hơn DTMB cũng sử dụng mã kiểm tra chẵn lẻ mật độ thấp hiệu năng cao (LDPC) phía sau mã BCH (Bose-Chaudhuri-Hocquengham) để cải thiện tốt hơn hiệu năng hệ thống DTMB có thể hỗ trợ tốc độ

dữ liệu lên đến 32,49Mb/s trong độ rộng kênh 8MHz

Tổng kết các hệ thống cơ bản của bốn chuẩn DTTB được trình bày trong bảng 1 [3] [4]

Trong thông tin vô tuyến, sóng vô tuyến được truyền qua môi trường vật lý có nhiều cầu trúc và vật thể như tòa nhà, đồi núi, cây cối, xe cộ chuyển động… Nói chung quá trình truyền sóng trong thông tin vô tuyến rất phức tạp Quá trình này có thể chỉ

có một đường truyền thẳng (LOS: Line Of Sight), hay nhiều đường mà không có LOS hoặc đồng thời cả hai Truyền sóng nhiều đường xẩy ra khi có phản xạ, nhiễu xạ và tán xạ

Phản xạ xẩy ra khi sóng vô tuyến đập vào các vật cản có kích thước lớn hơn nhiều so với bước sóng Nói chung phản xạ gây

ra do bề mặt của Trái đất, núi và tường của tòa nhà…

Nhiễu xạ xẩy ra do sóng điện từ gặp phải các bề mặt sắc cạnh

và các thành gờ của các cấu trúc rộng Tán xạ xẩy ra khi kích thước của các vật thể trong môi trường truyền sóng nhỏ hơn bước sóng Thực tế tán xạ thường xuất hiện khi sóng vô tuyến gặp phải các biển hiệu giao thông, cột đèn đường…

Ngoài phản xạ, nhiễu xạ và tán xạ, sóng vô tuyến còn bị suy hao đường truyền Cường độ tín hiệu cũng bị thay đổi theo thời gian do sự chuyển động của máy thu hoặc máy phát Để phân tích, ta có thể đặc trưng ảnh hưởng truyền sóng vô tuyến thành hai loại: Suy hao tín hiệu phạm vi rộng và méo tín hiệu phạm vi hẹp Suy hao tín hiệu phạm vi rộng gây ra do suy hao đường truyền và sự che tối máy phát và máy thu, còn méo tín hiệu phạm

vi hẹp xẩy ra do truyền sóng nhiều đường

Đối với truyền hình số mặt đất, mô hình truyền sóng cần phải được xác định để tính toán tổn hao đường truyền từ đó xác định vùng phủ sóng, và tính toán các thông số khác của kênh vô tuyến

có ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu truyền qua kênh Một số

mô hình phổ biến được sử dụng trong nghiên cứu đối với kênh truyền sóng truyền hình số mặt đất bao gồm [7]:

1 Mô hình NTIA-ITS Longley-Rice, còn được gọi là mô

hình ITM (Irregular Terrain Model)

Mô hình này khá phổ biến và được FCC (Federal Communication Commission) – Mỹ chấp nhận là tiêu chuẩn cho

dự đoán vùng phủ sóng với dải tần rộng từ 20MHz – 20GHz, độ cao anten từ 0,5m – 3.000m, khoảng cách máy thu từ 200m – 500km Mô hình này được phát triển cho giải pháp truyền dẫn điểm – vùng Kết hợp với bản đồ SRTM, mô hình cho kết quả tính toán tổn hao đường truyền khá chính xác

2 Mô hình Hata-Davidson

Mô hình này là phiên bản thay đổi của mô hình Hata, được khuyến nghị bởi TIA (The Telecommunications Industry Association) để cho phép mở rộng tham số đầu vào và khoảng cách để phù hợp với hệ thống DTTB Mô hình sử dụng HAAT (Height Average Above Terrain) trong tính toán

3 Mô hình theo khuyến nghị ITU-R P.1546

Trang 3

Là mô hình do ITU-R đề xuất để dự đoán vùng phủ sóng

điểm – vùng cho các dịch vụ mặt đất ở dải tần 30MHz – 3GHz

4 Mô hình dựa trên lý thuyết nhiễu xạ cạnh sắc đơn

Mô hình được phát triển để tính toán tổn hao đường truyền

trong trường hợp hai vật cản sắc cạnh DKE (Double-Knife Edge

Diffraction) hoặc nhiều vật cản tách biệt

Các mô hình tương tự cho các vật cản đầu tù và các cạnh

cách biệt kép được giới thiệu trong khuyến nghị ITU-R

P.526-13 của ITU

Ở đây, ta khảo sát trường hợp xác định ảnh hưởng của vật

cản đơn nằm trong đường truyền giữa máy phát và máy thu, xem

xét vật cản như một màn chắn rộng, năng lượng không đi qua

được, màn chắn hấp thụ, bán vô hạn Cạnh trên của vật cản gọi

là cạnh sắc

Hình 2 Nguyên lý Huygens đối với nhiễu xạ cạnh sắc

Nguyên lý Huygens được sử dụng để dự đoán sự nhiễu xạ

của sóng phẳng trên cạnh sắc Theo nguyên lý Huygens, mọi

điểm trên mặt sóng là là một nguồn sóng thứ cấp, nó lan truyền

tiếp với cùng tốc độ Nói cách khác, nhiễu xạ là sự bẻ cong sóng

quanh cạnh vật cản, và nó phụ thuộc vào kiểu địa hình và cây

cối Nguyên lý Huygens và hiện tượng nhiễu xạ được trình bày

trong hình 2

Mô tả hình học nhiễu xạ cạnh sắc theo nguyên lý Huygens

trình bày trong hình 3

Áp dụng nguyên lý Huygens dạng toán học, cường độ trường

nhiễu xạ có thể dự đoán được Đóng góp của tất cả các nguồn

thứ cấp trong vùng phía trên cạnh vật cản là tổng các trường

thành phần theo biên độ và pha Kết quả cho thấy sự giảm cường

độ trường do nhiễu xạ cạnh sắc theo dB Đó là tham số tổn hao

truyền sóng và có thể được tính toán bằng việc sử dụng tham số

Fresnel 

Hệ số nhiễu xạ do nhiễu xạ cạnh sắc được cho bởi:

d

i

E

Hình 3 Minh họa nhiễu xạ cạnh sắc

Trong đó E d là trường nhiễu xạ, E i là trường tới (thường E i =

E 0 , với E 0 là cường độ trường trong không gian tự do) và 𝐹(𝜈)

là tích phân Fresnel:



Một dạng khác là:

  1 1 2    2   

2 2

F    C  C  S  S  

Trong đó 𝐶(𝜈), 𝑆(𝜈) tích phân sin và cos Fresnel, chúng có

thể được ước lượng toán học

Tham số Fresnel vô hướng  được tính toán theo công thức:

1 2

1 2

h

d d

Hoặc

1 2

2

d d

 

Trong đó:

h là độ cao giữa cạnh sắc (đỉnh của vật cản) và đường nhìn

thẳng, LOS

 là góc nhiễu xạ (rad)

d 1 là khoảng cách giữa máy phát và vật cản theo LOS

 là bước sóng Các xấp xỉ sau được thực hiện để lý thuyết có giá trị:

d 1 , d 2 ≫ h; d 1 , d 2 ≫

Nguồn thứ cấp Huygens

Vật cản cạnh sắc Mặt sóng

Sóng

thứ cấp

Nhiễu

xạ

Vùng che tối

Mặt sóng phẳng không đổi

Cạnh sắc

Màn chắn

hấp thụ

Trang 4

Phương trình (1) có thể được ước tính sử dụng giải pháp số

Kết quả gần đúng được tính bởi phương trình (6)

 

 

0 95

2

0 225

d

d

, d

d

d

G dB

,

(6)

Với 𝜈 > −0,7 xấp xỉ sau đây có thể được dùng:

d

Việc sử dụng miền Fresnel cũng là một cách hữu ích để khảo

sát nhiễu xạ cạnh sắc Miền Fresnel là các hình elip tròn xoay

đồng trục nằm giữa máy phát và máy thu Chúng được định

nghĩa bởi quỹ tích các điểm mà khoảng cách (a+b) bằng với

khoảng cách (d 1 +d 2 ) giữa máy phát và máy thu (đường LOS)

cộng với n lần nửa bước sóng

Khoảng hở miền Fresnel được định nghĩa là (ℎ 𝑟⁄ ) và có thể 𝑛

 1 2

1 2

2

2

n

d d r

Hình 4 Suy hao nhiễu xạ vật cản cạnh sắc

Nếu cạnh sắc cản trở miền Fresnel, khi đó cường độ trường

có thể được tính toán ở bất kỳ vị trí nào, bởi vì chúng mang năng

lượng lan truyền chính của sóng điện từ

Fresnel  như cho trong hình 4 Quan sát hình này, ta thấy rằng

tham số Fresnel  có giá trị -0,8 khi vật cản chiếm 0,6 miền

Fresnel thứ nhất và tổn hao vật cản lúc đó là 0dB Khoảng hở

này là đặc tính chính quyết định vật cản đó có có gây cản trở

đáng kể hay không

được coi là vùng không được cản trở, đôi khi gọi là vùng cấm,

và nếu vùng này thoáng khi đó tổng tổn hao đường truyền thực

tế giống như trường hợp không có vật cản

Vùng không được cản trở này được minh họa đơn giản trong hình 5

Hình 5 Khoảng trống 0,6 miền Fresnel nhứ nhất Trong thực tế, mặt cắt đứng giữa máy phát và máy thu, đường nhìn thẳng (LOS), miền Fresnel thứ nhất và vùng 0,6

miền này được trình bày trong hình 6 Vùng cấm nơi không cho

phép vật cản nào được tô đậm trong hình

Hình 6 Vùng cấm thực tế: 0,6F1

Các cơ chế vật lý của quá trình truyền lan sóng điện từ là truyền lan trong không gian tự do, phản xạ, nhiễu xạ và tán xạ Các cơ chế này xác định quá trình truyền lan của tín hiệu điện

từ Các phương pháp và mô hình đã được phát triển để dự đoán

sự lan truyền của sóng vô tuyến Một điều cần nhớ là kênh vô tuyến thay đổi theo thời gian Các mô hình truyền lan được chia thành hai loại là mô hình thống kê – thực nghiệm và mô hình hình học – tất định Các mô hình thực nghiệm thích nghi tốt hơn với việc tính toán vùng phủ sóng gần đúng và nhanh Mô hình thực nghiệm tính toán cường độ trường mà không yêu cầu hiểu biết chi tiết về địa hình Các mô hình này sử dụng dữ liệu đo lường rộng rãi ở các môi trường truyền dẫn khác nhau và sử dụng các phương trình đơn giản, ít phụ thuộc dữ liệu bản đồ

Các mô hình hình học tất định có thể yêu cầu tính toán nhiều, mất thời gian, nhưng chúng cho kết quả tính toán vùng phủ sóng

vô tuyến theo địa lý chính xác hơn rất nhiều Các mô hình này

Khoảng cách giữa hai trạm (m)

Mặt cắt đường truyền từ máy phát (Tx) đến máy thu (Rx)

Mặt cắt đứng

Cong trái đất

Tham số nhiễu xạ Fresnel, 

Trang 5

yêu cầu hiểu biết chi tiết về địa hình và đưa vào trong tính toán

độ cong trái đất

Các mô hình thống kê – thực nghiệm điển hình được sử dụng

cho hệ thống DTTB là mô hình Hata-Davidson, mô hình ITU-R

P.1546 Bên cạnh đó là các mô hình hình học – tất định phổ biến

cho DTTB là mô hình nhiễu xạ cạnh sắc đơn và đặc biệt là mô

hình Longley Rice

Đối với đường truyền dẫn tín hiệu từ trạm phát DTTB đến

máy thu đầu cuối sử dụng sóng vô tuyến, các yếu tố ảnh hưởng

tới chất lượng truyền dẫn bao gồm [8]:

1 Pha đinh

Cũng giống như các hệ thống vô tuyến nói chung, truyền dẫn

DTTB chịu ảnh hưởng mạnh từ hiện tượng pha đinh bắt nguồn

từ môi trường truyền Trước hết là pha đinh che tối do các vật

cản trên đường truyền Điều này thường hay xảy ra do DTTB

thường phát ở những nơi đông dân cư, có nhiều vật kiến trúc gây

cản trở sóng điện từ lan truyền Bên cạnh đó, một số trường hợp

thiết kế máy thu DTTB sử dụng anten trong nhà, khi đó tổn hao

khi sóng thâm nhập tòa nhà cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến

chất lượng tín hiệu

Loại thứ hai là pha đinh do đa đường Mặc dù các máy thu

DTTB là cố định, ngoài ra để tránh các vật cản trên đường truyền

thì cột anten phát DTTB thường khá cao, tuy nhiên trong vùng

đô thị tín hiệu thu được tại anten chủ yếu do đường không trực

tiếp và khi đó phải tính đến ảnh hưởng của truyền đa đường, đặc

biệt khi DTTB sử dụng điều chế OFDM thì ảnh hưởng của nhiễu

liên ký hiệu, ISI do đa đường càng nghiêm trọng

Các yếu tố về thời tiết cũng cần phải đưa vào trong tính toán

dự trữ đường truyền cho hệ thống DTTB, đặc biệt với nước ta

khí hậu nhiệt đới, thời tiết thường xuyên thay đổi, mưa nhiều ảnh

hưởng nghiêm trọng đến chất lượng truyền dẫn

2 Can nhiễu hệ thống

Can nhiễu trong hệ thống DTTB trước tiên phải kể đến nhiễu

ISI do hệ thống sử dụng kỹ thuật OFDM và ảnh hưởng của

truyền sóng đa đường Về bản chất khi thiết kế hệ thống, tiền tố

chu trình - CP, đã được tính toán đưa vào để loại trừ ảnh hưởng

chồng lấn ký hiệu Tuy nhiên để đảm bảo hiệu năng dung lượng

tốt hơn thì ISI vẫn tồn tại ở mức độ nào đó và cần có kỹ thuật xử

lý triệt để nhằm tránh ảnh hưởng đến chất lượng truyền dẫn

Nhiễu liên sóng mang, ICI, cũng là loại nhiễu đặc trưng cho

truyền dẫn đa sóng mang OFDM ICI trở nên nghiêm trọng với

ảnh hưởng của đường truyền làm mất tính trực giao của các sóng

mang con Để đảm bảo chất lượng tín hiệu DTTB thì nhiễu ICI

phải được xử lý trước khi thực hiện giải điều chế OFDM

3 Hạn chế băng tần

DTTB với kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu hình số về bản chất

khi ghép các kênh truyền hình số lên sóng mang vô tuyến dùng

chung đã mang lại hiệu quả sử dụng phổ tần tốt hơn nhiều so với

truyền hình tương tự trước đây Tuy nhiên với băng tần UHF sử

dụng cho DTTB rất chật chội thì việc mã hóa tín hiệu hình, nén

và ghép kênh lên sóng mang cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín

hiệu DTTB Khi có nhiều tiêu chuẩn hình ảnh như HD, 4K hay UHD, 8K và 3DTV với yêu cầu băng tần ngày càng rộng thì vấn

đề hạn chế băng tần càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng truyền dẫn của DTTB

Bên cạnh đó, nhiễu vô tuyến của các kênh lân cận, băng tần lân cận cũng cần phải được loại trừ tránh ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu DTTB

V CÁCGIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

Giải pháp nâng cao chất lượng truyền dẫn trong hệ thống DTTB đã được nghiên cứu kỹ càng và triển khai trong chuẩn DTTB-2 mới nhất, các giải pháp đó là [9] [10]:

+ Truyền dẫn đa sóng mang sử dụng OFDM Các vấn đề tồn tại của OFDM như ISI, ICI, PAPR được khắc phục triệt để bởi các giải pháp kỹ thuật cụ thể

+ Mã hóa kênh mạnh để kiểm soát tốt lỗi bit Bên cạnh mã Reed Solomon thì mã LDPC cũng được triển khai trong hệ thống DTTB-2

+ Nâng cao hiệu suất sử dụng phổ tần nhờ điều chế bậc cao, lên đến 256QAM ở chuẩn DTTB-2

+ Truyền dẫn thích ứng với các sơ đồ điều chế, mã hóa được kết hợp với nhau đa dạng đảm bảo chất lượng đường truyền yêu cầu

+ Thiết kế anten tốt hơn, vừa đảm bảo tính hướng, vừa hỗ trợ phân tập giúp cải thiện tốt chất lượng truyền dẫn của DTTB Giải pháp nâng cao chất lượng truyền dẫn trong hệ thống DTTB đã được nghiên cứu kỹ càng và triển khai trong chuẩn DTTB-2 mới nhất, các giải pháp đó là:

Truyền dẫn dựa trên OFDM

Do đặc tính chịu đựng kênh pha đinh chọn lọc tần số tốt và khả năng cung cấp tốc độ số liệu cao nên OFDM là thành phần không thể thiếu cho hệ thống DTTB tương lai cũng như các hệ thống thông tin vô tuyến Trong DTTB-2, công nghệ CP-OFDM truyền thống cũng được sử dụng với tiền tố chu trình (CP) đóng vai trò khoảng bảo vệ chống nhiễu giữa các ký hiệu (ISI), cũng như nhiễu giữa các sóng mang (ICI) Một số tần số hoa tiêu trong

ký hiệu OFDM được sử dụng cho đồng bộ và ước tính kênh qua

đó đạt được việc truyền dẫn tin cậy Công nghệ mới có tính then chốt của DTTB thế hệ hai là TDS-OFDM, nó khác so với CP-OFDM bằng việc sử dụng chuỗi giả ngẫu nhiên (PN) thay thế cho CP làm khoảng bảo vệ Bên cạnh đó chuỗi PN cũng có thể được sử dụng làm chuỗi hướng dẫn (TS) cho đồng bộ và ước tính kênh Như vậy TDS-OFDM ưu việt hơn CP-OFDM về hiệu suất phổ tần vì không cần tín hiệu dẫn đường

Nhược điểm của TDS-OFDM là không hoạt động tốt trên kênh đa đường chọn lọc tần số, đặc biệt khi kênh thay đổi nhanh

là điều kiện gây nhiễu giữa TS và khối dữ liệu OFDM Giải pháp đưa ra là sử dụng OFDM từ duy nhất (UW-OFDM), khi đó TS không độc lập với khối OFDM như trong TDS-OFDM mà nó được tạo ra từ các tần số hoa tiêu kết hợp dư bên trong khối dữ liệu OFDM Khi đó sẽ tránh được ISI giữa khối OFDM và TS

kế tiếp

Một số giải pháp khác khắc phục nhược điểm của TDS-OFDM như TDS-OFDM PN kép (DPN-TDS-OFDM), và mới gần đây là

Trang 6

OFDM hướng dẫn thời gian tần số (TFT-OFDM) DPN-OFDM

sử dụng chuỗi PN lặp để tránh nhiễu ISI lên TS thứ hai, tuy nhiên

khi đó hiệu suất phổ tần sẽ giảm do có thêm TS đặc biệt khi TS

có độ dài lớn trong trường hợp mạng đơn tần (SFN) là mạng

được sử dụng phổ biến cho DTTB-2 Giải pháp cân bằng tốt giữa

hiệu suất phổ tần và chất lượng hệ thống là TFT-OFDM, khi đó

mỗi ký hiệu TFT-OFDM đều có thông tin hướng dẫn thời gian

– tần số gồm TS miền thời gian và một số lượng rất nhỏ hoa tiêu

nhóm miền tần số Với việc ước tính kênh kết hợp miền thời gian

và tần số, TS thu được sử dụng trực tiếp cho việc xác định trễ

của kênh truyền, trong khi các thông số của đường truyền được

xác định bằng các hoa tiêu miền tần số Trong tương lai,

TFT-OFDM sẽ dần được hoàn thiện và là giải pháp then chốt để khắc

phục đặc tính phức tạp của kênh vô tuyến khi truyền dẫn đa

phương tiện trên hệ thống DTTB-2

Điều chế và mã hóa kênh

Sơ đồ điều chế bậc cao nhất sử dụng cho các hệ thống DTTB

thế hệ đầu là 64-QAM Với DTTB-2, để nâng cao hiệu suất phổ

tần cần sử dụng sơ đồ điều chế bậc cao hơn như 256-QAM Với

sự hỗ trợ của TFT-OFDM thì số trạng thái điều chế có thể còn

cao hơn như 512-QAM, 1024-QAM Đây là những hướng

nghiên cứu trong tương lai cho DTTB-2

Một kỹ thuật thu hút nhiều sự quan tâm trong lĩnh vực điều

chế là quay chùm tín hiệu Khi đó chùm tín hiệu tiêu chuẩn sẽ

được quay một góc nhất định so với hai thành phần I, Q ban đầu

giúp hai thành phần này độc lập với pha đinh Giải pháp này còn

được gọi là phân tập không gian tín hiệu (SSD), đem lại độ lợi

phân tập mà không phải tăng công suất hoặc độ rộng băng tần

Với hệ thống DTTB, mã hóa kênh là giải pháp quan trọng

giúp cải thiện tốt độ tin cậy của thông tin khi truyền qua kênh vô

tuyến Các nghiên cứu mới đây đã đưa ra nhiều sơ đồ mã hóa

chất lượng cao Trong số đó mã LDPC hứa hẹn sẽ được sử dụng

phổ biến trong các hệ thống DTTB-2 và các hệ thống thông tin

vô tuyến do có hiệu năng cao và tính phức tạp thấp Để có đường

mã BCH thường được sử dụng cùng với LDPC

Kỹ thuật điều chế và mã hóa kênh thường được kết hợp với

nhau trong xử lý truyền dẫn trên kênh pha đinh BICM-ID là sơ

đồ điều chế mã hóa mạnh đã được sử dụng nhiều trong các hệ

thống DTTB-1 Với DTTB-2, giải pháp kết hợp BICM-ID và

SSD (BICM-ID-SSD) giúp cải thiện đáng kể hiệu năng hệ thống

trên kênh pha đinh nhanh Sơ đồ điều chế mã hóa được khuyến

cáo sử dụng là BICM-ID-SSD dựa trên LDPC

Truyền dẫn MIMO

MIMO là giải pháp hiệu quả trong việc tăng dung lượng hệ

thống và cải thiện chất lượng truyền dẫn Hiện nay, MIMO và

OFDM trở thành hai công nghệ không thể thiếu ở lớp vật lý của

các hệ thống truyền dẫn vô tuyến

Trong khi hầu hết các hệ thống DTTB-1 chưa sử dụng

MIMO vì ở thời kỳ những năm 90 của thế kỷ trước công nghệ

này mới sơ khai Tuy nhiên với sự phát triển nhanh của công

nghệ MIMO, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xây dựng

hệ thống DTTB-2 trên nền MIMO nhằm cải thiện hiệu năng hệ

thống Thử nghiệm cho thấy, với bốn anten thu được sử dụng thì

hệ thống DTTB có thể hỗ trợ HDTV trong môi trường di động

với tốc độ di chuyển 500km/h, điều chế 64QAM trong điều kiện ngưỡng SNR tại máy thu giảm 6dB

Với đặc trưng của hệ thống quảng bá thì việc thực hiện phân tập phát tỏ ra khả thi hơn, khi đó anten thu của người sử dụng không cần phải thay đổi DTTB-2 khuyến cáo sử dụng phân tập phát với sơ đồ mã hóa khối không gian thời gian Alamouti (STBC) để mở rộng vùng phủ sóng khảng 30%

Với môi trường truyền dẫn hở, kênh vô tuyến có đặc tính ngẫu nhiên thay đổi theo thời gian Đặc tính của kênh vô tuyến thể hiện ở miền thời gian với tham số thời gian nhất quán, tán thời; miền tần số với tham số băng thông nhất quán, tán tần; miền không gian với tham số tổn hao đường truyền, chọn lọc không gian Để nâng cao hiệu năng cho các hệ thống thông tin vô tuyến thì việc sử dụng các kỹ thuật vô tuyến mới có vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác tốt kênh

Hệ thống DTTB có đặc trưng truyền dẫn rất khác biệt, đó là truyền dẫn điểm – vùng phù hợp cho dịch vụ quảng bá Bên cạnh

đó đặc điểm địa hình ảnh hưởng nhiều tới quá trình phủ sóng của

hệ thống DTTB với yêu cầu vùng phủ rộng, khu dân cư đông Việc nghiên cứu về kênh truyền sóng của hệ thống DTTB là hết sức cần thiết để nắm rõ được đặc trưng của kênh từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng truyền dẫn cho hệ thống này./

[1] Error-Correction, Data Framing, Modulation and Emission Methods for Digital Terrestrial Television Broadcasting, Recommendation ITU-R BT 1306-6, Dec 2011

[2] Error-Correction, Data Framing, Modulation and Emission Methods for Second Generation of Digital Terrestrial Television Broadcasting Systems, Recommendation ITU-R BT.1877, May 2010

[3] Transition from analogue to digital terrestrial broadcasting, Report

ITU-R BT.2140-4 Oct.2011

[4] Digital Video Broadcasting (DVB); Frame Structure, Channel Coding and Modulation for a Second Generation Digital Terrestrial Television Broadcasting System (DVB-T2) ETSI Standard, EN 302 755, V1.3.1, Apr 2012

[5] Technical Review, No 25 July-September 2012, Asia-pacific Broadcasting Union – ABU

[6] DVB: Developing Global Television Standards for Today and Tomorrow, Peter Siebert DVB Project Office, Geneva Switzerland, 2011

[7] Kasampalis Stylianos, Modelling and Coverage Improvement of DVB-T Networks, Brunel University London Uxbridge, UK March 2018 [8] Marcin Dąbrowski, Investigation of Digital Terrestrial Television Receiver Architectures for DVB-T2 Standard, Warsaw University of Technology, 2013

[9] Md Sarwar Morshed, Synchronization Performance in DVB-T2 System, Tampere University of Technology, September 2009

[10] Cristina Regueiro Senderos, Reception Performance Studies for the Evaluation and Improvement of the New Generation Terrestrial Television Systems, Bilbao, May 2017

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm