ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 Đề tài PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI Mã lớp học Thời gian Giảng viên Sinh viên thực hiện MSSV BSL2002 3 Thứ 3 (T 1 3) ThS Nguyễn Đăng Duy TS Hồ Ngọc Hiển Hà Nội – 042022 I ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh của nền kinh tế đất nước là sự mở rộng và tăng trưởng không ngừng của các hoạt động thương mại Kéo theo đó số lượng hàng hóa được sản xuất càng nhiều, chất lượng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-
-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
Mã lớp học
Thời gian
Giảng viên
Sinh viên thực hiện
MSSV
: BSL2002 3 : Thứ 3 (T.1-3) : ThS.Nguyễn Đăng Duy TS.Hồ Ngọc Hiển :
:
Hà Nội – 04/2022
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh của nền kinh tế đất nước là sự mở rộng và tăng trưởng không ngừng của các hoạt động thương mại Kéo theo đó số lượng hàng hóa được sản xuất càng nhiều, chất lượng được nâng cao, phong phú, đa dạng cả về chủng loại và mẫu mã Trước thực tế này, yêu cầu đặt ra cho các nhà sản xuất là phải tích cực quan tâm hơn đến hoạt động xúc tiến thương mại, từ đó thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình trên thị trường Trong các hoạt động xúc tiến thương mại được quy định trong pháp luật Việt Nam hiện nay, hoạt động khuyến mại có thể được coi là hoạt động phổ biến nhất Pháp luật
về hoạt động khuyến mại đã có những hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện khuyến mại của doanh nghiệp cũng như công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động này Do vậy, em đã chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động khuyến mại” làm đề tài cho tiểu luận, để từ sự nghiên cứu có thể hiểu rõ và nhận thức đúng đắn chính xác về vấn đề này
II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN
MẠI 2.1 Khái niệm, đặc điểm của khuyến mại
Khái niệm
Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt động
xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
Theo đó có thể hiểu một cách đơn giản khuyến mại chính là một cách thức thu hút khách hàng thông qua việc dành cho họ những lợi ích nhất định trên nhiều phương diện như: vật chất (tiền, hàng hóa cụ thể ) hay các lợi ích phi vật chất (cung cấp dịch vụ miễn phí),…để từ đó xúc tiến hoạt động mua bán và cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp
Đặc điểm
Từ khái niệm đã nêu ở trên, có thể đưa ra ba đặc điểm quan trọng, cốt lõi nhất của hoạt động khuyến mại, cụ thể là:
Trang 3Thứ nhất, chủ thể thực hiện khuyến mại là thương nhân, thương nhân có thể tự
thực hiện hoạt động khuyến mại cho doanh nghiệp mình hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ khuyến mại làm dịch vụ cho thương nhân khác để kinh doanh
Thứ hai, khuyến mại thực hiện xúc tiến thương mại bằng cách dành cho khách
hàng những lợi ích nhất định, lợi ích ở đây có thể ở trên phương diện vật chất hoặc phi vật chất
Thứ ba, mục đích chính của khuyến mại là đẩy mạnh việc mua bán hàng hóa và
cung ứng dịch vụ thông qua việc lôi kéo khách hàng mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, làm mọi người chú ý hơn tới sản phẩm của doanh nghiệp, giúp tăng lượng hàng hóa được đặt mua Đồng thời qua đó làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ
2.2 Vai trò của hoạt động khuyến mại
Hoạt động khuyến mại đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và kích cầu tiêu dùng Thông qua hoạt động khuyến mại sẽ giúp người tiêu dùng biết đến các sản phẩm từ đó thúc đẩy việc mua các hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, phân phối
Không chỉ vậy, hoạt động khuyến mại còn có vai trò trong việc quảng bá thương hiệu sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng Khi người tiêu dùng mua sản phẩm của doanh nghiệp đến một số lượng lớn, sẽ càng có nhiều người biết đến sản phẩm, khiến những sản phẩm này được sử dụng một cách phổ biển trong xã hội, giúp thương hiệu của sản phẩm cũng như hình ảnh doanh nghiệp được quảng bá rộng rãi trong công chúng
Qua đó có thể khẳng định khuyến mại đóng một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Để hiện thực hóa và nâng cao hiệu quả của những vai trò này, các thương nhân cần phải có khả năng sáng tạo, không ngừng khai thác tối đa các phương tiện khác nhau để tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại nói chung và khuyến mại nói riêng
2.3 Vai trò của pháp luật về khuyến mại
Trang 4Nhìn nhận một cách tích cực, hoạt động khuyến mại được coi là một biện pháp cạnh tranh lành mạnh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường mua bán,
từ đó thúc đẩy phát triển sản xuất Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khuyến mại cũng rất dễ bị lợi dụng, trở thành công cụ cho các hành vi trục lợi bất chính và cạnh tranh không lành mạnh Những hành vi này không chỉ có ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh mà còn gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước Do vậy, sự tồn tại của pháp luật về khuyến mại với vai trò là một công cụ điều chỉnh, định hướng hoạt động này, trở nên vô cùng quan trọng, nhất
là trong việc giữ vững sự ổn định của thị trường cạnh tranh và đảm bảo sự hiệu quả trong công tác quản lý của nhà nước
III QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN
MẠI 3.1 Chủ thể thực hiện khuyến mại
Theo định nghĩa về khuyến mại, có thể nhận thấy chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại là thương nhân, cụ thể hơn là các tổ chức kinh tế (được thành lập hợp pháp) và các cá nhân hoạt động thương mại có đăng ký kinh doanh1
Tuy nhiên, không phải tất cả các thương nhân đều được thực hiện khuyến mại Quy định tại Điều 91 Luật Thương mại 2005 đã giới hạn những thương nhân có quyền thực hiện khuyến mại bao gồm: thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân Việt Nam và chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam Đối với quyền thực hiện khuyến mại của thương nhân nước ngoài, hiện nay luật vẫn chưa có quy định cụ thể, mà chỉ mới nhắc đến chi nhánh thương nhân nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên về mặt câu chữ, có thể thấy pháp luật Việt Nam vẫn chưa xác định thương nhân nước ngoài là chủ thể thực hiện khuyến mại
3.2 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại
Đối với quyền
Điểu 95 Luật Thương mại xác định thương nhân thực hiện khuyến mại có 4 quyền cơ bản sau:
1Khoản 1, Điều 6, Luật Thương mại 2005.
Trang 5Thứ nhất, thương nhân được lựa chọn các nội dung về khuyến mại như hình thức,
thời gian, địa điểm khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại Điều này giúp các thương nhân được tự do, chủ động sáng tạo trong giới hạn cho phép của pháp luật, từ đó có thể đưa ra các phương án phù hợp với hoạt động kinh doanh, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận khách hàng và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng đối với sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp
Thứ hai, thương nhân được quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng được
hưởng, nhưng phải phù hợp với hạn mức tối đa được Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định đối với các đối tượng mà thương nhân được thực hiện trong hoạt động khuyến mại Có thể thấy, mặc dù là quyền, nhưng việc quy định các lợi ích cụ thể trong quy định này cũng mang tính nghĩa vụ tương đối Bởi bên cạnh việc quy định cụ thể các lợi ích giúp minh bạch, rõ ràng, đảm bảo được quyền lợi cho người tiêu dùng và thương nhân thực hiện khuyến mại, quy định này còn thể hiện tính nghĩa vụ ở việc phải phù hợp với hạn mức tối đa theo luật quy định
Thứ ba, thương nhân có thể thực hiện khuyến mại thông qua việc thuê thương
nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình Quyền này được xác định dựa trên việc tự do giao kết hợp đồng trong thương mại Giúp các thương nhân không thể tự mình thực hiện hoạt động khuyến mại,
do thiếu kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực có thể thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thay mình thực hiện khuyến mại để đạt được hiệu quả tốt nhất
Thứ tư, thương nhân được tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại theo quy
định tại Điều 92 Luật Thương mại 2005 và Nghị định số 81/2018/NĐ-CP Có nhiều cách thức khác nhau để thương nhân thực hiện khuyến mại Mỗi cách thức
sẽ có các nội dung, phương thức tổ chức, yêu cầu đặt ra khác nhau, điều này buộc thương nhân phải đánh giá được tình hình thực tế và điều kiện kinh doanh
để đưa ra cách thức khuyến mại phù hợp và đạt hiệu quả tốt nhất
Đối với nghĩa vụ
Điều 96 Luật Thương mại 2005 và Điều 16, Nghị định 81/2021/NĐ-CP đã quy định cụ thể về các nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại:
Trang 6Thứ nhất, khi thực hiện khuyến mại, thương nhân phải hoàn thành đầy đủ các
trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật
Thứ hai, thương nhân phải thông báo công khai các thông tin về hoạt động
khuyến mại Điều này giúp khách hàng được tiếp cận với sự kiện, nhanh chóng biết đến và hiểu rõ nội dung, từ đó có thể chủ động tham gia hoạt động nếu có nhu cầu
Thứ ba, thương nhân phải thực hiện đúng nội dung khuyến mại đã thông báo và
cam kết Đây là nghĩa vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện trách nhiệm của thương nhân trước khách hàng của mình Việc không thực hiện đúng với thông báo và cam kết ban đầu sẽ làm mất uy tín của thương nhân trong mắt người tiêu dùng, đồng thời gây ra những phản ứng gay gắt của khách hàng, làm mất trật tự
và ảnh hưởng tới lợi ích chung của xã hội
Thứ tư, đối với một số hình thức khuyến mại (được quy định tại Khoản 6 Điều 92
Luật Thương mại 2005) mà phần thưởng đạt được chủ yếu dựa vào tính may rủi
và sự may mắn, thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng Đây có thể được hiểu như là một phương thức đóng thuế đặc biệt
Thứ năm, trong trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân
kinh doanh dịch vụ khuyến mại, thương nhân phải tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận
đã ký kết trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại
Thứ sáu, thương nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và khách hàng về
chương trình khuyến mại và các hoạt động thuộc phạm vi hợp đồng dịch vụ khuyến mại
3.3 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại
Với mục đích đảm bảo hoạt động khuyến mại được kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế các hành vi lợi dụng khuyến mại để thu lợi bất chính và cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật đã quy định cụ thể một số nguyên tắc đối với họat động khuyến mại Theo đó việc thực hiện khuyến mại phải được tuân thủ theo những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 Nghị định số 81/2018/NĐ – CP sau đây:
Trang 7Hoạt động khuyến mại phải được thực hiện một cách hợp pháp, trung thực, minh bạch, công khai, đảm bảo không xâm hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân khác
Phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho việc nhận thưởng và giải quyết các vấn đề khiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại
Bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ liên quan đến chương trình khuyến mại
Không được đưa ra điều kiện khiến khách hàng phải từ bỏ hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác mới được hưởng khuyến mại
Không được tạo ra sự so sánh trực tiếp với tổ chức hoặc cá nhân khác với mục đích cạnh tranh không lành mạnh
Không được sử dụng kết quả xổ số làm căn cứ để xác định trúng thưởng trong khuyến mại
3.4 Các hình thức khuyến mại
Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 81/2018/NĐ-CP và Điều 92 Luật Thương mại năm 2005, khuyến mại bao gồm các hình thức sau:
Cung cấp hàng hóa, dịch vụ dùng thử không phải trả tiền
Đối với hình thức khuyến mại này, thương nhân sẽ để khách hàng dùng thử hàng mẫu và dịch vụ mẫu mà không phải trả tiền Hàng mẫu thường sẽ là các sản phẩm mới chuẩn bị đưa vào thị trường hoặc là các sản phẩm đã được cải tiến Với cách thức này thương nhân đã tạo kiện cho sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng tiếp cận một cách rộng rãi Bằng việc dùng sản phẩm để quảng cáo cho chính sản phẩm đó, đây có thể xem là cách quảng cao tốt, gây ấn tượng rất mạnh đối với khách hàng
Cung ứng dịch vụ, tặng hàng hóa không thu tiền (Tặng quà)
Đây là hình thức khuyến mại khá phổ biến, theo đó thương nhân sẽ dùng hàng hóa, dịch vụ làm quà tặng cho khách hàng mà không thu tiền Đối với hình thức này, thương có thể thực hiện một cách độc lập, riêng lẻ hoặc gắn với việc khách
Trang 8hàng có mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của thương nhân Tùy thuộc vào kế hoạch, mục tiêu chương trình khuyến mại thương nhân sẽ đưa ra lựa chọn cách thức phù hợp nhất
Giảm giá
Hình thức này được thực hiện bằng việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bình thường trước đó Đây được coi là hình thức khuyến mại phổ biến nhất và rất có hiệu quả trong việc tác động tới tâm lý khách hàng Nó có thể giúp thu hút sự chú ý của những khách hàng mới cũng như giữ chân, lôi kéo được những khách hàng cũ, qua đó nâng cao sức mua đối với sản phẩm Tuy nhiên, để ngăn chặn trường hợp thương nhân lạm dụng giảm giá với mục đích cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật cũng có những chế định ràng buộc nhất định về mức giảm giá tối đa (không vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó trước thời gian khuyến mại2) và tổng thời gian thực hiện giảm giá trong một năm đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ (không vượt quá 120 ngày3)
Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ
Đối với hình thức khuyến mại này, pháp luật đã quy định cụ thể tại Điều 11 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP Theo đó người mua được sử dụng phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ có mệnh giá cụ thể để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng Cũng như đối với giảm giá, giá trị tối đa của phiếu đi kèm không được vượt quá 50% tổng giá trị của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại
Tổ chức thi, trao thưởng
Khác với các hình thức khác, mang lại ngay lợi ích cho khách hàng, thì đối với hình thức khuyến mại này, việc có nhận được lợi ích hay không phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả dự thi của họ khi tham gia dự thi Thông qua hình thức này, thương nhân có thể đánh giá được đúng nhu cầu, mức độ quan tâm của của khác
2Điều 7 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến
thương mại.
3Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.
Trang 9hành đối với các sản phẩm của mình, từ đó đưa ra định hướng phát triển và chiến lược kinh doanh phù hợp
Khuyến mại mang tính may rủi
Đây là hình thức khuyến mại mà theo đó lợi ích mà khách hàng nhận được phụ thuộc chủ yếu vào kết quả của chương trình may rủi và sự may mắn của người tham gia Thường được thực hiện bằng các cách thức như: cào số trúng thưởng,
vé số dự thưởng, bốc thăm, Đây là một cách thức hay để tạo sức hấp dẫn đối với khách hàng, kích thích tâm lý muốn thử vận may của người tiêu dùng từ đó thu hút sự tham gia của những người này Tuy nhiên, hình thức khuyến mại này nếu không được quản lý một cách chặt chẽ sẽ rất dễ dẫn đến trình trạng bị lợi dụng với mục đích lừa dối khách hàng, qua mắt cơ quan nhà nước để trục lợi
Chương trình khách hàng thường xuyên
Chương trình khách hàng thường xuyên được tiến hành dựa trên số lượng hoặc giá trị hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đã mua thông qua các hình thức thẻ tích điểm, phiếu ghi nhận mua hàng, Với mục đích dành ưu đãi cho khách hàng dựa vào số lược hoặc trị giá mua hàng của họ Từ đó tạo động lực cho người tiêu dùng trung thành với sản phẩm hoặc với thương nhân mà họ đã chọn, đồng thời giúp thương nhân có thể ổn định, giữ vững được lượng khách hàng thân thiết của mình
Tổ chức các sự kiện, chương trình về văn hóa, nghệ thuật, giải trí
Đây là một hoạt động khuyến mại tương đối đặc biệt, vì nó không mang lại lợi ích vật chất cụ thể nào cho khác hàng mà chủ yếu cung cấp trên mặt tinh thần Việc tổ chức các chương trình này được thương nhân thực hiện với mục đích quảng bá sản phẩm, đưa hình ảnh của doanh nghiệp đến gần hơn với công chúng
và người tiêu dùng Pháp luật hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể về nội dung này, tuy nhiên chúng ta có thể tự hiểu rằng các hoạt động được tổ chức phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan và không được đi ngược lại với quy tắc đạo đức xã hội
Sử dụng internet, phương tiện, thiết bị điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện khuyến mại
Trang 10Cùng với sự ra đời và phát triển của các sàn thương mại điện tử, là sự phổ biến của các hoạt động khuyến mại trên những nền tảng này Ví dụ như Shopee, Lazada hay Tiki vào các dịp lễ đặc biệt thường có các chương trình khuyến mại: miễn phí vận chuyển, hoàn xu, mã giảm giá,…Bởi vì diễn ra trên môi trường internet nên các hoạt động này thường rất khó kiểm soát, quản lý, dễ xảy ra các sai phạm Do vậy pháp luật hiện nay đã quy định về nội dung này tại Điều 15 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, tuy nhiên những quy định này vẫn còn khá chung chung, về cơ bản vẫn chưa đạt được nhiều hiệu quả trên thực tế
3.5 Xử lý vi phạm
Việc xử lý vi phạm pháp luật về khuyến mại được thực hiện theo quy định của Luật Thương mại 2005 và Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động xúc tiến thương mại Theo đó, thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại nếu
vi phạm quy định về hoạt động khuyến mại, tuỳ theo mức độ sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
IV BẤT CẬP VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1 Bất cập
Nhìn chung, về cơ bản, các quy định pháp luật về khuyến mại đã phần nào thực hiện được nhiệm vụ của mình trong việc quản lý hoạt động khuyến mại Tuy nhiên, trên thực tế thi hành, các quy định này đã dần bộc lộ những bất cập, thể hiện tính hạn chế của một số điều luật, cụ thể:
Thứ nhất, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hai đối tượng quà tặng (trong trường
hợp tặng quà không qua hành vi mua bán) và hàng mẫu Bởi mục đích của hình thức khuyến mại khác nhau, cho nên việc phân biệt rõ ràng hai đối tượng này là rất quan trọng, hơn nữa nếu xác định sai đối tượng sẽ dẫn đến áp dụng sai luật, gây ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp mà các chủ thể pháp luật bảo vệ