1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP

197 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Tham Gia Của Doanh Nghiệp Việt Nam Vào Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu: Nghiên Cứu Trường Hợp Ngành Nông Nghiệp
Tác giả Phan Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, không chỉ bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu hiện có, Luận án “Sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu: nghiên cứu trường hợp ngành nông nghiệp” kỳ vọ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ THANH HUYỀN

SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO

CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ THANH HUYỀN

SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO

CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9310106.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Việt Khôi

HÀ NỘI - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Phan Thị Thanh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Việt Khôi - Thầy người đã luôn tận tình hướng dẫn, định hướng và cho tôi những đóng góp quý báu trong quá trình nghiên cứu Là một duyên may tôi đã gặp được thầy và tìm thấy ý tưởng nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình Đề tài nghiên cứu này đã giúp tôi mở ra một chân trời tri thức mới, nối tiếp niềm đam mê tìm hiểu của tôi trong lĩnh vực kinh tế và kinh doanh quốc tế

Trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia

Hà Nội đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập tuyệt vời, cởi mở và thân thiện Tôi đã được tiếp xúc với thầy giáo trưởng khoa rất hiền lành và đáng kính – thầy Hà Văn Hội cùng những thầy cô đầy lòng tốt và trí tuệ uyên bác của khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Khoảng thời gian học tập và nghiên cứu ở trường Đại học Kinh

tế - Đại học Quốc gia Hà Nội càng làm tôi cảm thấy may mắn bởi vì sự lựa chọn môi trường học tập ban đầu của mình là đúng đắn

Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến các doanh nghiệp

mà tôi đã có điều kiện gặp gỡ, phỏng vấn Cám ơn các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan của Bộ Kế hoạch và Đầu Tư, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp

Hà Nội đã đóng góp những thông tin vô cùng quý báu và những ý kiến xác đáng, để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi muốn dành lời cám ơn sâu sắc đến những người thân đã luôn ở cạnh, hỗ trợ tôi về công sức và tinh thần để tôi có thể đồng thời hoàn thành nhiệm vụ trong công tác lẫn học tập Cám ơn gia đình đã luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong chặng đường học tập đầy khó khăn và nhiều khi dễ nản lòng bởi những mờ mịt trong phương hướng nghiên cứu Cám ơn Mẹ, chồng và con gái của tôi!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ……… ….……… 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ……… … …… 7

1.1 Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu ……….…… ………… 7

1.1.1 Hai phương pháp tiếp cận phân tích chuỗi hàng hóa toàn cầu … … …….… 7

1.1.2 Các chủ đề nghiên cứu chính về chuỗi giá trị toàn cầu … ……….… … 8

1.2 Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ……… ……… 11

1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp……… 11

1.2.2 Nghiên cứu tác động của chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp… 14

1.3 Các công trình nghiên cứu về sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu … ……… 16

1.3.1 Nghiên cứu cách thức và mức độ doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ……… ……….… 16

1.3.2 Nghiên cứu lợi ích khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển ……… … 19

1.3.3 Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu ……… ……….…… ……….………… … … 21

1.3.4 Tổng hợp các phương pháp thu thập dữ liệu ở cấp độ doanh nghiệp ………… 24

1.4 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan và hướng nghiên cứu của luận án ……… … ……… … 26

1.4.1 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan ……….……….…… 26

1.4.2 Hướng nghiên cứu của luận án ……… ……… … …… 28

Kết luận chương 1 ……… ……….… …… 30

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA DN VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP … 31

2.1 Chuỗi giá trị toàn cầu ……… ……… 31

Trang 6

2.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu ………… ……….… 31

2.1.2 Quản trị chuỗi giá trị toàn cầu ………….……… … … 33

2.1.3 Nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu ………….……… ……… … 35

2.2 Chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ……… ……… 36

2.2.1 Khái niệm ngành nông nghiệp và chuỗi giá trị nông nghiệp ……… 36

2.2.2 Cấu trúc và chủ thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp……… 38

2.2.3 Đặc điểm về quản trị và nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu lĩnh vực nông nghiệp ……… ……….… …… 41

2.3 Sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu … ……….… … 46

2.3.1 Khái niệm sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ….……….……… 46

2.3.2 Vai trò chức năng của các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu … … 48

2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu ……… ……… ……… 50

2.4 Kinh nghiệm thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ……….……… ………… 54

2.4.1 Kinh nghiệm của Ấn Độ ……….……… ……….… … 54

2.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan ……….……….……… … 59

2.4.3 Bài học cho Việt Nam ……… 64

Kết luận chương 2 ……… ……… … 65

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……….… ….… 67

3.1 Cách tiếp cận và khung phân tích của Luận án ……….……… …… 67

3.2 Thiết kế nghiên cứu ……… …… 72

3.2.1 Thiết kế tổng thể nghiên cứu …… ……….… 72

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu ………… ……… … … 74

3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu ……… ……… 77

3.3.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp ………….……… … … 77

3.3.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp qua các cuộc phỏng vấn ……… ……….… 78

Kết luận chương 3 ……… ……….…… …… 85

Trang 7

CHƯƠNG 4: SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH NÔNG NGHIỆP

VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU … ……… ………….… 86

4.1 Cấu trúc thương mại nông nghiệp toàn cầu và sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam ……….… …… 86

4.1.1 Cấu trúc thương mại nông nghiệp toàn cầu ……… 86

4.1.2 Tình hình phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 … 89

4.1.3 Xu hướng hình thành các chuỗi giá trị nông sản hiện đại ở Việt Nam ……… 93

4.2 Thực trạng tham gia của các doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu ……… ……… 98

4.2.1 Tổng quan các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 ……….……… … 98

4.2.2 Phân tích các khía cạnh về sự tham gia của doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu ……….………… … 104

4.2.2.1 Phân tích với cơ sở dữ liệu ICIO ……… 104

4.2.2.2 Phân tích từ dữ liệu phỏng vấn doanh nghiệp ………… ……… 109

4.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu …….……….………… … 120

4.3.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp ……….…… … 121

4.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ……….…… 124

4.4 Tóm tắt các phát hiện chính và thảo luận ……… … 130

4.4.1 Các phát hiện chính ……… … 130

4.4.2 Thảo luận ……… 133

Kết luận chương 4 ……… …….…… 137

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ HÀM Ý NHẰM THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ……….…… 138

5.1 Thách thức trong phát triển ngành nông nghiệp thế giới và các chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ……… ………… … 138

5.1.1.Thách thức trong phát triển bền vững ngành nông nghiệp thế giới …….…… 138

5.1.2 Thách thức phát triển các chuỗi giá trị toàn cầu lĩnh vực nông nghiệp …… 141

Trang 8

5.2 Thuận lợi và khó khăn đối với DN Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị

toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ……… ……… … … 143

5.2.1 Thuận lợi ……… ……… … … 143

5.2.2 Khó khăn ……… ……… …… 147

5.3 Một số hàm ý về chiến lược và chính sách ……… ……… …… 151

5.3.1 Hàm ý cho doanh nghiệp ……… … …….… 152

5.3.2 Hàm ý cho Chính phủ ……….……… … … 160

Kết luận chương 5 ……….…….………… 170

KẾT LUẬN ……….…… …… … 171

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… ……… 173

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….….… 174 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á

2 APEC Asia-Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

4 DVA Domestics value added Giá trị gia tăng nội địa

5 FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

6 FAO The Food and Agriculture

Organization Tổ chức Nông lương Thế giới

7 FTAs Free Trade Agreements Các hiệp định thương mại tự

do

8 FDA Foreign origin Value Added Giá trị gia tăng nước ngoài

9 GCC Global Commodity Chain Chuỗi hàng hóa toàn cầu

10 GVC Global value chain Chuỗi giá trị toàn cầu

12 MNCs Multinational corporation Công ty đa quốc gia

14 OECD Organization for Economic

Cooperation & Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

15 R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển

16 SME Small and Medium Enterprise Doanh nghiệp có quy mô vừa

và nhỏ

17 WB World Bank Ngân hàng Thế giới

18 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế

giới

19 UN United Nations Liên hợp quốc

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 3.1 Ma trận đầu vào – đầu ra giữa các quốc gia 74

2 Bảng 3.2 Quy trình xem xét sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs

3 Bảng 4.1 Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông lâm thủy sản chủ lực

6 Bảng 4.4 Số doanh nghiệp NLTS đang hoạt động tại thời điểm 31/12

hàng năm trong giai đoạn 2008 – 2018 98

7 Bảng 4.5 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp NLTS đang hoạt

động tại thời điểm 31/12 hàng năm trong giai đoạn 2008 - 2018 99

8 Bảng 4.6 Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh

nghiệp NLTS đang hoạt động trong giai đoạn 2008 - 2018 100

9 Bảng 4.7 Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh

nghiệp NLTS tại thời điểm 31/12 hàng năm trong giai đoạn 2008 - 2018 101

10 Bảng 4.8.Chỉ số vị trí trong GVC của ngành nông nghiệp Việt Nam giai

13 Bảng 4.11 Thông tin DN và người tham gia phỏng vấn giai đoạn 2 120

14 Bảng 4.12 Tác động của các nhân tố đến sự tham gia của DN vào GVC 132

15 Bảng 5.2 Cam kết đối với một số mặt hàng nông sản xuất khẩu tiềm năng

của Việt Nam sang các đối tác chính trong CPTPP 144

16 Bảng 5.3 Hạn ngạch thuế quan của EU đối với một số mặt hàng nông

17 Bảng 5.4 Danh sách 39 chỉ dẫn địa lý được công nhận trong EVFTA 146

18 Bảng 5.5 Phân tích SWOT đối với DN Việt Nam khi tham gia vào GVC

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi 10

2 Sơ đồ 1.2 Sự chuyển dịch trong đường cong nụ cười 10

3 Sơ đồ 2.1 Các mô hình quản trị chuỗi giá trị toàn cầu 33

4 Sơ đồ 2.2 Phân loại chuỗi giá trị nông nghiệp 37

5 Sơ đồ 2.3 Các chủ thể trong chuỗi giá trị nông nghiệp và thực phẩm

6 Sơ đồ 2.4 Cấu trúc chuỗi giá trị ngành sữa ở Ấn Độ 58

7 Sơ đồ 2.5 Cấu trúc chuỗi giá trị ngành gạo ở Thái Lan 61

8 Sơ đồ 3.1 Khung phân tích sự tham gia của DN Việt Nam vào GVC 67

9 Sơ đồ 3.2 Phân tách thành phần tổng giá trị xuất khẩu 68

10 Sơ đồ 3.3 Mô tả cơ sở lý thuyết xây dựng khung phân tích sự tham gia

của DN Việt Nam vào GVC: trường hợp ngành nông nghiệp 72

11 Sơ đồ 4.1 Các công đoạn chức năng và chủ thể tham gia chính trong

các chuỗi giá trị nông sản ở Việt Nam 94

12 Sơ đồ 4.2 Vai trò của doanh nghiệp trong các chuỗi giá trị nông sản 95

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 4.1 Cấu trúc các mặt hàng nông sản xuất nhập khẩu giữa các

2 Biểu đồ 4.2 Dự báo diễn biến giá nông sản trên thị trường thế giới đến

5 Biểu đồ 4.5 Các doanh nghiệp NLTS phân theo loại hình sở hữu 102

6 Biểu đồ 4.6 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản

chủ lực theo loại hình doanh nghiệp năm 2018 102

7 Biểu đồ 4.7 Cơ cấu FVA & DVA trong tổng xuất khẩu nông nghiệp

của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015 105

8 Biểu đồ 4.8 Chỉ số tham gia vào GVC của ngành nông nghiệp Việt

9 Biểu đồ 4.9 Cơ cấu các thành phần DVA có trong tổng xuất khẩu nông

10 Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ các hình thức liên kết giữa DN với khách hàng trong

11 Biểu đồ 4.11 Thống kê thời gian trung bình DN liên kết với khách hàng

12 Biểu đồ 4.12 Tỷ lệ các hình thức liên kết giữa DN với nhà cung cấp

13 Biểu đồ 4.13 Thống kê những lợi ích DN đạt được từ việc tham gia vào

14 Biểu đồ 5.1 Nhu cầu thế giới đối với các mặt hàng nông sản chính tính

15 Biểu đồ 5.2 Các chứng nhận trong lĩnh vực nông nghiệp 149

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của luận án

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế làm gia tăng cạnh tranh ở cả thị trường trong nước lẫn quốc tế, đồng thời kích hoạt những mô hình kinh doanh toàn cầu mới, trong

đó có mô hình chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) Ban đầu, GVC chủ yếu được thúc đẩy bởi các công ty đa quốc gia (MNCs) để tìm kiếm hiệu quả sản xuất, mở rộng thị trường và quan hệ quốc tế Tuy nhiên gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy ý nghĩa quan trọng đặc biệt của GVC đối với các doanh nghiệp (DN) tại các quốc gia đang phát triển GVC bao gồm việc tách nhóm các nhiệm vụ và chức năng sản xuất, mở ra cơ hội cho các

DN ở các nước đang và kém phát triển tham gia vào nền kinh tế toàn cầu mà không cần phải phát triển một sản phẩm hoặc chuỗi giá trị hoàn chỉnh Trong quá trình đó, ngoài cơ hội tiếp cận thị trường thế giới, gia tăng lợi nhuận, các DN này còn có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp thu những kiến thức khoa học kỹ thuật từ các công

ty dẫn đầu chuỗi

Điều này giải thích tại sao trong hai thập kỷ qua thu hút các nhà sản xuất quốc tế

và đảm bảo sự tham gia của các DN trong nước vào GVC đã trở thành ưu tiên chính ở

các nước đang phát triển Thách thức đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách

không chỉ là làm thế nào để tăng cường liên kết giữa DN trong nước với GVC, mà quan trọng hơn là đảm bảo rằng quốc gia sở tại được hưởng lợi từ GVC và sự tham gia vào GVC sẽ mang lại lợi ích bao trùm hơn cho toàn xã Đây cũng là động lực chính của sự gia tăng số lượng các nghiên cứu về GVC ở các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, hạn chế trong thu thập dữ liệu ở cấp độ DN gây khó khăn trong việc nghiên cứu các chủ đề xoay quanh mối quan hệ giữa DN trong nước và GVCs Khung phân tích để tìm hiểu và đo lường sự tham gia vào GVCs của DN cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện DN địa phương hiện vẫn đang được xem là một “chiếc hộp đen” bí ẩn trong các tài liệu nghiên cứu về GVC (Holste, 2016)

Ngoài mục đích hoạch định chính sách, các nghiên cứu về sự tham gia của DN vào GVC ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra lời giải đáp cho cuộc tranh luận đang diễn ra gay gắt trong những năm gần đây về toàn cầu hóa và sự bất bình đẳng mà nó mang lại Cụ thể ở đây, các DN nhỏ ở

Trang 14

các quốc gia đang và kém phát triển là những người không được hưởng lợi nhiều từ các cơ hội mà toàn cầu hóa mang lại như các DN lớn Thậm chí, họ được cho là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi áp lực cạnh tranh từ hội nhập kinh tế Do hạn chế

về nguồn nhân lực, tài chính và năng lực công nghệ, SMEs đã không thành công trong việc xuất khẩu sản phẩm của mình và/hoặc nhập khẩu hàng hóa trung gian chất lượng cao Việc khám phá các lợi ích từ việc tham gia vào GVC đối với DN Việt Nam sẽ góp phần củng cố niềm tin vào quan điểm và định hướng hội nhập trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả Chính phủ, DN, lẫn người dân Việt Nam

Tuy nhiên, ở Việt Nam, số lượng các tài liệu nghiên cứu về sự tham gia của DN vào GVC còn rất khiên tốn, đặc biệt là những nghiên cứu khám phá chuyên sâu về nhân

tố cản trở và thúc đẩy quá trình hội nhập của DN vào GVC Một số ít công trình tương đối hoàn chỉnh có thể kể đến của các tác giả Nguyễn Hoàng Ánh (2008), Nguyễn Hữu Khải và nhóm cộng sự (2008), Đỗ Thị Đông (2011), Tô Linh Hương (2019) … Các kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tham gia vào các GVC, đặc biệt là thông qua đầu tư nước ngoài, đã giúp Việt Nam phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần vào việc tiến lên các nấc thang của chuỗi giá trị (Hollweg, Smith, và Taglioni 2017) Tất cả những điều này đã ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và đổi mới của DN Việt Nam Ngay cả các DN vừa và nhỏ (SMEs) cũng đang dần trở thành một phần trong GVCs thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp hoặc trở thành nhà cung cấp nội địa cho các

Trang 15

AEC, CPTPP… các DN nông lâm thủy sản Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức để hội nhập vào GVC Việc xem xét và đánh giá toàn diện mức độ tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

Như vậy, không chỉ bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu hiện có, Luận án “Sự

tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu: nghiên cứu trường hợp ngành nông nghiệp” kỳ vọng có thể đưa ra những đề xuất có ý nghĩa cho

cả phía DN lẫn Chính phủ nhằm thúc đẩy các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào GVC, thông qua đó đạt được mục tiêu phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp nước nhà

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án có ba mục tiêu chính: (1) Tìm hiểu sự tham gia của DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp; (2) Xác định nhân tố và ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia của DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp; (3) từ đó đề xuất một

số hàm ý chiến lược cho DN và hoạch định chính sách đối với Chính phủ

Để đạt được các mục tiêu trên, Luận án cần giải quyết lần lượt các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến GVC, GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp, và sự tham gia của DN vào GVC

- Tổng hợp cơ sở lý luận về GVC nói chung, đặc trưng của GVC trong lĩnh vực nông nghiệp, và cơ sở khoa học về sự tham gia của DN vào GVC;

- Tìm hiểu kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới thành công trong việc tích hợp DN địa phương vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Xác định khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và áp dụng để đánh giá mức độ tham gia của các DN Việt Nam vàoGVCs trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng và phân tích tác động của các nhân tố này đến sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Xác định cơ hội và thách thức mà DN Việt Nam phải đối mặt để tham gia vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Đưa ra các hàm ý cho Chính phủ và DN trên cơ sở bài học kinh nghiệm quốc tế, các nhân tố ảnh hưởng, cơ hội và thách thức và các kết quả nghiên cứu quan trọng khác

Trang 16

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể tập trung tìm hiểu các khía cạnh cách thức tham gia, mức độ tham gia, liên kết với đối tác trong chuỗi, lợi ích từ việc tham gia và nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của DN vào GVC

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Việc xác định phạm vi nội dung bắt đầu từ việc làm rõ phạm trù

ngành nông nghiệp và DN ngành nông nghiệp Căn cứ theo Quyết định số

27/2018/QĐ-TTg ngày 06/07/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, ngành nông nghiệp (Agriculture Sector) bao gồm các phân ngành sau: nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp và thủy sản Khi nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp không còn là các hộ nông dân sản xuất nhằm mục đích sinh tồn, tự cung tự cấp nữa; mà chủ yếu là các hộ nông dân sản xuất hàng hóa và các loại hình cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp – tức DN kinh doanh nông nghiệp.

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của Luận án là các DN kinh doanh nông nghiệp của Việt Nam (có thể gọi tắt là DN ngành nông nghiệp) Việc kinh doanh bao gồm tất cả các bước cần thiết để đưa một sản phẩm nông nghiệp ra thị trường: sản xuất, chế biến và phân phối Để rõ ràng hơn, Luận án sẽ tập trung chủ yếu vào tìm hiểu sự tham gia vào GVC của các DN nông lâm thủy sản Việt Nam Cần phải nhấn mạnh thêm rằng, 99% các DN nông lâm thủy sản ở Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, do đó tổng quan tài liệu nghiên cứu sẽ

hướng đến các tài liệu liên quan đến đối tượng là SMEs

Luận án vận dụng các phương pháp nghiên cứu sự tham gia của DN vào GVC để khám phá bản chất sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVC trong lĩnh vực nông nghiệp Các khía cạnh phân tích về sự tham gia của DN Việt Nam vào GVC bao gồm: cách thức tham gia, mức độ tham gia, động lực (lợi ích) tham gia và các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của DN vào GVC, được trình bày chi tiết trong khung phân tích

Phạm vi không gian: nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam với giới hạn là DN

và GVC trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 17

Phạm vi thời gian: 2008 – 2019 Mốc thời gian 2008 được chọn làm thời gian đầu

kỳ nghiên cứu vì đây là thời điểm bắt đầu phục hồi sau khủng hoảng, đồng thời với ảnh hưởng sau khi gia nhập WTO, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong nước hội nhập và tiếp cận thị trường thế giới Dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Trong đó, số liệu phục vụ cho tính toán các chỉ số tham gia vào GVC được lấy từ cơ sở dữ liệu TiVa giai đoạn 2008-2015; các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp khác được thu thập đến năm 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng thống kê thương mại truyền thống và cơ sở dữ liệu TiVa để đánh giá tổng quan sự tham gia của DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp; sau đó dữ liệu phỏng vấn DN được sử dụng để tìm hiểu các khía cạnh liên quan hiện tượng DN Việt Nam tham gia vào GVC trong lĩnh vực nông nghiệp

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn kết hợp đối chiếu dữ liệu thứ cấp liên quan để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và phân tích tác động của các nhân tố này đến sự tham gia của

DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Lưu ý, luận án đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích dữ liệu khác nhau như thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu bằng các công cụ trực quan bảng biểu, biểu đồ; phương pháp so sánh; mã hóa dữ liệu phỏng vấn

5 Các đóng góp của luận án

5.1 Về mặt lý luận

- Luận án đã hệ thống được các đặc điểm lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm các nội dung liên quan đến đối tượng tham gia và công đoạn trong chuỗi, các đặc trưng về quản trị và nâng cấp GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp

- Ngoài ra, Luận án cũng giới thiệu một khung phân tích và phương pháp tiếp cận đánh giá sự tham gia của DN vào GVC ở cả hai góc độ vĩ mô và vi mô, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

5.2 Về mặt thực tiễn

- Trên cơ sở kết hợp dữ liệu thống kê từ các nguồn thứ cấp và dữ liệu phỏng vấn doanh nghiệp, Luận án khám phá các khía cạnh liên quan đến hiện tượng DN Việt Nam tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này Có hai phát hiện chính: (1) DN Việt Nam hiện chủ yếu tham

Trang 18

gia vào GVC bằng cách xuất khẩu nguyên liệu nông nghiệp giá trị thấp cho các ngành chế biến nước ngoài; (2) Các nhân tố bên trong và bên ngoài DN hiện gây cản trở hơn là hỗ trợ DN tham gia một cách hiệu quả vào GVC trong lĩnh vực nông nghiệp

- Luận án rút ra bài học quan trọng từ kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan trong việc thúc đẩy sự tham gia vào các chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu, củng cố nhận định rằng thành công của các quốc gia này không chỉ dựa trên sự kết nối tuyệt vời giữa nông dân, DN, chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, mà còn bởi cam kết mạnh mẽ thúc đẩy

sự phát triển của ngành nông nghiệp của chính quyền

- Luận án đã chỉ ra được thuận lợi và khó khăn lớn nhất mà DN Việt Nam hiện phải đối mặt để tham gia vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp Trong bối cảnh các FTAs thế

hệ mới có hiệu lực, đáp ứng yêu cầu về các chứng nhận quốc tế, giải quyết bài toán chi phí thương mại và logistics sẽ quyết định cho thành công của các DN Việt Nam với vai trò là một phần của chuỗi giá trị toàn cầu

- Luận án đưa ra được một số giải pháp có ý nghĩa cho DN về chiến lược phát triển, đồng thời đề xuất định hướng chính sách cho Chính phủ nhằm thúc đẩy DN tham gian hiệu quả vào GVC trong lĩnh vực nông nghiệp Đối với DN, tầm nhìn dài hạn là tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm thông qua các chiến lược nâng cấp trong GVC Đối với chính phủ, các chính sách hỗ trợ nên hướng đến cải thiện năng lực cạnh tranh cho DN thay vì bóp méo thương mại Đặc biệt, Luận án nhấn mạnh rằng sự đổi mới trong tư duy cả DN lẫn các nhà hoạch định chính sách là mấu chốt để DN có thể chuyển đổi và tích hợp thành công vào các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu

6 Cấu trúc của Luận án

Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 5 chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn sự tham gia của DN vào chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Sự tham gia của doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương 5: Một số hàm ý nhằm thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu

1.1.1 Hai phương pháp tiếp cận phân tích chuỗi hàng hóa toàn cầu

Cho đến nay có hai luồng tài liệu nghiên cứu về chuỗi hàng hóa toàn cầu Nhóm thứ nhất là các tài liệu tiếng anh phân tích chuỗi hàng hóa toàn cầu (Global Commodity Chain - GCC) với các đại diện tiêu biểu là Gereffi, Korzeniewicz, Kaplinsky… Nhóm thứ hai là các tài liệu tiếng pháp với phương pháp phân tích “filière” được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu nông học quốc gia và Trung tâm hợp tác

quốc tế về nghiên cứu nông học của Pháp “Mặc dù cả hai phương pháp đều bao quát

cùng một lĩnh vực chung, tuy nhiên cách tiếp cận có sự khác biệt do nền tảng chính trị

và lý thuyết của các nhà nghiên cứu” (Raikes et al., 2000)

So sánh với Filière, phương pháp phân tích GCC của các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Chủ nghĩa tân tự do cung cấp một cách tiếp cận chặt chẽ hơn bởi nó nắm bắt được những thay đổi xuất hiện trong thời đại toàn cầu hóa Khởi đầu, phương pháp phân tích GCC chỉ được sử dụng để xem xét các chuỗi hàng hóa trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Những chuỗi này được nhìn thấy phát triển rộng rãi giai đoạn 1960-

1980 của thế kỷ XX dưới tác động của toàn cầu hóa Theo thời gian, cơ sở lý thuyết liên quan đến GCC được phát triển hoàn thiện thành phương pháp phân tích chuỗi giá trị toàn cầu với các nội dung chính như quyền lực và sự kiểm soát của công ty dẫn đầu, quản trị, nâng cấp, vai trò thay đổi của các quốc gia đang phát triển trong chuỗi, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cả lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ Gereffi và Korzeniewicz (1994), Kaplinsky (2000), Humphrey và Schmitz (2002)… đã áp dụng khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) để tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia khác nhau hội nhập vào nền kinh tế thế giới, cũng như đánh giá các yếu

tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu

Mặc dù Gereffi (1999, 2000, 2005), Kaplinsky và Morris (2001); Humphrey and Schmitz (2002) là những người có công đầu trong phát triển và hoàn thiện khung phân tích GVC; tuy nhiên, một trong những mô tả sớm nhất về GVC đã được phát biểu bởi Bruce Kogut (1985) Dựa trên ý tưởng “chuỗi giá trị” của Porter (1985, tr.74), Kogut

Trang 20

đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị gia tăng như sau: "Chuỗi giá trị gia tăng là quá trình kết hợp công nghệ với đầu vào vật chất và lao động, sau đó các đầu vào được lắp ráp, tiếp thị và phân phối Một công ty đơn lẻ chỉ có thể là một liên kết trong quá trình này, hoặc nó có thể được tích hợp theo chiều dọc một cách rộng rãi" (Kogut, 1985, pp.15) Kogut dẫn kinh nghiệm của các công ty ở Nhật Bản có xu hướng tiến tới hợp tác với các công ty bản địa ở các quốc gia mà nó đầu tư để mở rộng thị trường và tiết kiệm chi phí Kogut ứng dụng chuỗi giá trị gia tăng trong các nghiên cứu về chiến lược kinh doanh quốc tế, chủ yếu quyết định hoạt động nào được giữ lại trong công ty và hoạt động nào sẽ tiến hành thuê ngoài Ngày nay, trong các tài liệu nghiên cứu hiện đại, cách tiếp cận GVC trở nên phổ biến, cung cấp một cơ sở lý thuyết hữu ích để xem xét tác động của toàn cầu hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến cách thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh ở cả các quốc gia công nghiệp lẫn quốc gia đang phát triển trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau

1.1.2 Các chủ đề nghiên cứu chính về chuỗi giá trị toàn cầu

1.1.2.1 Quản trị

Quản trị là một trong những chủ đề trọng tâm trong các nghiên cứu GVC vào đầu những năm 2000 Gereffi là một trong những tác giả tiên phong và có các đóng góp quan trọng để xây dựng khung lý thuyết về quản trị GVC Nghiên cứu ban đầu của Gereffi (1999) nhấn mạnh hai loại hình quản trị: “chuỗi hàng hóa do người mua điều khiển” trong đó sự phối hợp (quản trị) được thực hiện bởi người mua toàn cầu, và

“chuỗi hàng hóa do nhà sản xuất điều khiển” trong đó nhà sản xuất là những người quyết định Chuỗi hàng hóa do người mua chi phối thường thấy ở trong các ngành như may mặc, da giày, đồ chơi… nơi mà vốn thương mại và các hoạt động marketing, thiết

kế đóng vai trò tạo ra lợi thế cạnh tranh cốt lõi cho sản phẩm Ngược lại, chuỗi hàng hóa do nhà sản xuất chi phối điển hình là các ngành công nghệ cao như ô tô, máy bay, điện tử… do các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) điều phối mạng lưới sản xuất dựa trên lợi thế về quy mô vốn công nghiệp Nhìn chung, các DN thống trị chuỗi sẽ xác định đặc tính chung của chuỗi và trở thành công ty dẫn đầu chịu trách nhiệm nâng cấp hoạt động trong từng mắt xích cũng như điều phối sự tương tác giữa các mắt xích Trong khi đó, các học giả khác như Humphrey và Schmitz (2000) phân biệt ba loại hình quản

Trang 21

trị: (1) mạng lưới (hợp tác công ty), (2) hệ thống bán phân cấp (từ trên xuống, nhưng độc lập về mặt pháp lý), (3) liên kết dọc (sở hữu trực tiếp)

Kế thừa kết quả nghiên cứu này, Gereffi, Humphrey và Sturgeon (2005) đã phát triển một mô hình mở rộng về quản trị trong GVC Căn cứ theo cấu trúc và mối liên kết giữa các bên tham gia trong GVC, mô hình này chỉ ra năm loại hình quản trị bao gồm: chuỗi thị trường, chuỗi mô-đun, chuỗi quan hệ, chuỗi phụ thuộc, chuỗi liên kết dọc Nếu như chuỗi phụ thuộc và chuỗi liên kết dọc chịu sự chi phối mạnh mẽ của nhu cầu người mua, thì chuỗi mô-đun và chuỗi quan hệ có sự liên kết chặt chẽ giữa công ty dẫn đầu và các doanh nghiệp tham gia ở các công đoạn trung gian Đóng góp quan trọng khác của Gereffivà nhóm cộng sự (2005) trong nghiên cứu này là chứng minh tính động của các cấu trúc quản trị Các cấu trúc quản trị GVC phát triển và thay đổi theo thời gian Chẳng hạn, hình thức quản trị có thể thay đổi khi một ngành công nghiệp phát triển; ngay cả trong một ngành, nó có thể thay đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác

1.1.2.2 Giá trị gia tăng và các công đoạn trong chuỗi

Stan Shih (1992), nhà sáng lập Acer, là người đầu tiên khám phá Mô hình nụ cười

– Smiling Curve để minh họa cho giá trị tăng thêm mà DN nhận được khi tham gia vào

các công đoạn khác nhau trong chuỗi giá trị của hãng Mô hình gồm hai trục, trong đó trục ngang bao gồm các hoạt động thượng nguồn (kỹ thuật và bản quyền), trung gian (chế tạo và lắp ráp), hạ nguồn (phân phối, thương hiệu và dịch vụ); trục dọc hiển thị giá trị gia tăng cao hoặc thấp cho các giai đoạn khác nhau Về sau ý tưởng này được

mở rộng bởi Mudambi (2008) trở thành mô hình xem xét giá trị gia tăng của các công đoạn trong GVCs

So với hoạt động sản xuất gia công, các hoạt động thượng nguồn và hạ nguồn sẽ

bổ sung giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm Chính vì thế, vấn đề quan trọng mà các

DN lớn phải đối mặt là quyết định hoạt động nào sẽ được giữ lại và hoạt động nào sẽ được thuê ngoài, bởi đóng góp giá trị gia tăng khác nhau sẽ đem về lợi nhuận khác nhau cho mỗi DN Thông thường, các hoạt động ở thượng nguồn và hạ nguồn đòi hỏi nguồn lực để phát triển, do đó được các công ty lớn hay MNCs đảm nhiệm Ngược lại,

Trang 22

hoạt động trung gian như lắp ráp và sản xuất bổ sung giá trị gia tăng thấp cho sản phẩm, chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp quy mô nhỏ

Sơ đồ 1.1 Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi

Nguồn: Location, Control & Innovation in Knowledge-intensive Industries, Mudambi, 2008

1.1.2.3 Nâng cấp

Trước thực tế ngày càng có nhiều nhà cung cấp địa phương ở các quốc gia đang phát triển có thể cải thiện năng lực của mình và tiến lên vị trí tốt hơn trong chuỗi giá trị, nâng cấp (upgrading) trở thành một phần quan trọng trong các nghiên cứu GVC Mudambi (2008) tiếp tục phát triển mô hình nụ cười để minh họa cho hiện tượng các DN tại các quốc gia mới nổi tiến lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong GVC

Sơ đồ 1.2 Sự chuyển dịch trong đường cong nụ cười

Nguồn: Location, Control & Innovation in Knowledge-intensive Industries, Mudambi, 2008

Theo Mudambi, các DN địa phương sau khi tham gia vào GVCs sẽ tiếp cận được nguồn lực và nâng cao năng lực thông qua tác động lan tỏa từ các DN ở thượng tầng trong GVCs, do đó họ có thể kiểm soát và tham gia vào các công đoạn có giá trị cao

Trang 23

hơn Hiện tượng này gọi là nâng cấp lên hoặc bắt kịp (catch–up), xảy ra khi DN chuyển dịch từ sản xuất hàng hóa hữu hình sang các tài sản vô hình

Kế thừa kết quả nghiên cứu của Porter (1985), Kaplinsky và Morris (2001), các tác giả Gualani, Pietrobelli và Rabellotti (2005) chỉ ra bốn kiểu nâng cấp điển hình trong GVCs theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp: 1) Nâng cấp quy trình; 2) Nâng cấp sản phẩm; 3) Nâng cấp chức năng; 4) Nâng cấp chuỗi liên kết Nhóm tác giả nhấn mạnh, DN sẽ phải đạt được nâng cấp trong quy trình và sản phẩm trước khi hướng đến nâng cấp chức năng hay chuỗi Trong đó, nâng cấp chức năng có thể có tác động lâu dài nhất đến khả năng cạnh tranh, vì nó làm tăng rào cản gia nhập cho các đối thủ khác Humphrey & Schmitz (2004) khẳng định, nâng cấp là cần thiết và tất yếu đối với các DN, vì ngày càng nhiều nhà sản xuất cạnh tranh ở các thị trường hàng hóa giá rẻ toàn cầu Trong một môi trường luôn thay đổi, các DN tại các quốc gia đang phát triển phải “thay đổi” hoặc “nâng cấp”, để tồn tại hoặc duy trì vị thế thuận lợi tương đối của

họ Nếu không nâng cấp, DN sẽ mất vị trí của mình trên thị trường và bị thay thế bởi đối thủ cạnh tranh từ quốc gia nơi mà chi phí sản xuất thấp hơn Điều này đòi hỏi các

DN địa phương phải phản ứng tích cực và kịp thời để phát triển trên thị trường và trong chuỗi giá trị

1.2 Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp

Như đã biết, ban đầu các nghiên cứu về GVC được phát triển bởi các nhà kinh tế học ở các quốc gia phát triển để phân tích xu hướng quốc tế hóa trong các ngành sản xuất công nghiệp, vốn được thúc đẩy bởi các nhà bán lẻ và MNCs để tạo ra các mạng lưới sản xuất, phân phối và tiếp thị toàn cầu Mặc dù đến nay cách tiếp cận phân tích GVC đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác bao gồm cả dịch vụ và nông nghiệp, song

“phần lớn các tài liệu GVC của các nước phát triển có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và điện tử”, và “ít chú ý” đến đối tượng nghiên cứu là ngành nông nghiệp (NZIER, 2016)

Trang 24

Nằm trong nỗ lực xác định khái niệm và đặc trưng của các chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu, Memedovic và Sheperd (2009) đã mô tả tương đối rõ ràng các hoạt động trong chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu Theo đó, các công đoạn sản xuất được chia làm ba nhóm: sản xuất trước trang trại, sản xuất tại trang trại và sản xuất sau trang trại Dọc theo chuỗi, nguyên liệu đầu vào được biến đổi để tạo ra các sản phẩm phục

vụ tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng (Austin, 1992) Các đối tượng tham gia sẽ bao gồm các công ty cung cấp đầu vào, nông dân, thương nhân, công ty thực phẩm và nhà bán lẻ, tất cả đều phải đáp ứng nhu cầu biến động của người tiêu dùng một cách bền vững (KPMG, 2013) Đồng quan điểm, OECD (2019) khi lập bản đồ GVCs nông nghiệp cũng mô tả hoạt động của các GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu từ công đoạn trồng trọt/chăn nuôi, đến chế biến, sản xuất và cuối cùng là bán lẻ

Theo Wang và Brown (2013), nông nghiệp cũng tương tự như trong các lĩnh vực khác, ngày càng được tổ chức theo mô hình GVC, với việc sản xuất thực phẩm diễn ra

ở nhiều quốc gia và tận dụng các đầu vào có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới Các khái niệm cơ bản trong phân tích GVC như “doanh nghiệp dẫn đầu” và “quản trị” được

sử dụng để tìm hiểu cấu trúc của các chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra đặc trưng quan trọng của các chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu được định hướng bởi người mua Gibbon và Ponte (2005) nhấn mạnh vai trò của cả thương nhân quốc tế và nhà chế biến hàng hóa trong thương mại hàng hóa nông sản Memedovic & Sheperd (2009) thậm chí kết luận rằng các GVC trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ không thể hình thành và phát triển nếu không có nỗ lực của các nhà bán buôn

và bán lẻ trong việc kết nối nhà sản xuất với người tiêu dùng trên thế giới

Nhiều bằng chứng cho thấy các mối quan hệ chuỗi giá trị nông nghiệp được chi phối bởi người mua, cụ thể người mua thực hiện và điều chỉnh phối hợp dọc giữa các thành viên tham gia trong chuỗi Trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, các công ty dẫn đầu đã đưa ra các đặc điểm liên quan đến sản xuất: bao gồm thúc đẩy sự khác biệt

và đổi mới sản phẩm, chuyển từ kiểm soát chất lượng, dựa trên cảm hứng và thử nghiệm theo hướng đảm bảo chất lượng dựa trên quản lý rủi ro và kiểm soát quy trình cùng với yêu cầu giao hàng đúng lúc (Nájera, 2017) Các nghiên cứu trước đó cũng đề cập đến các mối liên kết này như một “sự phối hợp theo chiều dọc” (Van Roekel et al., 2002;

Trang 25

Young và Hobbs, 2002) hoặc “chuỗi cung ứng” (WB, 2003, p 5) Tuy nhiên, có rất nhiều hình thức liên kết đáng kinh ngạc như vậy trong chuỗi giá trị kinh doanh nông sản, bao gồm các kế hoạch phát triển, hợp đồng, quản lý danh mục các nhà cung cấp, hợp đồng tiếp thị, v.v (Nájera, 2017)

Ngoài bốn loại hình nâng cấp phổ biến đã giới thiệu ở trên, các nghiên cứu về GVC trong lĩnh vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển đề cập đến những kiểu nâng cấp khác như nâng cấp cấu trúc mạng chuỗi giá trị, nâng cấp cấu trúc quản trị (Trienekens, 2011), hoặc nâng cấp bằng cách cải thiện mối quan hệ giữa các đối tác trong chuỗi giá trị nông nghiệp theo chiều ngang lẫn chiều dọc (Roy và Thorat, 2008), hoặc nâng cấp môi trường kinh doanh Theo Trienekens (2011), các hình thức nâng cấp quy trình, sản phẩm, chức năng và liên chuỗi đều liên quan đến đổi mới và sáng tạo để cung cấp các sản phẩm chất lượng hơn Do đó, bốn loại hình này đều được xếp chung vào nhóm nâng cấp giá trị gia tăng trong sản xuất (upgrading of value added production) Bên cạnh đó, Trienekens bổ sung thêm hai loại hình nâng cấp khác, bao gồm nâng cấp cấu trúc mạng lưới chuỗi giá trị (upgrading of value chain-network structure) và nâng cấp cấu trúc quản trị (upgrading of governance structures) Nâng cấp mạng lưới chuỗi giá trị tập trung vào việc tìm hiểu và thay đổi để tiếp cận đúng thị trường Thay vì phụ thuộc vào khách hàng hiện tại, thường là các nhà bán lẻ hoặc các ngành công nghiệp phương Tây để tiếp cận các thị trường khó tính như EU, các DN sản xuất nhỏ ở các quốc gia đang phát triển có thể gia nhập các kênh dẫn đến các thị trường dễ tính hơn (Trienekens, 2011, p 70) Nâng cấp cấu trúc quản trị tập trung vào lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với các đối tác chuỗi giá trị theo chiều ngang và chiều dọc

Trước đó, hai tác giả Roy và Thorat (2008) cũng đã đề cập đến loại hình nâng cấp trong chuỗi giá trị nông nghiệp thông qua tăng cường phối hợp theo chiều ngang hoặc chiều dọc Hợp tác với các đối tác theo chiều ngang có thể bao gồm việc mua chung nguyên liệu đầu vào sản xuất, sử dụng chung các cơ sở sản xuất và cùng tiếp thị sản phẩm Trong khi đó, nâng cấp theo chiều dọc nghĩa là thúc đẩy sự hợp tác của các bên trong chuỗi giá trị để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng sản phẩm và thông tin trôi chảy Các mối quan hệ kinh doanh được hỗ trợ bởi các thỏa thuận giữa các bên tham gia

Trang 26

thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc thỏa thuận miệng Theo đó, các nhà chế biến hoặc xuất khẩu có thể cung cấp các khoản đầu tư vào kho lạnh, hạt giống, thuốc trừ sâu, tín dụng cho nông dân/ nhà sản xuất nhỏ để đảm bảo nguồn cung, giảm sự không chắc chắn trong giao hàng, đồng thời tăng chất lượng, tính nhất quán của sản phẩm Tại Việt Nam các nghiên cứu về GVC trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ mới phổ biến trong khoảng mười năm lại đây, với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Bích Thủy (2015), Nguyễn Thị Thanh Hải (2015), Nguyễn Việt Khôi (2010-2017), Trần Tiến Khai (2011), Nguyễn Ngọc Lan (2018), Thẩm Bích Lộc, Trương Văn Khánh, (2011), Tô Linh Hương (2017) Các nhà nghiên cứu hướng đến chuỗi giá trị ở một số mặt hàng, sản phẩm nông nghiệp cụ thể như lúa gạo, dừa, sữa, chè… Điểm nhất quán

mà các nghiên cứu này chỉ ra là, mặc dù có thế mạnh về nông sản, song hầu hết nông sản của Việt Nam vẫn xuất khẩu dưới dạng thô hoặc với hàm lượng chế biến còn hạn chế, chất lượng và giá trị xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác Nhiều sản phẩm được bán ra thị trường thế giới không có thương hiệu, nhãn mác Đây là một bất lợi lớn, ảnh hưởng đến tiến trình tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp kinh doanh nông sản Việt Nam

Các nghiên cứu của Việt Nam thường kế thừa phương pháp luận từ các tài liệu nghiên cứu cùng chủ đề GVC đã tiến hành Về cơ bản kỹ thuật phân tích trong các tài liệu nghiên cứu đều đảm bảo các bước chính là sau: Thứ nhất, xây dựng sơ đồ hóa GVCs của ngành xác định rõ đối tượng tham gia và các hoạt động trong GVC Tiếp theo đó xác định sự phân phối lợi ích giữa các bên tham gia trong chuỗi, bao gồm phân tích các hoạt động mang lại giá trị gia tăng trong chuỗi, xác định ai là người được lợi

từ việc tham gia vào chuỗi và những đối tượng nào có thể hưởng lợi từ việc hỗ trợ hay

tổ chức sản xuất Thứ ba là nghiên cứu vai trò quản lý trong chuỗi, xác định cấu trúc quản trị và các mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi Cuối cùng là đánh giá khả năng nâng cấp của các đối tượng tham gia GVCs (Trần Tiến Khai, 2013)

1.2.2 Nghiên cứu tác động của các chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp

Nông nghiệp là lĩnh vực tương đối đặc thù bởi vai trò đa ngành của nó cả đối với nền kinh tế cũng như chính trị an ninh quốc phòng, và là công cụ quan trọng để phát

Trang 27

triển bền vững và xóa đói giảm nghèo Nông nghiệp đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của một quốc gia Như lập luận của Austin (1992), đầu tiên, ngành nông nghiệp là cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp của một quốc gia bởi vì đó là phương pháp chủ yếu để chuyển đổi các sản phẩm nông nghiệp thô thành thành phẩm để tiêu dùng Thứ hai, ngành nông nghiệp thường là ngành chủ đạo trong lĩnh vực sản xuất của một quốc gia đang phát triển Thứ ba, các sản phẩm nông-công nghiệp thường là mặt hàng xuất khẩu chính từ các nước đang phát triển – đây có lẽ là lý do tại sao các tài liệu nghiên cứu về GVC trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu đối tượng nghiên cứu

là các quốc gia có thu nhập thấp hoặc quốc gia đang phát triển Thứ tư, hệ thống thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng đối với sức khỏe của một dân số ngày càng tăng

Các nghiên cứu GVC trong lĩnh vực nông nghiệp thường được tiến hành song song việc xem xét mối liên kết của toàn cầu hóa và thay đổi trong thương mại nông sản toàn cầu với nguồn lực quốc gia, môi trường kinh doanh, lợi thế cạnh tranh quốc gia (Van Roekel và cộng sự, 2002; Humphrey và Memedovic, 2006; NZIER, 2016; Jane, 2017…), hoặc chú trọng vào các vấn đề mang tính xã hội như an ninh lương thực, sức khỏe (ILO, 2017), bình đẳng giới, giảm nghèo thông qua tích hợp các hộ nông dân nhỏ

lẻ vào GVCs (Nájera, 2016) Chẳng hạn, các nghiên cứu ở cấp độ trang trại hoặc chuỗi giá trị các sản phẩm riêng lẻ đã chỉ ra rằng sự tham gia của GVC trong các hoạt động nông sản thực phẩm có một số tác động lan tỏa về mặt cải thiện năng suất, tăng trưởng sản xuất và cải thiện sinh kế (Colen và cộng sự, 2012; Nájera, 2016) Tương tự, ở cấp

độ tổng hợp, có bằng chứng cho thấy rằng sự tham gia vào GVC là động lực chính thúc đẩy chuyển đổi kinh tế và tăng trưởng trong các lĩnh vực phi nông nghiệp (Jouanjean

và các cộng sự, 2017) và cho toàn bộ ngành (Lopez- Gonzalez, 2016; OECD, 2015a), với bằng chứng cho thấy các công việc liên quan đến GVC có mức năng suất cao hơn (Lopez-Gonzalez, 2016)

Nếu như trong các ngành sản xuất công nghiệp, việc tham gia vào GVCs mang lại lợi ích nhiều hơn là bất lợi cho hầu hết tất cả các thành viên trong chuỗi, thì điều này có vẻ không hoàn toàn đúng với các GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp Đặc trưng của ngành này là sự tham gia của một số lượng lớn các hộ nông dân và các công ty địa

Trang 28

phương có quy mô nhỏ Họ chỉ chuyên canh tác, hoặc chế biến thô sơ sản phẩm, thiếu kiến thức, kỹ năng và công nghệ Doanh thu chỉ thu được từ xuất khẩu nguyên liệu thay

vì từ giá trị gia tăng qua các công đoạn như xây dựng thương hiệu, tiếp thị, bán hàng, dịch vụ vốn đang được thực hiện bởi các nhà bán lẻ - người mua dẫn đầu chuỗi Thậm chí, theo quan điểm của Wang và Brown (2013), nông dân và các DN sản xuất “bị thiệt thòi khi tham gia vào GVCs nông sản và hiện đang bị gài bẫy - bán các sản phẩm và dịch vụ có kỹ năng thấp, giá trị thấp, ít có cơ hội tăng thị phần giá trị gia tăng trong thương mại toàn cầu” Tự do hóa thương mại, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của GVCs nông sản, nhưng đồng thời cũng gây áp lực lên những hộ nông dân và tiểu thương trong nước, khi hàng hóa nông sản chất lượng tốt hơn với mức giá rẻ hơn tràn vào thị trường trong nước, mà năng lực sản xuất nội địa lại quá yếu kém (Wang và Brown, 2013, tr 21) Quan điểm này khá cực đoan, tuy nhiên không thể phủ nhận thực

tế rằng các nhà sản xuất là người hưởng lợi ít nhất trong GVCs, bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp

1.3 Các công trình nghiên cứu về sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu

1.3.1 Nghiên cứu cách thức và mức độ doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trước hết, liên quan đến cách thức DN tham gia vào GVC, những nỗ lực nghiên cứu đầu tiên đã chỉ ra rằng, khả năng tham gia vào GVC của các DN ở các quốc gia rất

đa dạng và khác biệt, nhất là giữa nhóm công ty/ tập đoàn lớn với các DN có quy mô nhỏ Nhìn chung những hoạt động chính, đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và công nghệ thường được thực hiện bởi các DN lớn ở các quốc gia phát triển, trong khi đó DN quy

mô nhỏ hơn ở các quốc gia kém phát triển hơn có xu hướng đảm nhiệm những hoạt động bổ trợ, không đòi hỏi cao về nguồn lực (Virgina & Torben, 2016) Và do đó, các công ty này sẽ đóng góp giá trị gia tăng khác nhau cho sản phẩm Cụ thể, các hoạt động

ở hai đầu đường cong nụ cười, như R&D, thiết kế, tiếp thị, bán hàng, dịch vụ thường đem lại giá trị gia tăng cao hơn cho DN thực hiện nó, thay vì các hoạt động có giá trị gia tăng thấp ở phần giữa đồ thị, như sản xuất, gia công, lắp ráp (Stan Shih, 1992; Mudambi, 2008)

Trang 29

Trải qua hơn thập kỷ nghiên cứu, một loạt các báo cáo khoa học của UNCTAD - OECD (2008 - 2017) UN (2010), APEC (2014 - 2016), ADBI (2015 - 2020)… liên quan đến DN trong GVC cho thấy, dưới tác động của sự phân mảnh và chuyên môn hóa ngày càng rộng lớn của chuỗi sản xuất quốc tế, ngày càng nhiều DN ở các quốc gia đang phát triển tham gia vào nền kinh tế toàn cầu mà không cần phải phát triển một chuỗi giá trị hoàn chỉnh (OECD, 2014) Đối với các quốc gia mới nổi và đang phát triển, SMEs chiếm số lượng đông đảo Quá trình phân mảnh sản xuất đã tạo cơ hội cho các SME ở các nước đang phát triển tiếp cận thị trường toàn cầu với tư cách là nhà cung cấp linh kiện hoặc dịch vụ mà không cần phải xây dựng toàn bộ chuỗi giá trị của một sản phẩm Ngay cả khi họ không thể tham gia trực tiếp vào GVC, họ vẫn có thể hưởng lợi từ việc ký hợp đồng phụ cho các công ty lớn hơn hoặc các công ty nước ngoài (Dang 2019)

Đặc biệt, các báo cáo này cũng ghi nhận sự gia tăng số lượng SMEs tại các quốc gia đang phát triển tìm cách tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua hoạt động xuất khẩu hàng hóa, hoặc trở thành nhà cung cấp nguyên vật liệu, nhà thầu phụ hay gia công lắp ráp cho các công ty lớn dẫn đầu GVCs Về cơ bản, DN có thể tham gia vào GVC thông qua hai hình thức: (1) Xuất khẩu trực tiếp – bán hàng hóa trung gian cho các đối tác nước ngoài; (2) xuất khẩu gián tiếp – bán hàng hóa trung gian cho các DN lớn trong nước, MNCs xuất khẩu (González, 2017) Tuy nhiên, trong các chuỗi giá trị

do nhà sản xuất điều hành, do hạn chế về năng lực, hầu hết SMEs nội địa chỉ mới có thể tham gia ở vai trò nhà cung ứng cấp hai Đây là thực tế quan sát được từ ngành công nghiệp ô tô và điện tử ở Malaysia, Ấn Độ và Nam Phi

Tuy nhiên, cho đến nay cả khung lý thuyết và các thước đo thực nghiệm được phát triển chủ yếu để đánh giá mức độ tham gia vào GVC ở cấp quốc gia hoặc tốt nhất

là ở cấp ngành chứ không phải cấp công ty hay doanh nghiệp (Antràs, 2020) Phương pháp luận sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về sự tham gia vào GVC được

đề xuất bởi Koopman và một số nhà khoa học khác (Hummels et al., 2001; Wang et Al., 2013; Koopman et al., 2014; Borin và Mancini, 2016…) Theo đó, tổng dòng chảy thương mại được chia nhỏ thành các thành phần giá trị gia tăng theo nguồn gốc của nó Phương pháp luận này được kết hợp với sáng kiến xây dựng bộ dữ liệu đầu vào – đầu

Trang 30

ra toàn cầu (hay còn gọi là dữ liệu đầu vào đầu ra liên quốc gia – ICIO) để tính toán các chỉ số đo lường mức độ tham gia vào liên kết ngược (backward participation) và mức độ tham gia vào liên kết xuôi (forward participation) của một quốc gia/ngành kinh

tế vào GVC Với sự phổ biến và khả năng tiếp cận dễ dàng của cơ sở dữ liệu ICIO (tiêu biểu có Cơ sở dữ liệu thống kê giá trị gia tăng thương mại - TiVa cho 63 quốc gia; Cơ

sở dữ liệu đầu ra đầu vào thế giới - WIOT cho 43 quốc gia; và gần đây nhất là cơ sở

dữ liệu đầu vào - đầu ra đa vùng – MRIO, sau này được gọi là Eora, cho 189 quốc gia) phương pháp luận và các chỉ số tính toán này đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về GVC nói chung và đặc biệt là nghiên cứu đánh giá mức độ tham gia vào GVC ở cấp độ ngành/ quốc gia

Trên thực tế, không phải các quốc gia hay ngành kinh tế tham gia vào thương mại quốc tế, mà là chính là các DN Họ là tác nhân chính thực hiện các nhiệm vụ chức năng nhằm tạo ra giá trị cho sản phẩm trong GVC Tuy nhiên, cho đến nay, việc đo lường mức độ tham gia của các DN vào GVC vẫn còn nhiều khó khăn và đôi khi là bất khả thi Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu dữ liệu phân tích ở cấp độ DN Phương pháp tiếp cận phân tách nguồn gốc giá trị gia tăng trong tổng xuất khẩu và các chỉ số liên tính toán mức độ tham gia vào liên kết ngược và liên kết xuôi hoàn toàn có thể áp dựng để đánh giá mức độ tham gia của DN vào GVC nếu chúng ta có dữ liệu giao dịch thương mại ở cấp độ DN Chẳng hạn, González (2017) với bài viết nằm trong chuỗi Báo cáo khoa học của OECD, đã đề xuất phương pháp xác định cách thức SMEs trong các nền kinh tế ASEAN tham gia vào GVC bằng cách kết hợp dữ liệu cấp DN với cơ sở dữ liệu TiVA Việc hợp nhất dữ liệu cấp DN với TiVA cho phép tạo một bảng ICIO tăng cường

có thể được sử dụng để ước tính các chỉ số GVC xác định nguồn gốc của giá trị gia tăng trong xuất khẩu theo loại hình DN Sau đó áp dụng công thức tính toán các chỉ số tham gia đầu và cuối chuỗi như cách truyền thống, Gonzales (2017) đã có những phát hiện quan trọng về cách thức và mức độ các SMEs trong khu vực ASEAN tham gia vào GVC SMEs có xu hướng tham gia vào GVC thông qua xuất khẩu gián tiếp: bán các sản phẩm trung gian cho các DN nội địa hoặc các MNCs đang hoạt động trong lãnh thổ quốc gia để sau đó xuất khẩu Mức độ tham gia vào GVCs của SMEs có sự khác biệt rõ rệt so với DN lớn Thứ nhất, SMEs có xu hướng sử dụng ít giá trị gia tăng nước

Trang 31

ngoài hơn so với các DN lớn khi xuất khẩu – tức họ có tỷ lệ tham gia liên kết ngược thấp hơn Thứ hai, SMEs chuyên môn hóa hơn các DN lớn trong việc xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm trung gian được giao dịch trong GVC – tức họ có tỷ lệ tham gia về phía liên kết xuôi cao hơn

Như vậy, về mặt lý thuyết, để tính toán chỉ số tham gia vào liên kết ngược và liên kết xuôi của DN trong GVC cần xây dựng được ma trận giá trị gia tăng giữa các DN ở các ngành kinh tế của các quốc gia (tương tự ma trận ICIO) Điều này đòi hỏi thu thập

dữ liệu tối thiểu bao gồm tổng sản lượng và tỷ trọng nhập khẩu, xuất khẩu của các DN

Dữ liệu thống kê hiện tại không cung cấp đủ thông tin cần thiết bởi không phải quốc gia nào cũng thực hiện các thống kê về DN một cách đầy đủ, liên tục và đúng quy chuẩn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và quốc gia có thu nhập thấp Do đó, hai phương pháp đơn giản hơn được sử dụng trong các nghiên cứu là: (1) sử dụng cơ sở

dữ liệu khảo sát DN của Ngân hàng Thế giới (WB) phân loại cụ thể các DN xuất khẩu,

DN nhập khẩu và các DN vừa xuất khẩu và nhập khẩu để xác định tập hợp các DN ở một quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế Khi một DN ở một quốc gia nhất định vừa nhập khẩu vừa xuất khẩu, lẽ tự nhiên có thể kết luận rằng DN này tham gia vào GVC; (2) Cách thứ hai, sử dụng phương pháp điều tra khảo sát hoặc nghiên cứu tình huống điển hình để rút ra các kết luận về cách thức tham gia và mối liên kết giữa DN với các đối tác còn lại trong GVC (được trình bày cụ thể hơn ở phần 1.3.4)

1.3.2 Nghiên cứu lợi ích khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển

Khi xem xét các tài liệu nghiên cứu về DN trong GVC, chúng ta có thể thấy một

sự thay đổi lớn trong trọng tâm đối tượng nghiên cứu Trước đây, các học giả chủ yếu tập trung sự chú ý vào các DN dẫn đầu chuỗi (thường là các MNCs hoặc các công ty lớn) Điều này xuất phát từ thực tế rằng, GVCs được thúc đẩy bởi các MNCs nhằm tìm kiếm hiệu quả sản xuất, tận dụng nguồn lực bên ngoài, tăng cường tiếp thị và quan hệ quốc tế (Kaplinsky & Moris, 2002) Tuy nhiên, trải qua ba thập kỷ, ngày càng có nhiều

DN quy mô nhỏ ở các quốc gia đang phát triển hoặc có mức thu nhập thấp tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu, các nhà nghiên cứu bắt đầu hướng sự quan tâm của mình đến các DN có quy mô nhỏ hơn hoạt động trong chuỗi Kết quả, từ thập niên

Trang 32

90 đến nay chứng kiến sự gia tăng đáng kể về số lượng các nghiên cứu liên quan đến chủ đề sự tham gia của DN địa phương hoặc SMEs ở các quốc gia mới nổi và đang phát triển vào GVC (Jones và Kierzkowski, 1990; Arndt và Kierzkowski, 2001; Sturgeon và cộng sự, 2009; Edakkandi, 2012; Menaka và Ganeshan 2015; Holste, 2015; OECD, 2008 - 2017; ADB, 2015 - 2020…) Các công trình nghiên cứu thường tập trung vào một số khía cạnh chính như sau: (1) đánh giá tác động của GVC đến các

DN địa phương (hay lợi ích của DN khi tham gia vào GVC); (2) xác định cách thức và mức độ tham gia của DN trong GVC; (3) khám phá các nhân tố tác động đến sự tham gia của DN vào GVC

Sturgeon và cộng sự (2009) phân loại DN tham gia trong GVC thành hai nhóm chính: công ty dẫn đầu và nhà cung cấp Các công ty dẫn đầu tập trung vào phát triển sản phẩm và thương hiệu, tiếp thị, phân phối và đôi khi là sản xuất giai đoạn cuối, chẳng hạn như lắp ráp cuối cùng Các nhà cung cấp tập trung vào việc bán các sản phẩm và dịch vụ liên quan, nhiều trong số đó là kết quả của các hoạt động chuỗi giá trị

mà các công ty dẫn đầu đã quyết định thuê ngoài Các mạng lưới sản xuất này cho phép các nhà cung cấp tận dụng lợi thế của nền kinh tế về quy mô và phạm vi, đồng thời mang lại lợi ích tiết kiệm chi phí và tính linh hoạt cho các công ty dẫn đầu (Sturgeon

và cộng sự, 2009) Tuy nhiên, lợi ích được phân chia không đồng đều giữa các DN tham gia trong chuỗi Một số lập luận rằng lợi ích này chủ yếu tích lũy cho các công ty lớn hơn hoặc NMCs, trong khi SMEs vẫn đang phải đấu tranh để hưởng lợi từ các cơ hội do GVC mang lại (González, 2017)

Các nghiên cứu gần đây cung cấp nhiều bằng chứng rằng việc tham gia thành công vào các GVC có thể mang lại sự phát triển ổn định cho các DN ở các quốc gia đang phát triển hoặc quốc gia có thu nhập thấp Thứ nhất, các công ty nhỏ có thể duy trì được giá trị chuỗi mặc dù cạnh tranh toàn cầu ngày càng khắc nghiệt Thứ hai, các

DN trong nước có cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh nhờ việc hưởng các đơn đặt hàng thường xuyên, từ đó, cho phép họ tích lũy vốn và có thể mở rộng (Gereffi, 1999) Thứ ba, GVC giúp các công ty nhỏ ở các quốc gia đang phát triển học hỏi kiến thức, tiếp nhận công nghệ và đổi mới từ đó cải thiện hiệu suất (Hausmann, 2014)

Trang 33

Trong nhiều ngành kinh tế, mối liên kết với các DN từ các nước công nghiệp hóa trong GVC đã đem lại những chuyển biến tích cực cho các DN ở các quốc gia đang phát triển Cụ thể, các mối quan hệ hợp tác sâu rộng giữa các công ty tạo điều kiện thúc đẩy quá trình: chia sẻ kiến thức, công nghệ và đầu vào (Storper, 1997); phát triển đáp ứng tốt hơn nhu cầu toàn cầu (Canina, et al., 2005); đạt được mức xuất khẩu lớn hơn nhờ hiệu quả tập thể (Schmitz, 1995) cũng như nâng cao tính cạnh tranh Menaka và Ganeshan (2015) khi tiến hành khảo sát 234 nhà xuất nhập khẩu – chủ yếu là SMEs của Malaysia hoạt động trong lĩnh vực dệt may, thức ăn, đồ uống, gỗ và sản phẩm gỗ, điện tử và linh kiện, phụ tùng ô tô, đã chỉ ra rằng sự phát triển mạnh mẽ của các công

ty ở các quốc gia đang phát triển Châu Á là nhờ tham gia vào GVCs và các hiệp định thương mại tự do (FTAs)

Bên cạnh đó, tác động hai chiều của GVC đến các DN trong nước cũng đã được phân tích DN trong nước có thể có được cả công nghệ và kỹ năng quản lý khi họ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu do các DN nước ngoài phát triển, góp phần nâng cao năng suất và khả năng tiếp cận thị trường mới cho DN Đồng thời, sự hội nhập của nền kinh

tế vào GVC có thể khiến các DN trong nước phải cạnh tranh với các sản phẩm thay thế nhập khẩu do các công ty nước ngoài sản xuất (Dang 2019) Tất cả những điều này đồng thời buộc các DN trong nước phải đổi mới và nâng cấp công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh và giảm chi phí sản xuất

Ở một góc độ phân tích khác, Rigo (2017) thực hiện khảo sát các DN từ 24 quốc gia đang phát triển cho thấy rằng chính sự tham gia vào GVC dẫn đến việc các DN địa phương có thể sở hữu chứng nhận chất lượng và công nghệ được cấp phép của nước ngoài Phát hiện này khá thú vị bởi ngay từ đầu, để có thể tham gia vào GVC, DN cần phải sở hữu các chứng nhận nhất định về chất lượng và kỹ thuật Tuy vậy, một lần nữa

nó khẳng định mối quan hệ hữu cơ có tác động qua lại giữa DN địa phương và GVC

1.3.3 Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của DN vào GVC đã được xem xét ở cả cấp

độ vĩ mô và vi mô Các kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến từng nhóm DN trong các lĩnh vực kinh tế ở các quốc gia và khu vực rất khác nhau

Trang 34

Chẳng hạn, Orlic (2016) nhận thấy rằng đối với các DN ở các quốc gia Trung Đông và Đông Nam Âu (CESEE), lợi thế theo quy mô và chi phí cố định cùng với việc sở hữu chứng chỉ tiêu chuẩn ngành và khả năng tiếp cận tín dụng là những yếu tố quan trọng Đặc biệt, Orlic phát hiện năng suất là một yếu tố có ý nghĩa đối với các DN quy mô nhỏ, nhưng không có tác động nhiều đến khả năng tham gia GVC của các DN có quy mô vừa và lớn Đối với các công ty lớn, đầu tư cho R&D là yếu tố cần thiết để có thể tham gia vào những khâu đem về giá trị gia tăng cao trong GVC

Khi áp dụng cách tiếp cận cấp DN, người ta cũng có thể phân biệt GVCs thành hai loại: (1) GVC được tổ chức bởi một công ty dẫn đầu, công ty này phải chịu phần lớn chi phí cố định liên quan đến việc thiết lập mạng lưới các nhà sản xuất trong một quy trình sản xuất nhất định; (2) GVC phi tập trung hơn, với các nhà sản xuất riêng lẻ phải chịu chi phí

để thiết lập các liên kết thượng nguồn và hạ nguồn từ họ (xem Bernard, Moxnes và Ulltveit-Moe, 2018, Antràs và de Gortari, 2020)

Đối với các nghiên cứu đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào GVC của các DN ở các quốc gia thuộc khu vực Châu Á, đặc biệt là ASEAN, Harvie, Narjoko, & Oum, (2010) là những nhà nghiên cứu tiên phong, tập trung sự chú ý vào SMEs Sử dụng các kết quả thu được từ cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á, nhóm tác giả thực hiện một phân tích kinh tế lượng để đánh giá thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của SME ở hầu hết các nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Campuchia, Lào) và Trung Quốc vào mạng lưới sản xuất toàn cầu Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, nỗ lực đổi mới công nghệ, kinh nghiệm/ thái độ quản lý là những yếu tố cơ bản quyết định khả năng tham gia vào GVC của DN Quy mô DN không phải là yếu tố quan trọng quyết định việc tham gia GVC của SME ở các quốc gia này, nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng nâng cấp vị trí của họ trong GVC

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu sau đó, Wignaraja, (2015) đưa ra luận điểm trái ngược, Sử dụng dữ liệu sử dụng dữ liệu khảo sát DN của WB, Wignaraja chứng minh quy

mô DN là yếu tố quyết định đáng kể trong việc xác định xác suất tham gia vào GVC ở năm nền kinh tế Đông Nam Á, bao gồm Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Việt Nam Lập luận mà ông đưa ra là quy mô của các DN liên quan trực tiếp đến khả năng

Trang 35

và hiệu quả trong đầu tư xây dựng, đổi mới công nghệ, tiếp cận tín dụng – là những yếu tố góp phần nâng cao xác suất tham gia vào GVC của DN

Đồng quan điểm với Wignaraja, Antràs và các cộng sự (2017) nhấn mạnh rằng với

sự hiện diện của chi phí cố định khi tham gia vào nguồn cung ứng toàn cầu (tức là nhập khẩu các đầu vào trung gian) đòi hỏi các nhà nhập khẩu phải đạt được quy mô sản xuất hiệu quả tối thiểu, với các DN nhỏ hơn và kém năng suất một ngành đang bị loại khỏi sự tham gia của GVC González (2017) bổ sung thêm lý do mà năng suất của SMEs thấp hơn

so với các DN lớn là bởi những hạn chế liên quan đến quy mô nhỏ, thiếu kinh nghiệm và khả năng tiếp cận thông tin, tài chính để đầu tư phát triển kỹ năng và công nghệ mới Do

đó, mặc dù chiếm đến 92-99% tổng số DN ở các quốc gia Đông Nam Á, sử dụng phần lớn lực lượng lao động trong nước (58-91%), nhưng SMEs chỉ chiếm khoảng một phần ba tổng giá trị gia tăng hoặc xuất khẩu (González, 2017)

Đối với Holste (2015), chìa khóa dẫn đến sự thành công của DN trong nước khi tham gia vào GVC chủ yếu nằm ở chính DN, đặc biệt phụ thuộc vào tư duy và quyết định của người đứng đầu DN Trong các tài liệu nghiên cứu GVC hiện hành, đa số các nhà khoa học chỉ mới chú trọng đến các yếu tố ngoại sinh cản trở sự tham gia và nâng cấp của DN địa phương trong GVCs, mà chưa quan tâm đến các yếu tố nội sinh bên trong chính DN Trong khi đó, việc tham gia và nâng cấp vị thế của các doanh nghiệp địa phương trong GVCs chịu tác động rất lớn từ những quyết định, hành động và tầm nhìn phát triển của chính DN đó (Holste, 2015)

Đóng góp về mặt tổng quát nhất phải kể đến các báo cáo khoa học được tiến hành bởi ADBI (2015, 2020) trong việc hệ thống hóa và đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia của SMEs ở các quốc gia ASEAN Bài viết mới nhất trong chuỗi báo cáo khoa học này là “The Determinants of Participation in Global Value Chains: A Cross-Country, Firm-Level Analysis”, Urata và Baek (2020) đã chỉ ra bảy nhân tố thuộc về đặc điểm DN và năm nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô của quốc gia có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng tham gia vào GVC của DN Tài liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng giả thuyết và cơ sở cho các nghiên cứu cùng lĩnh vực về sau

Khi xem xét tác động của các nhân tố đến sự tham gia vào các GVCs ngành nông nghiệp ở các quốc gia, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận với quan điểm cho rằng chính

Trang 36

sách và thương mại tự do là những nhân tố có tác động trực tiếp nhất (Jean và cộng sự, 2017) Các chuỗi giá trị thực phẩm nông nghiệp được cho là rất dễ bị tổn thương bởi tác động của thuế quan và bảo hộ phi thuế quan, mặc dù nông nghiệp vẫn đang là lĩnh vực được bảo hộ nhiều nhất ở cả các nước phát triển và đang phát triển (Memedovic và cộng

sự, 2009, tr 24)

Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, Greenvile và các cộng sự (2017) sử dụng

cơ sở dữ liệu mới được phát triển về giá trị gia tăng thương mại cho 20 lĩnh vực nông sản thực phẩm có được từ cơ sở dữ liệu Dự án phân tích thương mại toàn cầu (GTAP) để khám phá những lợi ích của việc tham gia GVC Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt đáng kể về sự tham gia của GVC trong các lĩnh vực nông sản, không chỉ do đặc điểm sản phẩm mà còn bởi các yếu tố chính sách liên quan đến thương mại và đầu tư, môi trường Nghiên cứu cho thấy đối với các ngành thực phẩm nông nghiệp, các rào cản thương mại làm giảm đáng kể giá trị gia tăng trong nước được tạo ra từ việc tham gia vào các GVC nông sản (Greenvile và các cộng sự, 2017)

Tại Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về sự tham gia vào GVC của DN vẫn còn khá khiêm tốn, đặc biệt là những nghiên cứu về sự tham gia của DN vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp Một số ít những nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh có thể kể đến là hai

đề án cấp Bộ được thực hiện bởi trường Đại học Ngoại thương và Bộ Công Thương, một luận án tiến sĩ của Đại học Kinh tế Quốc dân Các nghiên cứu này đều chỉ mới dừng lại ở mức độ xem xét cấu trúc GVCs và sự tham gia của các doanh nghiệp vào GVCs ở các ngành tiêu biểu như điện tử (Nguyễn Hoàng Ánh, 2008), da giày (Nguyễn Hữu Khải và nhóm tác giả, 2008), và dệt may (Nguyễn Thị Đông, 2011) chứ chưa có những đánh giá chuyên sâu về lợi ích, rào cản hay nhân tố thúc đẩy quá trình hội nhập của các doanh nghiệp địa phương vào GVCs Nhìn chung, các tác giả đều nhất trí với quan điểm rằng: việc tăng cường sự tham gia của các DN Việt Nam trong GVCs là tối cần thiết để đảm bảo

sự phát triển bền vững cho các DN trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, do đó cần có những giải pháp để thúc đẩy quá trình này từ phía DN lẫn chính phủ

1.3.4 Tổng hợp các phương pháp thu thập dữ liệu ở cấp độ doanh nghiệp

Một trong những đóng góp đáng kể làm rõ ràng phương pháp thu thập dữ liệu ở cấp độ DN là của Kaplinsky và Morris (2002) Hai tác giả đã giới thiệu một quy trình

Trang 37

hướng dẫn chi tiết và đầy đủ về việc thu thập dữ liệu thứ cấp cũng như sơ cấp theo từng nội dung nghiên cứu cụ thể liên quan đến SMEs và GVCs trong cuốn “Handbook for value chain research” Nhìn chung, dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng trong các nghiên cứu về DN và GVC Nguồn dữ liệu thứ cấp thường được thu thập từ các báo cáo, điều tra khảo sát của các tổ chức uy tín như WB, các hiệp hội DN, cơ quan bộ ban ngành của chính phủ Tuy nhiên, trong trường hợp cần tìm hiểu các vấn đề phức tạp hơn, chẳng hạn như rào cản các DN địa phương tham gia vào GVCs, động lực hoặc lợi ích mà DN đạt được khi tham gia vào GVCs, ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào GVCs… các nhà nghiên cứu thường tiến hành điều tra, khảo sát và phỏng vấn các DN cụ thể để thu thập dữ liệu sơ cấp Số lượng quy

mô mẫu điều tra trong các nghiên cứu khá phong phú, tùy thuộc vào quy mô dự án (ví

dụ, OECD, 2008; ADB, 2015; Holste, 2015…)

Điển hình của một trong những dự án nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn để thu thập dữ liệu với quy mô lớn được tiến hành bởi OECD năm 2008 trên 17 quốc gia thuộc nhóm G20 Nghiên cứu “Tăng cường vai trò của SMEs trong GVCs”,

đã sử dụng phương pháp phỏng vấn có cấu trúc với một số doanh nghiệp lớn dẫn đầu các chuỗi để xem xét ảnh hưởng của toàn cầu hóa và các doanh nghiệp lớn đến vai trò của SMEs là các nhà cung cấp/nhà thầu phụ trong các GVCs thuộc năm ngành công nghiệp và dịch vụ khác nhau Đồng thời, nghiên cứu này cũng thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc dựa trên bảng hỏi với các nhóm SMEs được lựa chọn trong từng ngành ở từng quốc gia nhằm khám phá cơ hội và thách thức mà các SMEs phải đối mặt khi tham gia vào các GVCs, từ đó đề xuất chính sách hỗ trợ Số lượng SMEs lấy mẫu nghiên cứu từ vài chục đến vài trăm, trong đó mức trung bình ghi nhận mỗi ngành khoảng 20 mẫu Trong khi đó, dự án của ADB có quy mô nhỏ hơn, chỉ tiến hành ở bốn quốc gia Kazakhstan, Papua New Guinea, Philippines và Sri Lanka Ban đầu, ADB thu thập dữ liệu khảo sát các SMEs bằng cách phỏng vấn hoặc sử dụng bảng câu hỏi, chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan quản lý ở bốn quốc gia Tuy nhiên, do tỷ lệ trả lời thấp hơn mong đợi, ADB phải làm đơn giản hóa bảng câu hỏi ban đầu và tiến hành khảo sát trực tuyến qua email dưới sự hỗ trợ của các cơ quan đối tác Có 194 SMEs hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp, khai thác, chế biến thực phẩm, phụ tùng ô

Trang 38

tô, điện tử, hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ, cơ khí, hóa chất, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, viễn thông, bán buôn và bán lẻ, bất động sản cho đến dịch vụ phát triển kinh doanh, dịch vụ tài chính, du lịch… đã tham gia khảo sát này (chủ yếu ở hai quốc gia Kazakhstan và Philippines)

Có thể thấy, phương pháp quy nạp dựa trên nghiên cứu tình huống điển hình (case study hoặc stylized facts) để rút ra các nhận định, giả thuyết được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm Thông thường, các học giả chỉ quan sát khoảng 7-10 trường hợp điển hình để phác thảo mô hình DN tham gia vào GVCs trong các ngành Điều này có thể lý giải do hiện nay chưa có một khung lý thuyết hoàn chỉnh nào để đánh giá sự tham gia của SMEs vào GVCs Chẳng hạn, Davide và nhóm cộng

sự (2015) đã phát triển một công thức từ quan sát thực nghiệm một số doanh nghiệp ngành may mặc và ô tô để đo lường tác động của các nhân tố như mối liên kết quốc tế đến hiệu suất của các SMEs Nam Phi trong GVCs

Gần đây nhất, trong một nghiên cứu khá nổi bật, Jan Hauke Holste (2015) gọi phương pháp phân tích của mình là “bán lý thuyết” (semi-grounded theory) Dựa trên giả định rằng các DN địa phương đều có mong muốn nâng cấp và đổi mới để tăng hiệu suất hoạt động kinh doanh của mình, Holste đưa phạm vi nghiên cứu về cấp độ DN và

áp dụng lý thuyết mô hình kinh doanh để xem xét các yếu tố cho phép các công ty địa phương nâng cấp vị thế của họ trong GVCs Cụ thể, khi phỏng vấn sâu 08 DN may mặc và máy tính/công nghệ thông tin của Đài Loan, trên cơ sở mô hình kinh doanh canvas, Holste thiết kế bảng hỏi tập trung vào chín yếu tố trụ cột tạo nên tổ chức của một DN, từ đó khám phá các nhân tố bên trong và bên ngoài, hoặc các quyết định có thể tác động đến vị thế cũng như sự thành công của công ty địa phương trong GVCs

1.4 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan và hướng nghiên cứu của Luận án

1.4.1 Đánh giá các công trình nghiên cứu đã tổng quan

Sau khi xem xét toàn diện các nghiên cứu trong phạm vi đề tài, tác giả rút ra một

số nhận định sau:

Thứ nhất, về phương pháp tiếp cận phân tích, hiện có hai luồng tài liệu nghiên cứu về chuỗi hàng hóa toàn cầu với hai phương pháp tiếp cận phân tích khác nhau, bao

Trang 39

gồm phương pháp phân tích chuỗi giá trị toàn cầu trong các tài liệu nghiên cứu kinh doanh quốc tế bằng tiếng Anh; và phương pháp phân tích “filière” trong các tài liệu nghiên cứu bằng tiếng Pháp Xét về mặt chuẩn tắc, phương pháp tiếp cận phân tích GVC đưa ra được khung lý thuyết tương đối hoàn thiện so với phương pháp “filière” Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu, các nghiên cứu GVC có xu hướng mở rộng từ lĩnh vực công nghiệp sản xuất sang cả các lĩnh vực như nông nghiệp và dịch vụ Không

có gì khó hiểu khi các tài liệu GVC sớm quan tâm đến các lĩnh vực sản xuất như hàng may mặc và điện tử vì họ là đại diện đầu tiên của mô hình kinh doanh toàn cầu này Tuy nhiên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế và tác động của toàn cầu hóa đến mọi mặt đời sống, các chuỗi kinh doanh nông nghiệp ngày càng được tổ chức xung quanh mô hình GVC Tuy nhiên, GVC trong lĩnh vực nông nghiệp có những đặc trưng riêng, tương đối khác biệt so với các GVCs trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp

Thứ ba, về quan điểm nghiên cứu, các học giả đều thống nhất với nhau về vai trò tích cực cũng như tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự tham gia của các DN địa phương vào GVCs GVCs đã và đang góp phần đáng kể trong việc gia tăng năng suất và thu nhập cho các doanh nghiệp ở cả các nước phát triển và đang phát triển GVCs đặc biệt càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp địa phương tại các quốc gia đang phát triển Nhờ sự phân tán quốc tế về sản xuất thành các nhiệm vụ đơn lẻ mà nhiều doanh nghiệp địa phương đã có thể tham gia vào GVCs, bằng cách góp phần vào một hay nhiều công đoạn phối hợp để tạo ra sản phẩm cuối cùng Trở thành một phần trong GVCs còn giúp DN địa phương tiếp cận với thị trường, đổi mới và tiến bộ khoa học kỹ thuật từ nước ngoài Chính vì vậy, đảm bảo môi trường thuận lợi, tạo điều kiện cho các

DN địa phương tham gia hiệu quả vào GVCs là nhiệm vụ quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở hầu hết các quốc gia

Thứ tư, về đối tượng nghiên cứu, các học giả gần đây đã thay đổi trọng tâm từ các công ty lớn dẫn đầu chuỗi, các tập đoàn đa quốc gia sang các công ty địa phương

có quy mô nhỏ hơn Đặc biệt đối với các nghiên cứu GVC trong lĩnh vực nông nghiệp, đối tượng được chú ý nhiều nhất chính là các hộ nông dân và các DN phương quy mô nhỏ hoạt động trong GVCs cũng như khả năng nâng cấp của họ trong GVC (Wang và

Trang 40

Brown, 2013; Nájera, 2017) Điều này trái ngược với xu hướng tập trung vào các DN dẫn đầu và vấn đề quản trị trong các tài liệu nghiên cứu GVC nói chung Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu kêu gọi sự hỗ trợ của các bên liên quan, bao gồm chính phủ,

DN dẫn đầu, dành cho các đối tượng dễ tổn thương nói trên thông qua các biện pháp như hỗ trợ tài chính, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật

Một phát hiện quan trọng trong các nghiên cứu về sự tham gia của DN địa phương vào GVCs là mức độ tham gia vào GVCs của các DN ở các quốc gia khác nhau thường không đồng nhất, ngay cả trên cùng lãnh thổ một quốc gia mức độ tham gia này cũng khác nhau đối với những nhóm DN ở các ngành nghề và lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, việc đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia của DN địa phương vào GVCs tương đối phức tạp, do tính đa dạng của các nhân tố và sự thiếu hụt cơ sở dữ liệu

ở cấp độ DN.Bất chấp những lợi ích và cơ hội mà GVC mang đến cho DN ở các quốc gia đang và kém phát triển, sự tham gia của các DN ở các quốc gia này vào GVCs còn gặp rất nhiều trở ngại bởi năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, và yếu kém trong kinh nghiệm cũng như kỹ năng quản lý

Thứ năm, về phương pháp thu thập dữ liệu, nhìn chung, dữ liệu điều tra khảo sát

về các doanh nghiệp trong từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể được sử dụng trong cả nghiên cứu định tính lẫn định lượng để đánh giá mức độ tham gia của các doanh nghiệp vào GVCs Có hai nguồn dữ liệu được thu thập là dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Đối với

dữ liệu sơ cấp, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng các dữ liệu sẵn có ở cấp độ vĩ mô như OECD-WTO TiVA, dữ liệu thống kê Input – Output, hoặc sử dụng các dữ liệu ở cấp độ vi mô trong các điều tra khảo sát về DN được thực hiện bởi các tổ chức uy tín như WB, OECD, ADB, hiệp hội DN ở từng quốc gia… để đánh giá sơ bộ mức độ tham gia của các DN vào GVCs (ví dụ, nghiên cứu của Zhang Yuhua và Akhmad Bayhaqi, 2013; Zhang Yuhua, 2014; Davide và các cộng sự, 2015…)

1.4.2 Hướng nghiên cứu của Luận án

Tại Việt Nam, nông nghiệp là một ngành có thế mạnh sẵn có về nguồn lực phát triển như đất đai, khí hậu, nhân lực Song đóng góp của ngành này vào GDP, kim ngạch xuất khẩu vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nó Các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay có quy mô nhỏ lẻ, yếu kém trong khả năng cạnh tranh và

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương (2019), Báo cáo Xuất Nhập khẩu Việt Nam 2019. Nhà xuất bản Công thương, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Xuất Nhập khẩu Việt Nam 2019
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Công thương
Năm: 2019
2. Bộ Công thương (2019), Báo cáo logistics Việt Nam 2019: logistics nâng cao giá trị nông sản, Nhà xuất bản Công thương, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo logistics Việt Nam 2019: logistics nâng cao giá trị nông sản
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Công thương
Năm: 2019
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Bảng cân đối liên ngành của Việt Nam năm 2012 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng DN Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê,2019, tr.35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng DN Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Bảng cân đối liên ngành của Việt Nam năm 2012 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2019
5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2018), Thực trạng ứng dụng khoa học và công nghệ, công nghệ cao trong DN nông nghiệp; đánh giá chính sách và giải pháp hỗ trợ DN ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, Hội nghị toàn quốc Thúc đẩy DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, 30/07/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ứng dụng khoa học và công nghệ, công nghệ cao trong DN nông nghiệp; đánh giá chính sách và giải pháp hỗ trợ DN ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2018
6. Nguyễn Bích Thủy (2015), “Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: lối thoát cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 873, tr.64-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: lối thoát cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Bích Thủy
Năm: 2015
7. Nguyễn Ngọc Lan (2018), “Đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp”, Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 3/2018, tr. 33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp”, "Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan
Năm: 2018
8. Nguyễn Thị Thanh Hải (2015), “Vai trò của ngân hàng với chuỗi giá trị nông sản”, Tạp chí ngân hàng, số 15, tr. 27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ngân hàng với chuỗi giá trị nông sản”, "Tạp chí ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hải
Năm: 2015
9. Nguyễn Việt Khôi (2010), “Những hàm ý chính sách để Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu từ những kinh nghiệm của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (105) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hàm ý chính sách để Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu từ những kinh nghiệm của Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Việt Khôi
Năm: 2010
10. Nguyễn Việt Khôi (2014), “Chuỗi giá trị toàn cầu và gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 3(430), tr. 38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu và gợi ý cho Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Việt Khôi
Năm: 2014
12. OECD (2016), Chính sách nông nghiệp Việt Nam, Báo cáo rà soát Nông nghiệp và Lương thực của OECD, Nhà xuất bản PECD, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp Việt Nam, Báo cáo rà soát Nông nghiệp và Lương thực của OECD
Tác giả: OECD
Nhà XB: Nhà xuất bản PECD
Năm: 2016
13. Porter, M. E. (1985), Lợi thế cạnh tranh: tạo lập và duy trì thành tích vượt trội trong kinh doanh, “Chuỗi giá trị và lợi thế cạnh tranh”, Nxb Trẻ, tr. 71 – 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị và lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Porter, M. E
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1985
14. Sở Công Thương Hà Nội (2016), Cẩm nang về các hiệp định thương mại tự do dành cho DN nông sản và thực phẩm chế biến, Nhà xuất bản Công thương, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang về các hiệp định thương mại tự do dành cho DN nông sản và thực phẩm chế biến
Tác giả: Sở Công Thương Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công thương
Năm: 2016
15. Tô Linh Hương (2017), Chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè và sự tham gia của Việt Nam, Luận án tiến sỹ trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè và sự tham gia của Việt Nam
Tác giả: Tô Linh Hương
Năm: 2017
16. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê các năm 2012, 2018, 2019, “Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các năm 2012, 2018, 2019", “"Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2019
17. Trần Tiến Khai và nhóm công sự (2011), Báo cáo nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre, Dự án DBRP Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre
Tác giả: Trần Tiến Khai và nhóm công sự
Năm: 2011
75. OECD (2018), Tiva database 2018. < https://stats.oecd.org/Index.aspx?datasetcode =TIVA_2018_C1>. [Accessed 15 April 2019] Link
76. OECD (2019), The Future of Farming 4.0: The digitalisation of agriculture, < https://www.oecd-forum.org/posts/53345-the-future-of-farming-4-0-the-digitalisation-of-agriculture>. [Accessed 01 March 2019] Link
79. Viện nghiên cứu Ngô (2017), Hiện trạng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. < http://nmri.org.vn/vi/news/tin-tuc-va-su-kien/hien-trang-nong-nghiep-huu-co-viet-nam-79.html>. [Ngày truy cập: 22 tháng 2 năm 2019] Link
80. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2019), Phát triển nông nghiệp đến năm 2030 vào top 10 nước hàng đầu thế giới về chế biến nông sản. < http://www.vaas.org.vn/phat-trien-nong-nghiep-den-nam-2030-vao-top-10-nuoc-hang-dau-the-gioi-ve-che-bien-nong-san>. [Ngày truy cập: 16 tháng 10 năm 2019] Link
81. WTO (2019), Trade in value-added and global value chains: statistical profiles. < https://www.wto.org/english/res_e/statis_e/miwi_e/countryprofiles_e.htm>.[Accessed 15 April 2019] Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Từ đồ thị trong hình 2 cho thấy sự tăng lên của hằng số mạng theo nhiệt độ, màng mỏng bị giãn nở vì nhiệt� Tuy nhiên có sự  khác biệt giữa các màng mỏng có  bề dầy khác nhau� Khi tăng dần bề  dầy màng mỏng thì giá trị hằng số  mạng tăng lên, điều đó cho t - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
th ị trong hình 2 cho thấy sự tăng lên của hằng số mạng theo nhiệt độ, màng mỏng bị giãn nở vì nhiệt� Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các màng mỏng có bề dầy khác nhau� Khi tăng dần bề dầy màng mỏng thì giá trị hằng số mạng tăng lên, điều đó cho t (Trang 8)
1 Sơ đồ 1.1. Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi 10 2  Sơ đồ 1.2. Sự chuyển dịch trong đường cong nụ cười 10  3  Sơ đồ 2.1 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1 Sơ đồ 1.1. Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi 10 2 Sơ đồ 1.2. Sự chuyển dịch trong đường cong nụ cười 10 3 Sơ đồ 2.1 (Trang 11)
5 Biểu đồ 4.5. Các doanh nghiệp NLTS phân theo loại hình sở hữu 102 6 Biểu đồ 4.6. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
5 Biểu đồ 4.5. Các doanh nghiệp NLTS phân theo loại hình sở hữu 102 6 Biểu đồ 4.6. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản (Trang 12)
Sơ đồ 1.1. Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Sơ đồ 1.1. Mô hình nụ cười phát triển bởi Mudambi (Trang 22)
Mudambi (2008) tiếp tục phát triển mô hình nụ cười để minh họa cho hiện tượng các DN tại các quốc gia mới nổi tiến lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong  GVC - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
udambi (2008) tiếp tục phát triển mô hình nụ cười để minh họa cho hiện tượng các DN tại các quốc gia mới nổi tiến lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong GVC (Trang 22)
Sơ đồ 2.1. Các mô hình quản trị chuỗi giá trị toàn cầu - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Sơ đồ 2.1. Các mô hình quản trị chuỗi giá trị toàn cầu (Trang 45)
Bảng 3.1. Ma trận đầu vào – đầu ra giữa các quốc gia - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 3.1. Ma trận đầu vào – đầu ra giữa các quốc gia (Trang 86)
Bảng 3.2. Quy trình xem xét sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 3.2. Quy trình xem xét sự tham gia của các DN Việt Nam vào GVCs trong lĩnh vực nông nghiệp (Trang 89)
4.1.2. Tình hình phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008- 2019 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
4.1.2. Tình hình phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008- 2019 (Trang 101)
Bảng 4.2. Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng nông nghiệp chủ yếu  giai đoạn 2008 – 2018 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.2. Giá trị nhập khẩu một số mặt hàng nông nghiệp chủ yếu giai đoạn 2008 – 2018 (Trang 103)
Bảng 4.1. Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông lâm thủy sản chủ lực giai đoạn 2008 – 2018 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.1. Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông lâm thủy sản chủ lực giai đoạn 2008 – 2018 (Trang 103)
Bảng 4.3. Thống kê số lượng chuỗi giá trị NLTS an toàn giai đoạn 2017- 2019 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.3. Thống kê số lượng chuỗi giá trị NLTS an toàn giai đoạn 2017- 2019 (Trang 108)
Bảng 4.4. Số doanh nghiệp NLTS đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm trong giai đoạn 2008 - 2018 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.4. Số doanh nghiệp NLTS đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm trong giai đoạn 2008 - 2018 (Trang 110)
Bảng 4.5 cho thấy hai xu hướng thay đổi khác nhau về số lượng lao động làm việc ở các doanh nghiệp NLTS - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.5 cho thấy hai xu hướng thay đổi khác nhau về số lượng lao động làm việc ở các doanh nghiệp NLTS (Trang 112)
Bảng 4.7. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp NLTS tại thời điểm 31/12 hàng nămtrong giai đoạn 2008 - 2018 - SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH NÔNG NGHIỆP
Bảng 4.7. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp NLTS tại thời điểm 31/12 hàng nămtrong giai đoạn 2008 - 2018 (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w