1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact

5 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 848,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết bàn về phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên trước đã phổ biến trên thị trường từ lâu nhưng lại gặp một số nhược điểm như gây ra nhiễu điện từ, và giảm tuổi thọ của đèn sợi đốt hoặc đèn compact. Tuy nhiên các nhược điểm này có thế khắc phục nhờ phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Hình 1: Cắt mức năng lương biên trước

Hình 2: Cắt mức năng lương biên sau

Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact

Nguyễn Phan Kiên (1,*), Nguyễn Mạnh Cường (2), Hoàng Anh Dũng (3), Trần Đức Hưng (1), Đỗ Chí Hiếu(1)

(1) Viện Điện tử Viễn thông, Đại học Bách Khoa Hà nội,

(2) Học viện kỹ thuật Quân sự (3) Khoa Điện tử Viễn thông, Viện Đại học Mở Hà nội Email: knguyenp@gmail.com*1,cuong.tung@gmail.com2,kinhcan81@gmail.com3,tranhung201222@gmail.com1,

dochihieu1994@gmail.com1

Abstract- Phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức

năng lượng biên trước đã phổ biến trên thị trường từ lâu nhưng

lại gặp một số nhược điểm như gây ra nhiễu điện từ, và giảm tuổi

thọ của đèn sợi đốt hoặc đèn compact Tuy nhiên các nhược điểm

này có thế khắc phục nhờ phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa

trên cắt mức năng lượng biên sau Khác với mạch điều chỉnh mức

sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên trước được điều khiển

dựa trên tín hiệu tương tự, mạch cắt mức năng lượng biên sau

trong bài viết được điều khiển dựa trên tín hiệu số Khi áp dụng

phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng

biên sau với 3 loại đèn trên, tín hiệu đo trên oscillo cho thấy đèn

sợi đốt và đèn compact phù hợp với phương pháp này trong khi

đèn huỳnh quang chấn lưu từ không thể áp dụng.

Keywords- điều chỉnh mức sáng, cắt biên sau, cắt biên trước, đèn

sợi đốt, đèn huỳnh quang, đèn compact.

I GIỚI THIỆU Mạch điều chỉnh mức sáng mục đích cuối cùng là điều khiển

công suất cho tải tiêu thụ điện và phương pháp phổ biến điều

chỉnh mức sáng của đèn trong chiếu sáng dân dụng hiện nay là

dựa trên cắt mức năng lượng biên trước [6] Phương pháp này

sử dụng khóa điện tử là Triac (thường được kích bởi một Diac)

chỉ cho dòng chạy qua tại một thời điểm nhất định sau điểm 0

của tín hiệu sin và chỉ đóng khi dòng điện đảo chiều Việc điều

chỉnh thời gian mở trong mỗi nửa chu kì dựa trên điều chỉnh

thời gian phóng nạp của một tụ điện qua một biến trở [5,6]

Do đó trong mỗi nửa chu kì dòng điện bắt đầu từ 0 rồi tăng vọt

lên một giá trị nhất định trong vòng cỡ 1us, và điều này gây ra

sốc nhiệt cho bóng sợi đốt làm giảm tuổi thọ bóng, đồng thời

với bóng compact sẽ luôn có một tụ điện được nạp với dòng

điện có cường độ tăng rất nhanh trong mỗi nửa chu kỳ và hiện

tượng này cũng sẽ làm giảm tuổi thọ của bóng nhanh chóng

[5] Thêm vào đó là sự tăng vọt của dòng điện trong mỗi lần

đóng ngắt của Triac cũng gây ra nhiễu điện từ [5], và nhiễu này

tăng lên đáng kể theo chiều dài dây nối từ tải tới mạch này

Trong thự tế, Nguyên lý cắt mức biên trước được sử dụng khá

nhiều như trong các thiết bị điều chỉnh cho đèn, quạt trần,… Các bộ điều chỉnh dạng này thường rẻ nhưng lại có tuổi thọ không cao Nguyên lý cắt mức năng lượng biên trước được chỉ

ra trong hình 1

Nguyên lý cắt mức năng lượng biên sau được chỉ ra trong hình

2 Phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau mà bài viết này tập trung tới sẽ giải quyết các nhược điểm nói trên của phương pháp cắt mức năng lượng biên trước (bao gồm sự sinh nhiễu điện từ và sự giảm tuổi thọ của bóng đèn) và đồng thời chúng tôi cũng khảo sát sự tác động của phương pháp này lên các đối tượng đèn khác nhau, cụ thể

là đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang chấn lưu từ và đèn compact vì bản chất của các loại đèn này rất khác nhau Cụ thể, với các loại đèn sợi đốt thì tải được coi là tải thuần trở trong khi đèn huỳn quang chấn lưu sắt từ và đèn compact thì có dạng tải phi tuyến (vừa dạng tải cảm, vừa dạng tải dung tùy thuộc vào quá trình phóng điện (khởi tạo ban đầu) và quá trình ổn định khi đèn đã sáng) Trên thực tế, các nghiên cứu về cắt mức năng lượng biên sau đã được thực hiện bởi một số hãng trên thế giới

và đã được áp dụng đối với một số loại đèn sợi đốt, đèn sử dụng biến áp điện tử [9] Và một số nghiên cứu khác chỉ đưa ra khuyến nghị là không sử dụng đối với các tải cảm hoặc động cơ, [5,6] Tuy nhiên, xét về bản chất của bóng đèn huỳnh quang và đền compact như đã đề cập ở trên thì đặc tuyến của những bóng này không phải dạng tải cảm cũng không phải dạng tải dung thuần túy mà nó là sự kết hợp của hai dạng tải này với đặc tính tải là dạng phi tuyến Do đó, nghiên cứu chỉ ra khả năng ứng dụng đối với đặc tính tải phi tuyến này là cần thiết cho việc khẳng định khả năng áp dụng phương pháp cắt mức năng lượng biên sau đối với các bóng đèn điện dạng này (bóng đèn huỳnh quang chấn lưu sắt từ, bóng đèn compact, bóng đèn cao áp (natri hoặc metal halide), …)

Mạch điều chỉnh mức sáng của đèn theo phương pháp này được thiết kế dựa trên nguyên lý: điều khiển đóng mở IGBT Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Trang 2

Hình 1: Cắt mức năng lương biên trước

Hình 2: Cắt mức năng lương biên sau

Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức

năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact

Nguyễn Phan Kiên (1,*), Nguyễn Mạnh Cường (2), Hoàng Anh Dũng (3), Trần Đức Hưng (1), Đỗ Chí Hiếu(1)

(1) Viện Điện tử Viễn thông, Đại học Bách Khoa Hà nội,

(2) Học viện kỹ thuật Quân sự (3) Khoa Điện tử Viễn thông, Viện Đại học Mở Hà nội

Email: knguyenp@gmail.com*1,cuong.tung@gmail.com2,kinhcan81@gmail.com3,tranhung201222@gmail.com1,

dochihieu1994@gmail.com1

Abstract- Phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức

năng lượng biên trước đã phổ biến trên thị trường từ lâu nhưng

lại gặp một số nhược điểm như gây ra nhiễu điện từ, và giảm tuổi

thọ của đèn sợi đốt hoặc đèn compact Tuy nhiên các nhược điểm

này có thế khắc phục nhờ phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa

trên cắt mức năng lượng biên sau Khác với mạch điều chỉnh mức

sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên trước được điều khiển

dựa trên tín hiệu tương tự, mạch cắt mức năng lượng biên sau

trong bài viết được điều khiển dựa trên tín hiệu số Khi áp dụng

phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng

biên sau với 3 loại đèn trên, tín hiệu đo trên oscillo cho thấy đèn

sợi đốt và đèn compact phù hợp với phương pháp này trong khi

đèn huỳnh quang chấn lưu từ không thể áp dụng.

Keywords- điều chỉnh mức sáng, cắt biên sau, cắt biên trước, đèn

sợi đốt, đèn huỳnh quang, đèn compact.

I GIỚI THIỆU Mạch điều chỉnh mức sáng mục đích cuối cùng là điều khiển

công suất cho tải tiêu thụ điện và phương pháp phổ biến điều

chỉnh mức sáng của đèn trong chiếu sáng dân dụng hiện nay là

dựa trên cắt mức năng lượng biên trước [6] Phương pháp này

sử dụng khóa điện tử là Triac (thường được kích bởi một Diac)

chỉ cho dòng chạy qua tại một thời điểm nhất định sau điểm 0

của tín hiệu sin và chỉ đóng khi dòng điện đảo chiều Việc điều

chỉnh thời gian mở trong mỗi nửa chu kì dựa trên điều chỉnh

thời gian phóng nạp của một tụ điện qua một biến trở [5,6]

Do đó trong mỗi nửa chu kì dòng điện bắt đầu từ 0 rồi tăng vọt

lên một giá trị nhất định trong vòng cỡ 1us, và điều này gây ra

sốc nhiệt cho bóng sợi đốt làm giảm tuổi thọ bóng, đồng thời

với bóng compact sẽ luôn có một tụ điện được nạp với dòng

điện có cường độ tăng rất nhanh trong mỗi nửa chu kỳ và hiện

tượng này cũng sẽ làm giảm tuổi thọ của bóng nhanh chóng

[5] Thêm vào đó là sự tăng vọt của dòng điện trong mỗi lần

đóng ngắt của Triac cũng gây ra nhiễu điện từ [5], và nhiễu này

tăng lên đáng kể theo chiều dài dây nối từ tải tới mạch này

Trong thự tế, Nguyên lý cắt mức biên trước được sử dụng khá

nhiều như trong các thiết bị điều chỉnh cho đèn, quạt trần,…

Các bộ điều chỉnh dạng này thường rẻ nhưng lại có tuổi thọ không cao Nguyên lý cắt mức năng lượng biên trước được chỉ

ra trong hình 1

Nguyên lý cắt mức năng lượng biên sau được chỉ ra trong hình

2 Phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau mà bài viết này tập trung tới sẽ giải quyết các nhược điểm nói trên của phương pháp cắt mức năng lượng biên trước (bao gồm sự sinh nhiễu điện từ và sự giảm tuổi thọ của bóng đèn) và đồng thời chúng tôi cũng khảo sát sự tác động của phương pháp này lên các đối tượng đèn khác nhau, cụ thể

là đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang chấn lưu từ và đèn compact vì bản chất của các loại đèn này rất khác nhau Cụ thể, với các loại đèn sợi đốt thì tải được coi là tải thuần trở trong khi đèn huỳn quang chấn lưu sắt từ và đèn compact thì có dạng tải phi tuyến (vừa dạng tải cảm, vừa dạng tải dung tùy thuộc vào quá trình phóng điện (khởi tạo ban đầu) và quá trình ổn định khi đèn đã sáng) Trên thực tế, các nghiên cứu về cắt mức năng lượng biên sau đã được thực hiện bởi một số hãng trên thế giới

và đã được áp dụng đối với một số loại đèn sợi đốt, đèn sử dụng biến áp điện tử [9] Và một số nghiên cứu khác chỉ đưa ra khuyến nghị là không sử dụng đối với các tải cảm hoặc động cơ, [5,6] Tuy nhiên, xét về bản chất của bóng đèn huỳnh quang và đền compact như đã đề cập ở trên thì đặc tuyến của những bóng này không phải dạng tải cảm cũng không phải dạng tải dung thuần túy mà nó là sự kết hợp của hai dạng tải này với đặc tính tải là dạng phi tuyến Do đó, nghiên cứu chỉ ra khả năng ứng dụng đối với đặc tính tải phi tuyến này là cần thiết cho việc khẳng định khả năng áp dụng phương pháp cắt mức năng lượng biên sau đối với các bóng đèn điện dạng này (bóng đèn huỳnh quang chấn lưu sắt từ, bóng đèn compact,

bóng đèn cao áp (natri hoặc metal halide), …)

Mạch điều chỉnh mức sáng của đèn theo phương pháp này được thiết kế dựa trên nguyên lý: điều khiển đóng mở IGBT

Hình 4: Khối bắt điểm không

Hình 5: Khối driver cho IGBT và khối cắt pha (gồm IGBT và cầu diode)

bằng vi điều khiển Atmega 16 dựa trên tín hiệu bắt điểm 0 của dòng điện Thời gian cho dòng chạy qua IGBT trong mỗi nửa chu kỳ được dễ dàng điều chỉnh bằng núm vặn, do đó tác dụng điều khiển công suất cũng giống như phương pháp cắt biên trước Thêm vào đó phương pháp này cho phép dòng qua IGBT tăng từ từ theo sườn hình sin, và thời gian đóng IGBT cũng có thể kiểm soát dễ dàng, chính điều này làm giảm tối đa nhiễu điện từ sinh ra do quá trình đóng ngắt trong mỗi nửa chu kỳ

II CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM TRONG THIẾT KẾ CHẾ

TẠO MẠCH ĐIỀU KHIỂN

Sơ đồ khối của thiết kế được chỉ ra trong hình 3 Trong đó, nguồn cung cấp 220V, 50Hz được lấy mẫu để xác định điểm không thông qua khối bắt điểm không Tin hiệu bắt điểm không được đưa vào vi điều khiển, đồng thời tín hiệu xác định thời gian ngắt trong mỗi nửa chu kì cũng được đọc từ điện áp trên triết áp vào vi điều khiển Từ 2 tín hiệu này vi điều khiển xuất ra tín hiệu kích cho driver của IGBT, từ đó khối cắt pha sẽ thực hiện cắt mức năng lượng chảy vào tải

Để bắt điểm không có nhiều phương pháp [2], nhưng phương pháp mà bài viết này sử dụng dựa trên một cầu diode được chỉ

ra trong hình 4 Trong đó, nguồn AC được đưa vào A1 A2 Sau khi được chỉnh lưu qua cầu diode và hạn bớt bởi trở 100k sẽ được đưa vào opto (PC817, Sharp) Opto sẽ giúp chuyển hóa dòng chỉnh lưu thành tín hiệu 0 và 1 đi vào chân ngắt ngoài PD3 của vi điều khiển Khi dòng điện chỉnh lưu về 0 opto không dẫn, từ đó PD3 đang ở mức cao sẽ chuyển sang mức thấp

Mạch driver cho IGBT được chỉ ra trong hình 5 Trong đó cặp transistor kéo đẩy D468 và B562 (Renesas) có vai trò đóng mở cho IGBT (FGA25N120ANTD, Fairchild Semiconductor) [1,7] Tín hiệu kích cho cặp transistor này được truyền từ chân

PD4 của vi điều khiển thông qua opto (PC817, Sharp) Diode zenner (1N4744, General Semiconductor) và TVS diode (P6KE400CA, Fairchild Semiconductor) giúp bảo vệ IGBT khỏi xung quá áp

Mỗi khi có tín hiệu ngắt ngoài đưa vào vi điều khiển (Atmega16, Atmel) từ mạch bắt điểm không, chân PD4 xuất tín hiệu mức cao kích cho driver mở IGBT, sau một khoảng thời gian nhất định (nhỏ hơn 10ms), chân PD4 xuất tín hiệu mức

thấp kích cho driver đóng IGBT Khi nào có tín hiệu ngăt ngoài thì quá trình trên lại đc lặp lại Như vậy thời gian dòng điện chảy qua tải trong mỗi nửa chu kì phụ thuộc vào thời gian delay, và thời gian này được điều chỉnh bằng một triết áp thông qua chân ADC của vi điều khiển

Khối cắt pha được chỉ ra trong hình 5 Do IGBT chỉ đóng ngắt được với dòng một chiều nên để IGBT hoạt động được ở cả bán kì âm và dương ta cần cầu diode chỉnh lưu

Về kiểm soát thời gian đóng của IGBT ta có nhiều cách bao gồm điều chỉnh dV/dt (bằng điện trở cực G hoặc mắc song song một tụ điện giữa cực G và E) hoặc điều chỉnh di/dt (bằng cuộn cảm nhỏ ở cực E) [3,4] Cách thức sử dụng trong bài viết

này là dùng điện trở cực G Điện trở này càng lớn thì thời gian đóng của IGBT càng tăng Tuy nhiên điện trở này cũng không được phép quá lớn bởi thời gian đóng ngắt lâu cũng đồng nghĩa với mất mát nhiệt trên IGBT càng lớn làm nóng IGBT [3,4,7] Hình 3: Sơ đồ khối mạch điều chỉnh mức sáng của đèn dựa trên

phương pháp cắt mức năng lượng sau

Trang 3

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Hình 6: Các dung kháng kí sinh của IGBT

Hình 7: Lưu đồ thuật toán điều khiển của vi điều khiển

Hình 8: Mạch hoàn thành

Hình 9: Tín hiệu bắt điểm 0 đưa vào chân PD3 của vi điều khiển

(các xung có đỉnh 5V)

Ta có thể ước lượng thời gian đóng mở của IGBT theo công

thức [3]:

dV

dt =

𝑉𝑉𝑡𝑡𝑡

𝑅𝑅𝑔𝑔∗ 𝐶𝐶𝑖𝑖𝑖𝑖𝑖𝑖

V: điện áp cực C

𝑉𝑉𝑡𝑡𝑡: điện áp plateau của cực G (thường xấp xỉ 7V)

𝑅𝑅𝑔𝑔: điện trở cực G

𝐶𝐶𝑖𝑖𝑖𝑖𝑖𝑖: dung kháng giữa cực G và E

Trong mạch này với mục đích làm cho thời gian đóng không

quá nhanh, và thời gian mở không cần chậm (do điện áp tăng

từ từ sau điểm 0 của mỗi nửa chu kì) nên ta chọn điện trở R8

(22R) nhỏ, và điện trở R9 (2k2) lớn Trong mạch điện ta nhìn

đầu vào cực G của IGBT như một tụ điện như trong hình 6, và

thời gian đóng mở IGBT bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thời gian

nạp xả của tụ này [1,8]

Khi driver nhận tín hiệu mở, transistor D468 thông trong khi transistor B562 đóng, lúc này tụ 𝐶𝐶𝐺𝐺𝐺𝐺được nguồn nạp tới 15V thông qua điện trở R8 Do có trị số nhỏ, nên thời gian mở của IGBT ngắn Khi driver nhận tín hiệu đóng, transistor B562 thông trong khi transistor D468 đóng, lúc này tụ 𝐶𝐶𝐺𝐺𝐺𝐺được xả qua điện trở R8 và R9 nối tiếp Do tổng trở R8 và R9 lớn, nên quá trình mở của IGBT diễn ra chậm lại cỡ vài chục micro giây

Lưu đồ thuật toán điều khiển của vi điều khiển Atmega 16 được trình bày trong hình 7 Khi dòng điện xoay chiều từ nguồn 220V về 0, tín hiệu ngắt ngoài được gửi tới chân PD3 Khi đó Chân PD4 được đưa lên mức cao để kích mở IGBT và trạng thái này được giữ trong khoảng thời gian t ms, sau đó PD4 lại được đưa về mức thấp để đóng IGBT Tín hiệu điện áp trên chân PA0 được đưa vào bộ ADC để tính ra thời gian t tương ứng muốn delay

III THỰC NGHIỆM ĐO ĐẠC VÀ KẾT QUẢ Mạch sau khi hoàn thành như hình 8, sẽ được cắm các nguồn

và chưa cắm tải Để xác minh hoạt động của mạch, ta sử dụng oscillo đo tín hiệu bắt điểm 0 được đưa vào chân PD3 của vi điều khiển song song với tín hiệu điện áp 220V/50Hz, sau đó

đo tín hiệu xuất ra từ khối driver của IGBT khi điều chỉnh triết

áp tăng từ 0 đến 100% Kết quả đo chỉ ra trong hình 9 và hình

10 phản ánh khối bắt điểm 0 và khối driver cho IGBT hoạt động tốt

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Trang 4

Hình 10: Tín hiệu xuất ra từ driver cho IGBT khi điều chỉnh triết áp

tăng 0-100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới)

Tiếp theo thực nghiệm đo đạc tại đầu ra với các đối tượng đèn

khác nhau khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100%, cụ thể là

bóng sợi đốt (25W/220V, Rạng Đông), bóng huỳnh quang

(18W/0.6m, Philips ) chấn lưu từ và bóng compact

(15W/220V, Rạng Đông) Kết quả điều khiển công suất với

bóng sợi đốt, bóng huỳnh quang chấn lưu từ và bóng compact

được chỉ ra trong hình 11, 12, 13 tương ứng

Hình 11: Điện áp trên đèn sợi đốt khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ

100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới)

Hình 12: Điện áp trên đèn huỳnh quang chấn lưu từ khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống

dưới)

Hình 13: Điện áp trên đèn compact khi điều chỉnh triết áp giảm từ 100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới)

-Với bóng sợi đốt, khi điều chỉnh triết áp giảm 100-0% thời gian có dòng chạy qua đèn trong mỗi nửa chu kì cũng giảm theo (từ 10-0ms) đồng thời độ sáng của bóng giảm từ tối đa về

0 Đèn tắt hẳn khi triết áp về 0%

-Với bóng huỳnh quang chấn lưu từ, khi điều chỉnh triết áp giảm từ 100% thời gian có dòng chạy qua đèn cũng giảm theo, đồng thời độ sáng của bóng giảm dần từ mức tối đa đến 0 Đèn bắt đầu tắt hẳn khi triết áp vẫn chưa về mức 0% Ngay sau mỗi thời điểm đóng IGBT ở mỗi nửa chu kì luôn xuất hiện một xung ngược rất lớn, IGBT nóng rất nhanh và hỏng sau một thời

Trang 5

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

gian ngắn sử dụng Đồng thời nhiễu điện từ sinh ra rất lớn thậm

chí phát ra cả tiếng ồn

-Với bóng compact, khi điều chỉnh triết áp giảm từ 100% thời

gian có dòng chạy qua đèn gần như không thay đổi, thay vào

đó đường biên xuống của mỗi nửa chu kì bị cắt vát giảm dần,

dẫn tới điện áp cực đại cũng giảm theo Cùng với đó là sự

giảm độ sáng của đèn từ mức tối đa về 0 Đèn bắt đầu tắt hẳn

khi triết áp vẫn chưa về mức 0%

IV KẾT LUẬN Dựa trên kết quả đo được ta thấy dạng tín hiệu điện áp của các

loại đèn rất khác nhau Điều này là do bản chất loại tải của các

đèn này khác nhau.Tín hiệu điện áp đèn sợi đốt phản ánh sát

với lý thuyết của phương pháp này do đèn này là tải thuần trở

Tín hiệu điện áp của đèn huỳnh quanh chấn lưu từ dù có phần

phản ánh lý thuyết nhưng lại xuất hiện xung ngược rất lớn dội

về Điều này là do thành phần cảm kháng của chấn lưu rất lớn

nên ngay sau mỗi thời điểm đóng của IGBT sẽ có xung cảm

ứng điện từ dội về IGBT Trong khi đó, bóng compact là tải kết

hợp RLC, dạng tín hiệu điện áp không phản ánh lý thuyết của

phương pháp điều chỉnh mức sáng này Dù thời gian có dòng

chạy qua bóng không thay đổi khi điều chỉnh triết áp nhưng

thay vào đó là sự thay đổi của điện áp cực đại trong mỗi nửa

chu kỳ, do đó vẫn có hiệu quả điều chỉnh mức sáng

Như vậy phương pháp điều chỉnh mức sáng của đèn dựa trên

cắt mức năng lượng biên sau chỉ khuyến nghị sử dụng với bóng

sợi đốt và bóng compact, tuyệt đối không thích hợp với bóng huỳnh quang chấn lưu từ

Lời cảm ơn:

Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn công ty TNHH Công nghệ ứng dụng Bách Khoa (BKAT Co., Ltd.) đã hỗ trợ cho việc thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] A.Mahesh Kumar, B R (2013) Design of fast switching IGBT driver for high rated modules American International Journal of Research in Science, Technology, Engineering & Mathematics , 2 (2), 144-148

[2] Ankita Gupta, R T (2013) An Efficient Approach to Zero Crossing Detection Based On Journal of Engineering Research and Applications , 3 (5), 834-838

[3] B Maurice, L W (1994, September) Drive circuits for power MOSFETs and IGBTs

[4] Charreton, J M (1993, July) Soft light dimmer

[5] Elliott, R (n.d.) Dimmers Retrieved august 2015, 18, from Elliott Sound Products: http://sound.westhost.com/lamps/dimmers.html

[6] Engdahl, T (n.d.) Light Dimmer Circuits Retrieved August 18, 2015,

http://www.epanorama.net/documents/lights/lightdimmer.html [7] Hermwille, M (2008, November-December) The use of gate resistors to control IGBT switching

[8] Rahul Chokhawala, J C Gate Drive Considerations for IGBT Modules El Segundo: International Rectifier Corporation

[9] Philips (n.d.) Dimmer controllers Retrieved November 11, 2015, from

Philips:

http://www.lighting.philips.com/main/subsites/dynalite/products/load_controlle rs/dimmer_controllers.wpd

Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Cắt mức năng lương biên sau - Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact
Hình 2 Cắt mức năng lương biên sau (Trang 1)
Hình 1: Cắt mức năng lương biên trước - Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact
Hình 1 Cắt mức năng lương biên trước (Trang 1)
Hình 12: Điện áp trên đèn huỳnh quang chấn lưu từ khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống  - Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact
Hình 12 Điện áp trên đèn huỳnh quang chấn lưu từ khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống (Trang 4)
Hình 11: Điện áp trên đèn sợi đốt khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ - Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact
Hình 11 Điện áp trên đèn sợi đốt khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ (Trang 4)
Hình 10: Tín hiệu xuất ra từ driver cho IGBT khi điều chỉnh triết áp tăng 0-100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới) Tiếp theo thực nghiệm đo đạc tại đầu ra với các đối tượng đèn khác nhau khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100%, cụ thể là  bó - Nghiên cứu tác động của phương pháp điều chỉnh mức sáng dựa trên cắt mức năng lượng biên sau lên đối tượng đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang và đèn compact
Hình 10 Tín hiệu xuất ra từ driver cho IGBT khi điều chỉnh triết áp tăng 0-100% (thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới) Tiếp theo thực nghiệm đo đạc tại đầu ra với các đối tượng đèn khác nhau khi điều chỉnh triết áp giảm dần từ 100%, cụ thể là bó (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w