1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM

182 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 9340201.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Trung Thành

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các dữ liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận án có nguồn gốc rõ ràng và trung thực Các đánh giá, kết luận khoa học của Luận án chưa từng được người khác công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận án

Vũ Thị Phương Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các nhà khoa học trường Đại học Kinh Tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội, các lãnh đạo cùng các đồng nghiệp tại trường Đại học Thủy Lợi đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận án tiến sĩ

Lòng chân thành và biết ơn, tôi xin gửi được gửi đến Khoa Tài chính – Ngân hàng và Phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh Qua

đó, tác giả đã tiếp thu được những kiến thức, phương pháp nghiên cứu làm hành trang quan trọng giúp tác giả thực hiện nghiên cứu

Lời tri ân sâu sắc nhất xin được gửi tới người thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Lê Trung Thành đã gắn bó cùng tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu Các định hướng đúng đắn của thầy cùng sự chỉ bảo tận tình, tâm huyết đã giúp tác giả hoàn thành luận án

Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và các bạn đồng hành cùng tác giả trong quá trình nghiên cứu Chính sự yêu thương, chia sẻ và niềm

tin của mọi người làm động lực to lớn cho tác giả hoàn thành luận án

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả luận án

Vũ Thị Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Cơ sở lý luận về lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại 7

1.1.1 Nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng thương mại 7

1.1.2 Khái niệm, phân loại tiền gửi tại ngân hàng thương mại 10

1.1.3 Vai trò của tiền gửi đối với các ngân hàng thương mại 14

1.1.4 Lý thuyết tài chính về tiền gửi 16

1.2 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại 19

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố vĩ mô tác động đến lượng tiền gửi 19

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố thuộc về ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi 23

1.2.3 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố hành vi người gửi tiền tác động đến lượng tiền gửi 32

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 42

2.1.1 Phương pháp tiếp cận 42

2.1.2 Khung phân tích 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu về nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc về ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi 44

2.2.1 Mô hình nghiên cứu 44

2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 50

Trang 6

2.2.3 Phương pháp phân tích 52

2.2.4 Dữ liệu nghiên cứu 57

2.3 Phương pháp nghiên cứu về nhân tố hành vi người gửi tiền tác động đến lượng tiền gửi 60

2.3.1 Mô hình nghiên cứu 60

2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 64

2.3.3 Phương pháp phân tích 65

2.3.4 Dữ liệu nghiên cứu 66

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TỪ TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 69

3.1 Bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam 69

3.2 Tình hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam 85

3.3 Thực trạng quy mô tiền gửi khách hàng 90

3.4 Thực trạng tiền gửi khách hàng theo kỳ hạn 92

3.5 Thực trạng tiền gửi khách hàng theo nhóm ngân hàng 93

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 97

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 98

4.1 Kết quả nghiên cứu nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc về ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi 98

4.1.1 Thống kê mô tả 98

4.1.2 Ma trận tương quan giữa các biến 99

4.1.3 Kết quả kiểm định mô hình 100

4.1.4 Kết quả ước lượng mô hình 101

4.2 Kết quả nghiên cứu nhân tố hành vi người gửi tiền tác động đến lượng tiền gửi 106

4.2.1 Về thói quen tiết kiệm của người gửi tiền 106

4.2.2 Kết quả nghiên cứu nhân tố hành vi người gửi tiền 114

Trang 7

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 118

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TỪ TIỀN GỬI 119

5.1 Kết luận về nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại 119

5.1.1 Kết luận về nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc về ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi 119

5.1.2 Kết luận về nhân tố hành vi người gửi tiền đến lượng tiền gửi 124

5.2 Khuyến nghị về chính sách, giải pháp huy động vốn từ tiền gửi 127

5.2.1 Khuyến nghị đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 127

5.2.2 Khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 132

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai 136

5.3.1 Hạn chế 136

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 137

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 138

KẾT LUẬN 139

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 158

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 BCTC Báo cáo tài chính

2 CAR Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

3 CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên

8 NHTM Ngân hàng thương mại

9 NHTW Ngân hàng trung ương

10 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

11 REM Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên

12 TCTD Tổ chức tín dụng

13 VAMC Công ty quản lý tài sản

14 WB Ngân hàng thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1

Bảng tổng hợp các nghiên cứu thế giới về nhân

tố vĩ mô và nhân tố thuộc ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi ngân hàng

29

2 Bảng 2.1 Số lượng các ngân hàng lựa chọn nghiên cứu 59

3 Bảng 3.1 Tăng trưởng GDP kinh tế thế giới giai đoạn

4 Bảng 3.2 Diễn biến tăng trưởng tiền gửi khách hàng tại

các nhóm NHTM giai đoạn 2015 – 2019 94

5 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 98

6 Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến 100

7 Bảng 4.3 Kết quả hồi quy mô hình FEM qua các giai

8 Bảng 4.4 Thống kê số lượng ngân hàng khách hàng gửi

9 Bảng 4.5 Thống kê các nhân tố người gửi tiền ưu tiên 110

10 Bảng 4.6 Mô tả các biến trong mô hình 114

11 Bảng 4.7 Kết quả hồi quy mô hình Logit 115

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

1 Hình 2.1 Khung phân tích các nhân tố tác động đến lượng

2 Hình 2.2 Mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô và nhân tố

thuộc về ngân hàng và lượng tiền gửi 44

3 Hình 2.3 Mối quan hệ giữa nhân tố hành vi người gửi tiền

4 Hình 3.1 Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2006 –

5 Hình 3.2 Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2011 –

6 Hình 3.3 Diễn biến lạm phát giai đoạn 2011-2015 78

7 Hình 3.4 Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2016 –

Trang 11

STT Hình vẽ Nội dung Trang

14 Hình 3.11 Tăng trưởng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam

15 Hình 3.12 Tiền gửi khách hàng các NHTM theo kỳ hạn giai

16 Hình 3.13 Kỳ hạn gửi tiền của các nhóm NHTM 95

17 Hình 4.1 Thống kê trình độ học vấn của người tham gia

20 Hình 4.4 Mức độ tin tưởng vào các nguồn thông tin của

21 Hình 4.5

Mức độ thường xuyên cập nhật thông tin về thị trường tài chính và ngân hàng nơi người khảo sát gửi tiền

112

22 Hình 4.6 Phản ứng của người gửi tiền khi có thông tin

ngân hàng khác có lãi suất huy động cao hơn 112

23 Hình 4.7

Phản ứng của người gửi tiền khi nghe tin đồn thất thiệt về thị trường tài chính và ngân hàng mà họ gửi tiền

113

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia là sức mạnh và sự bền vững của hệ thống ngân hàng Các ngân hàng đóng vai trò trung gian trong việc huy động tiền gửi

và sau đó cho các doanh nghiệp, cá nhân vay Chính vì thế tiền gửi là cốt lõi của hoạt động ngân hàng thương mại

Tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và là điều kiện tiên quyết cho

sự tồn tại và phát triển của bất cứ ngân hàng nào Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy tiền gửi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi (Ogege & Shiro, 2013) Việt Nam với tư cách là một quốc gia đang phát triển, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của ngân hàng (World Bank 2019) không phải là ngoại lệ

Việc huy động vốn từ tiền gửi của ngân hàng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế, chính trị của quốc gia, sự cạnh tranh của các đối thủ trong ngành cũng như do hành vi người gửi tiền Đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh Covid hoành hành trên khắp thế giới, giá vàng, chứng khoán, giá bất động sản có chiều hướng đi lên, lãi suất tiền gửi giảm mạnh khiến tiền gửi không còn

là kênh hấp dẫn đối với dân chúng và doanh nghiệp Bên cạnh đó, cạnh tranh gay gắt giữa các đối thủ, các ngân hàng thương mại phải có những giải pháp huy động tiền gửi đúng đắn, thích hợp mới đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu định lượng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi ngân hàng Các nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận, phương pháp khác nhau để đo lường mối quan hệ này Kết quả

Trang 13

chỉ ra rằng không phải bất kỳ quốc gia hay nhóm ngân hàng nào cũng có kết quả như nhau Đồng thời tại Việt Nam, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách tổng quát về cả ba nhóm nhân tố trên Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả

chọn đề tài: “Nghiên cứu nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân

hàng thương mại Việt Nam” Nghiên cứu về lượng tiền gửi sẽ cung cấp cơ sở

về tri thức cho Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại để thiết kế chính sách, giải pháp nhằm huy động được lượng tiền gửi tăng trưởng ổn định,

an toàn và thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính

2 Mục tiêu nghiên cứu

(1) Tổng quan nghiên cứu liên quan đến tiền gửi ngân hàng, các nhân

tố tác động đến tiền gửi ngân hàng;

(2) Hệ thống hóa, luận giải rõ hơn các nhân tố tác động tới lượng tiền gửi tại các ngân hàng, từ đó lựa chọn các nhân tố phù hợp đưa vào mô hình nghiên cứu;

(3) Phân tích thực trạng tình hình huy động vốn từ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006-2019;

(4) Đánh giá tác động của các nhân tố tới tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam;

(5) Để xuất một số kiến nghị, giải pháp đối với Ngân hàng nhà nước

và các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm huy động được lượng tiền gửi tăng trưởng ổn định, an toàn và thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính

Trang 14

Cụ thể hóa mục tiêu bằng các câu hỏi nghiên cứu:

(1) Thực trạng huy động vốn từ tiền gửi khách hàng tại các NHTM Việt Nam như thế nào?

(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng và mức độ tác động của các nhân tố đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam như thế nào?

(3) Khuyến nghị nào phù hợp đối với Ngân hàng Nhà nước và các NHTM nhằm huy động được lượng tiền gửi tăng trưởng ổn định, an toàn và thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính

Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Nguồn vốn huy động từ tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi

có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn trong lượng tiền gửi huy động được tại các NHTM

nên trong luận án của mình, đối tượng nghiên cứu của tác giả là lượng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các NHTM Việt Nam

Tác giả nghiên cứu dưới hai hướng tiếp cận như sau:

Theo hướng tiếp cận thứ nhất: nghiên cứu nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc

bản thân ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các NHTM Việt Nam

Về không gian: Luận án nghiên cứu các NHTM Việt Nam trong hệ thống ngân hàng Việt Nam

Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2019

Theo hướng tiếp cận thứ hai: nghiên cứu nhân tố thuộc hành vi người

gửi tiền tiết kiệm là khách hàng cá nhân tại các NHTM Việt Nam

Trang 15

Về không gian: Luận án nghiên cứu các NHTM Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội

Về thời gian: Luận án sử dụng kết quả khảo sát trong giai đoạn

2019-2020

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, các phương pháp thống kê kếp hợp điều tra, khảo sát, phỏng vấn sâu tới các đối tượng liên quan để khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp hồi quy tương quan để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam (nhân tố nào tác động mạnh, nhân tố nào không có ý nghĩa, tác động cùng chiều hay ngược chiều)

Đối với dữ liệu bảng, tác giả sử dụng hồi quy theo các phương pháp như: hồi quy tác động cố định (FEM), hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê Stata 15

Đối với dữ liệu khảo sát, tác giả sử dụng hồi quy Logistic với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê Stata 15

4 Những đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận

Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp lý thuyết tài chính truyền thống và lý thuyết tài chính hành vi để xây dựng khung lý thuyết về các nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam Thông qua các lý thuyết này, tác giả tổng hợp các kết quả liên quan đến nhân tố vĩ mô, nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại và nhân tố thuộc về hành vi người gửi tiền ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam

Trang 16

Luận án là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam với cả ba nhóm nhân tố: nhân tố vĩ mô, nhân tố thuộc về ngân hàng và nhân tố hành vi người gửi tiền

Về mặt thực tiễn

Nghiên cứu đã đóng góp bằng chứng thực nghiệm thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng để kiểm chứng các nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam

Kết quả nghiên cứu định lượng về tác động của các nhân tố tới lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam cho thấy: Theo hướng tiếp cận thứ nhất, các nhân tố bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ lợi nhuận, lạm phát và tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam Theo hướng tiếp cận thứ hai, các nhân tố về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thu nhập bình quân, độ tin cậy của thông tin, tần suất tiếp cận thông tin của người gửi tiền ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng

Luận án chỉ ra mức độ tác động của các nhân tố đến lượng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam, là cơ sở thực nghiệm quan trọng giúp các nhà quản trị ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về nhân tố tác động đến tiền gửi tại các NHTM để từ đó đưa ra các quyết định quản trị phù hợp Đồng thời, luận án đưa ra các khuyến nghị đối với các NHTM cũng như đối với Ngân hàng Nhà nước nhằm duy trì mức tăng trưởng trong huy động tiền gửi tại các NHTM

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 5 chương:

Trang 17

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Tình hình huy động vốn từ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4: Kết quả nghiên cứu nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị về chính sách, giải pháp huy động vốn từ tiền gửi

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LƯỢNG TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

1.1.1 Nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng thương mại

Dưới áp lực cạnh tranh và nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, ngày nay ngân hàng cũng như các định chế tài chính khác đã và đang mở rộng các dịch vụ kinh doanh của mình Chính vì vậy, việc đưa ra khái niệm để phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính trở nên khó khăn

Theo Thomas P Fitch, Dictionary of Banking Terms (2000), “Tổ chức ngân hàng, thường là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng„ Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng

và cộng đồng

Theo Fed và cũng được nhiều nước sử dụng ngày nay “Ngân hàng là bất

kỳ doanh nghiệp nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay thương mại hay cho vay kinh doanh khác„ Định nghĩa này cũng nhấn mạnh hai vế hoạt động của ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay

Còn theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam: “Ngân hàng

là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hành chính sách và hợp tác xã Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhân tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Trang 19

Trong xu thế hội nhập thị trường quốc tế, hệ thống tài chính của các nước từng bước thay đổi theo hướng mở rộng các dịch vụ kinh doanh ngân hàng cho các tổ chức phi ngân hàng, đồng thời cho phép các ngân hàng được trực tiếp cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và được phép thành lập các công ty trực thuộc trên một số lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán Từ đó, Peter Rose đã đưa ra một khái niệm mới về ngân hàng như sau: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế„

Tóm lại, ta có thể thấy ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp, với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán

Các ngân hàng trong lịch sử đã được xem là có vai trò quan trọng trong thị trường tài chính vì những chức năng mà nó mang lại Một là ngân hàng thực hiện vai trò quan trọng khi làm trung gian tín dụng Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ nhàn rỗi, các ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các ngân hàng thương mại, cũng như các trung gian khác, cung cấp dịch vụ sàng lọc và giám sát người vay; và bằng trình độ chuyên môn của mình cũng như việc đa dạng hóa số lượng người vay, ngân hàng giảm chi phí cung cấp tín dụng (Samolyk, 2004) Thứ hai, NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài

Trang 20

khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Việc các NHTM thực hiện chức năng thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Do vậy, các chủ thể sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo được thanh toán an toàn (Nguyễn, 2014) Chức năng quan trọng nhất của NHTM là chức năng tạo tiền Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua quá trình cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có khả năng tạo nên số tiền gửi gấp nhiều lần so với dữ trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng của tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này chịu tác động bởi các yếu tố tỷ

lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng

Đối với NHTM, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ (khoảng 10%) trong tổng nguồn vốn của mình Nguồn vốn chủ yếu của NHTM huy động từ nhận từ tiền, ngoài ra NHTM còn phát hành giấy tờ có giá, vay vốn từ NHNN, các tổ chức tín dụng khác và các nguồn vốn khác

Nhận tiền gửi là nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội Bản chất của tài khoản tiền gửi

là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, ngân hàng chỉ

có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán… nhưng không có quyền sở hữu Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các ngân hàng

Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các ngân hàng còn phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Đối tượng mua chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu ngân hàng là các tổ chức và cá nhân Các

Trang 21

giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành có tính thanh khoản cao, chuyển hóa dễ dàng ra tiền thông qua việc mua bán trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại các ngân hàng

Do các giấy tờ có giá được hưởng lãi suất hấp dẫn lại có độ thanh khoản cao, nên ngân hàng có thể huy động được nhanh chóng một lượng vốn lớn thông qua phát hành giấy tờ có giá, đồng thời có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này vào các mục đích đã đặt ra Phát hành giấy tờ có giá thường được thực hiện khi ngân hàng đã cam kết tài trợ cho những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân ngắn, hay thiếu hụt nguồn vốn sau khi đã cân đối nguồn vốn trong toàn hệ thống Do đó, việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thường được thực hiện theo đợt

Một nguồn vốn khác của NHTM đến từ quan hệ vay mượn giữa NHTM

và NHTW hoặc với các tổ chức tín dụng khác Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tạm thời có ngân hàng thừa vốn có ngân hàng thiếu vốn làm phát sinh nhu cầu đi vay và cho vay lẫn nhau Thị trường vay mượn giữa các ngân hàng

là thị trường liên ngân hàng Khi có nhu cầu vay vốn, trước hết NHTM tìm đến các ngân hàng khác để vay, nếu không đáp ứng thì buộc phải vay NHTW Do

đó, NHTW được xem là người cho vay cuối cùng đối với NHTM

Trong quá trình kinh doanh, NHTM cũng tạo được một số nguồn vốn đặc thù như: vốn ủy thác, vốn trong thanh toán, hay vốn khác như tiền đặt cọc của khách hàng, nợ lương và các khoản khác

1.1.2 Khái niệm, phân loại tiền gửi tại ngân hàng thương mại

Tiền gửi ngân hàng (bank deposit) là tiền được gửi trong các tài khoản ở ngân hàng (theo nghĩa đơn giản) Trên thực tế, nó chính là số liệu về khoản nợ của một ngân hàng đối với người gửi tiền Loại tiền này phát sinh từ vai trò trung gian tài chính của ngân hàng Tiền gửi được giữ trong nhiều tài khoản khác nhau tùy thuộc vào điều kiện sử dụng hay rút tiền ra

Trang 22

Quá trình tự do hóa tài chính đã tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn trong ngành ngân hàng Điều này buộc các ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt trong việc huy động tiền gửi dưới nhiều hình thức (Hazon & Armi, 2008) Do các ngân hàng không bị quy định giới hạn của các sản phẩm tiền gửi họ có thể cung cấp nên các sản phẩm tiền gửi rất đa dạng Khách hàng có thể tự do thỏa thuận số tiền gửi tối thiểu, tỷ lệ lợi nhuận và thời gian đáo hạn trước khi gửi tiền gửi vào một tổ chức tài chính cụ thể Bên cạnh đó, các sản phẩm tiền gửi cũng có sẵn tại các tổ chức tài chính khác Trước những thay đổi này, để đối phó với các đối thủ cạnh tranh, các ngân hàng thương mại phải linh động hơn

về giá cả, sản phẩm cung cấp và chất lượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng của họ

Tiền gửi tại ngân hàng thương mại là khoản nợ lớn đối với các ngân hàng thương mại Kelvin (2001) nói rằng tiền gửi của các ngân hàng thương mại chiếm khoảng 70% nguồn vốn của ngân hàng thương mại Thực tế là các ngân hàng thương mại đang sử dụng khoản nợ này để cho vay và thu được lợi nhuận

từ đó Do đó, các ngân hàng sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu họ huy động nhiều tiền gửi hơn Tuy nhiên, huy động tiền gửi là một nhiệm vụ rất khó khăn Chi phí để huy động tiền gửi cũng là một phần rất quan trọng trong tổng chi phí của các ngân hàng

Tiền gửi càng nhiều sẽ được các ngân hàng sử dụng để cho vay và kiếm lợi nhuận càng nhiều Do đó, để tối đa hóa lợi nhuận của mình, ngân hàng nên tăng lượng tiền gửi của mình Mahendra (2005) cũng đã đề cập đến tiền gửi như là một nền tảng để các ngân hàng phát triển và đây là một khoản đặc biệt trên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại, cho thấy sự khác biệt với các loại hình tổ chức kinh doanh khác

Các ngân hàng thương mại chủ yếu phụ thuộc vào các khoản tiền mà

Trang 23

công chúng gửi cho họ để cho người khác vay để kiếm thu nhập Hamid (2011) cho rằng nếu các ngân hàng huy động vốn từ tiền gửi kém, họ sẽ phải sử dụng những nguồn vốn không phải tiền gửi, và những nguồn vốn này rất tốn kém

Tiền gửi bao gồm tất cả khoản tiền gửi của mọi tổ chức và cá nhân gửi tiền tại ngân hàng Tiền gửi có thể được phân loại theo nhiều cách:

- Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn

- Tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm

- Tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch

- Tiền gửi của cá nhân và tiền gửi của tổ chức

- Tiền gửi nội tệ và tiền gửi ngoại tệ

Sau đây là một số loại tiền gửi chính:

1 Tiền gửi không kỳ hạn

Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng một cách kịp thời, không hạn chế Tiền gửi không kỳ hạn có thể áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân, tuy nhiên trong thực tế người gửi tiền không kỳ hạn chủ yếu là các tổ chức Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm hau loại là tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch

Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán)

Đây là tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại ngân hàng với mục đích thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng Do mục đích của người gửi tiền không phải hưởng lợi tức mà để sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng nên hình thức gửi tiền này được trả lãi suất thấp hơn các hình thức gửi tiền khác Tiền gửi thanh toán có đặc điểm là khách hàng có thể gửi tiền vào và rút ra bất cứ lúc nào nên ngân hàng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh thì rủi ro cao hơn Do đó, ngân hàng phải duy trì dự trữ nhiều hơn so với loại hình tiền gửi khác

Trang 24

Tiền gửi phi giao dịch

Tiền gửi phi giao dịch tại ngân hàng nhằm mục đích an toàn tài sản, chứ không nhằm mục đích sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, cũng không đặt mục tiêu sinh lời là chính Vì là tiền gửi không kỳ hạn, nên ngân hàng cũng phải đáp ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng một cách kịp thời, không hạn chế

2 Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là tài khoản tiền gửi của khách hàng được hưởng lãi và có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng với ngân hàng Khách hàng gửi tiền được nhận lãi và gốc khi đáo hạn, lãi suất thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng không được ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Mục đích chủ yếu của những người gửi tiền có kỳ hạn là để lấy lãi Tiền gửi có kỳ hạn có thể áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân, tuy nhiên trong thực tế người gửi tiền chủ yếu là các tổ chức Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức kinh

tế thường có một bộ phân vốn nhàn rỗi tạm thời có thể kế hoạch được kỳ hạn

sử dụng của chúng như: khấu hao đã trích nhưng chưa sử dụng, tiền thu bán hàng nhưng chưa dùng mua nguyên vật liệu hay trả lương, các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng, Nếu để tại quỹ của

tổ chức thì nguồn tiền này sẽ không an toàn và sinh lời, do đó tổ chức sẽ gửi tiền gửi có kỳ hạn với ngân hàng

Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút trước hạn nhưng để cạnh tranh thu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn Tuy nhiên, người gửi tiền rút trước hạn dẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi, tùy theo quy định của từng ngân hàng trong từng thời kỳ

3 Tiền gửi tiết kiệm: Đây là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiền gửi tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo

Trang 25

hiểm tiền gửi Đây là hình thức gửi tiền được lập ra để thu hút vốn của những khách hàng có nhu cầu dành tiêng một khoản tiền cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai Lãi suất áp dụng cho tiền gửi tiết kiệm cao hơn nhiều so với tiền gửi Do đó, chi phí trả lãi cao nhưng bù lại chi phí duy trì và quản lý đối với loại tài khoản tiền gửi này thấp

1.1.3 Vai trò của tiền gửi đối với các ngân hàng thương mại

Nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn huy động từ tiền gửi có vai trò quan trọng đối với các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, nguồn vốn từ tiền gửi là tiền đề để ngân hàng tổ chức, thiết kế mọi hoạt động kinh doanh Nguồn vốn từ tiền gửi tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó lại là “điều kiện cần„ để ngân hàng đạt được lợi nhuận Không có nguồn vốn từ tiền gửi xem như không có hoạt động ngân hàng

Để được cấp phép hoạt động, NHTM phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định Do đặc thù kinh doanh ngân hàng nên vốn điều lệ thường chỉ đủ để tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở làm việc, máy móc thiết bị cần thiết Muốn thực hiện hoạt động cho vay hay đầu tư sinh lời buộc ngân hàng phải triển khai nghiệp

vụ huy động vốn từ tiền gửi Chính vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn từ tiền gửi rất quan trọng đối với kinh doanh ngân hàng

Thứ hai, vốn quyết định khả năng sinh lời và mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong kinh doanh nói chung, để có lợi nhuận cao đòi hỏi doanh nghiệp phải tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh tranh Trong kinh doanh ngân hàng, đối tượng kinh doanh là tiền tệ, do

đó, quá trình tìm kiếm lợi nhuận chủ yếu thông qua hoạt động huy động và cho vay đối với chủ thể trong nền kinh tế Với lượng vốn dồi dào sẽ giúp ngân hàng

có khả năng cho vay nhiều hơn, từ đó tăng được dư nợ, giúp ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì vậy, vốn từ tiền gửi là yếu tố quan trọng quyết định quy mô và kết quả kinh doanh của ngân hàng Với nguồn vốn kinh doanh

Trang 26

hạn hẹp sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, làm giảm khả năng tăng lợi nhuận cho ngân hàng

Thứ ba, nguồn vốn huy động từ tiền gửi quyết định khả năng phòng chống rủi ro cho ngân hàng Nguồn vốn từ tiền gửi lớn sẽ tạo cho ngân hàng có năng lực dự trữ sơ cấp và thứ cấp tốt hơn, giúp cho ngân hàng phòng chống rủi

ro thanh khoản hiệu quả mà vẫn duy trì được độ an toàn và tính sinh lời của tài sản Ngân hàng duy trì dự trữ sơ cấp dưới dạng tiền mặt, tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác còn dự trữ thứ cấp dưới dạng các chứng khoán thanh khoản Nguồn vốn từ tiền gửi lớn sẽ giúp cho ngân hàng đa dạng hóa được danh mục đầu tư chứng khoán, vì thế khi có nhu cầu thanh khoản, ngân hàng chỉ cần bán một bộ phận chứng khoán thanh khoản theo giá trị thị trường

mà không phải tăng chi phí Hơn nữa, khi danh mục đầu tư chứng khoán được

đa dạng hóa thì rủi ro biến động giá cả được giảm xuống đáng kể

Nguồn vốn từ tiền gửi lớn chứng tỏ ngân hàng có uy tín cao, nên khi gặp rủi ỏ thanh khoản hay muốn mở rộng cho vay thì ngân hàng có thể đi vay một cách dễ dàng với các điều kiện tín dụng hợp lý Một ngân hàng có nguồn vốn

từ tiền gửi lớn có quan hệ với rất nhiều các chủ thể khác nhau trong nền kinh

tế Chính vì vậy, khi ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản, nếu không được xử lý kịp thời sẽ kéo theo nhiều hệ lụy, tác động tiêu cực đến nhiều chủ thể khác nhau

có quan hệ với cả nền kinh tế Chính vì điều này mà những ngân hàng có nguồn vốn từ tiền gửi lớn thường dễ tiếp cận với NHNN để nhận khoản vay cuối cùng

để xử lý vấn đề thanh khoản của ngân hàng

Thứ tư, quy mô nguồn vốn từ tiền gửi quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng Trước hết, vốn quyết định khả năng cạnh tranh về giá Khi quy

mô vốn lớn sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa danh mục cho vay và đầu tư, làm giảm rủi ro, từ đó có thể giảm lãi suất cho vay Bên cạnh đó, ngân hàng thực hiện các khoản cho vay với giá trị lớn, làm giảm chi phí quản lý khoản vay trên

Trang 27

một đồng vốn, từ đó làm giảm lãi suất cho vay Lãi suất cho vay giảm là cơ sở

để ngân hàng nâng cao khả năng và vị thế cạnh tranh trên thương trường Vốn còn quyết định khả năng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ Trên thực tế, vốn lớn thì ngân hàng dễ dàng hiện đại hóa công nghệ và đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ Chỉ các ngân hàng lớn mới có thể tạo ra được một danh mục sản phẩm tài chính đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Với nguồn vốn lớn, ngân hàng dễ dàng đầu tư cho việc nghiên cứu triển khai các sản phẩm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ

1.1.4 Lý thuyết tài chính về tiền gửi

1.1.4.1 Lý thuyết về cầu tiền

Theo lý thuyết về nhu cầu tiền của Keynes, có ba động cơ chính khiến mọi người nắm giữ tiền: giao dịch, phòng ngừa và đầu tư Để phục vụ cho những động cơ này, các ngân hàng thương mại cung cấp các loại hình tiền gửi khác nhau: tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi được thiết kế cho những người cần tiền cho mục đích giao dịch Động cơ này được xem xét từ quan điểm của người tiêu dùng muốn có thu nhập để đáp ứng chi tiêu hộ gia đình của họ và từ quan điểm của các doanh nghiệp cần tiền và muốn giữ nó để tiếp tục kinh doanh Do đó, mục đích của tiền gửi là để thuận tiện thực hiện các khoản thanh toán hàng ngày Nếu như tiền gửi với mục đích thực hiện các giao dịch hàng ngày thì loại tiền gửi tiết kiệm phục vụ nhu cầu của người muốn tiết kiệm và tăng thêm thu nhập Người gửi tiền trong tài khoản tiền gửi tiết kiệm còn vì động cơ phòng ngừa với những tình huống không lường trước được (Haronet Al, 2003)

Phát triển lý thuyết của Keynes, có ba lý thuyết chính liên quan đến hành

vi tiết kiệm: giả thuyết thu nhập vĩnh viễn - Permanent income hypothesis của Friedman (1957), mô hình vòng đời - Life cycle model của Modigliani và Brumberg (1954) và lý thuyết gần đây hơn về hành vi tiết kiệm riêng biệt của

Trang 28

Subramanian & Deaton (1991) và (Carroll, 1992) là lý thuyết cổ phiếu đệm - The buffer-stock theory

Giả thuyết thu nhập tuyệt đối được Keynes đưa ra vào năm 1936 Giả thuyết cho rằng mức chi cho tiêu dùng chỉ phụ thuộc vào thu nhập cá nhân, do

đó tiết kiệm là phần vượt quá thu nhập so với chi tiêu Mở rộng quan điểm của Keynes, Friedman (1957) lập luận rằng cách tốt nhất để hiểu hành vi tiêu dùng

và tiết kiệm là xem xét việc các cá nhân lên kế hoạch hợp lý để tiêu dùng tài sản của họ như thế nào trong đời Giả thuyết thu nhập vĩnh viễn dự đoán rằng thu nhập trong tương lai cao hơn sẽ làm giảm tiết kiệm hiện tại Thực hiện một nghiên cứu đồng thời và độc lập, Modigliani và Brumberg (1954) đã đề xuất giả thuyết vòng đời trong đó nhấn mạnh rằng động lực chính của tiết kiệm là tích lũy cho nghỉ hưu Theo ông, trong giai đoạn đầu của cuộc sống năng động, một cá nhân sẽ chi tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được, bằng cách đi vay mượn, biết rằng thu nhập của họ trong tương lai sẽ tăng lên Khi đó tỷ lệ tiết kiệm của họ là âm Tỷ lệ tiết kiệm này sẽ chuyển qua dương, và sẽ tăng lên cho đến khi cá nhân đạt được thu nhập tối đa, trong những năm trước khi nghỉ hưu Sau khi nghỉ hưu, họ sẽ thanh toán các khoản tiết kiệm ấy Vì vậy, tỷ lệ tiết kiệm, trong vòng đời của một người, có hình của một chiếc chuông Và vì vậy khoản tiết kiệm ấy, cũng như mức tiêu dùng, không được xác định bởi thu nhập hiện hành Modiglian (1966, 1970) cho rằng tốc độ tăng trưởng cao làm tăng tổng thu nhập của người lao động so với người nghỉ hưu và người phụ thuộc,

do đó nâng cao tỷ lệ tiết kiệm tổng hợp Lập luận này cũng được ủng hộ mạnh

mẽ bởi Attanasio et al (2000)

Một số phát triển mới của giả thuyết thu nhập vĩnh viễn là lý thuyết hành vi tiết kiệm cổ phiếu đệm của Carroll (1992) Lý thuyết này lập luận rằng các cá nhân nắm giữ tài sản với động cơ bảo vệ tiêu dùng của họ trước những biến động về thu nhập không dự đoán trước được Lý thuyết giả định rằng người

Trang 29

tiêu dùng trở nên thiếu kiên nhẫn và thận trọng khi họ phải đối mặt với các nguồn thu nhập quan trọng nhưng không chắc chắn Họ thiếu kiên nhẫn vì họ phải đi vay so với thu nhập trong tương lai để để đáp ứng mức tiêu dùng hiện tại, và họ cũng thận trọng vì họ cần đề phòng Để tránh những nguy cơ biến động thu nhập trong tương lai cũng như đảm bảo mức tiêu dùng, người tiêu dùng buộc phải trích lập dự phòng bằng cách giảm thiểu mức tiêu dùng hiện tại

để tiết kiệm cho các sự cố ngẫu nhiên Do đó làm cho tỷ lệ tiết kiệm theo chu

kỳ, có nghĩa là các cá nhân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn khi thu nhập cao hơn để đáp ứng tiêu dùng trong thời gian xấu

Như vậy, có ba động cơ chính khiến con người nắm giữ tiền: giao dịch, phòng ngừa và đầu tư Để phục vụ cho những động cơ này, các ngân hàng thương mại đưa ra các loại tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi có thể được xem xét từ quan điểm của người tiêu dùng muốn có thu nhập để đáp ứng chi tiêu hộ gia đình của họ và từ quan điểm của các doanh nhân cần tiền và muốn giữ nó để thực hiện các hoạt động kinh doanh của họ

1.1.4.2 Lý thuyết về tài chính hành vi

Lý thuyết tài chính hành vi kết hợp tâm lý học vào tài chính được hình thành và phát triển muộn hơn so với các lý thuyết tài chính cổ điển Kể từ những năm 1880 khi nhà tâm lý học người Pháp Gabriel Tarde bắt đầu nghiên cứu về tâm lý học vào khoa học kinh tế thì phải mất 100 năm sau, vào thập kỷ 1980 các ứng dụng tâm lý học trong tài chính mới có bước phát triển đáng kể Trong các nghiên cứu về tài chính hành vi phải kể đến các nghiên cứu quan trọng của Kahneman & Tversky (1979), đưa ra mô hình quyết định dựa trên phán xét và cảm nhận Đây là những quy tắc cảm nhận, suy luận và đánh giá chủ quan của con người đối với việc ra quyết định Simon (1982) cũng khẳng định lý thuyết

về cảm nhận và phán xét trước khi ra quyết định quan trọng Đặc biệt, Shiller (2000) với quyển sách nổi tiếng “Irrational Exuberance„ dự báo chính xác sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu toàn cầu không lâu sau đó, đã tạo ra bước ngoặt

Trang 30

lớn cho những nhà nghiên cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiên cứu mới

Lý thuyết tài chính hành vi phản ánh sự kết hợp giữa kinh tế và tâm lý của con người để giải thích các quyết định của cá nhân Đây là một lĩnh vực tương đối mới nhưng đang phát triển nhanh chóng và ngày càng chứng tỏ những ứng dụng hữu ích và là một bổ sung quan trọng cho tài chính chuẩn Bằng sự gắn kết lý thuyết về tâm lý và lý thuyết về tài chính, tài chính hành vi đã phân tích và giải thích được các vấn đề khó và phức tạp vượt ra khỏi khả năng giải thích bởi các lý thuyết kinh tế cổ điển và lý thuyết tài chính truyền thống Lý thuyết sử dụng các yếu tố xã hội, nhận thức, cảm xúc để đánh giá các quyết định kinh tế của chủ thể kinh tế Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng các cá nhân chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân, niềm tin cá nhân, kinh nghiệm cá nhân, và các yếu tố về cảm xúc, thói quen, nguồn thông tin khi đưa ra quyết định về việc gửi hay rút tiền tại một ngân hàng Chính vì thế đặc điểm người gửi tiền cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người gửi tiền cũng như lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

Tóm lại, trong các lý thuyết liên quan đến cầu tiền, lý thuyết cổ phiếu đệm và lý thuyết tài chính hành vi được cho là phù hợp nhất để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

1.2 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố tác động đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố vĩ mô tác động đến lượng tiền gửi

Các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước có thể ảnh hưởng đến lượng tiền gửi ngân hàng thương mại Theo Harald & Heiko (2008), rủi ro cụ thể của quốc gia như rủi ro chính trị, kinh tế và tài chính có thể ảnh hưởng đến

xu hướng người gửi tiền đặt tiền vào hệ thống ngân hàng Nói chung, một ngân hàng thành công trong hoạt động của họ chủ yếu phụ thuộc vào môi trường mà ngân hàng đó hoạt động Các nhà nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố cụ

Trang 31

thể của quốc gia ảnh hưởng đến tiền gửi tại các ngân hàng thương mại bao gồm: lãi suất, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, các cú sốc,

1.2.1.1 Lãi suất thực tế

Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát Masson et al (1998) cho rằng lãi suất có quan hệ tích cực đối với tăng trưởng tiền gửi tại các ngân hàng ở các nước đang phát triển Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh, tuy nhiên kết quả không mạnh mẽ lắm Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Hazon và Azmi (2008) tại các ngân hàng ở Malaysia Mohammad & Mahdi (2010) nói rằng trong điều kiện lãi suất thực âm, mọi người rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng Theo tác giả này, một số nghiên cứu cho rằng việc giảm lãi suất thực có thể làm giảm nhu cầu thực sự về tiền Do đó, nó nói rằng lãi suất

và tiền gửi của các ngân hàng có mối quan hệ tích cực

Tuyishime (2015) chỉ ra rằng lãi suất ảnh hưởng đến tiền gửi và qua đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng Trái ngược với nghiên cứu về các yếu tố quyết định huy động tiền gửi ở Ethiopia do Girgan Garo (2015) thực hiện, tác giả cho rằng lãi suất và khối lượng tiền gửi tương quan nghịch với nhau Những phát hiện tương tự có thể được kiểm chứng trong các nghiên cứu của Siyambola (2012) và Wubitu (2012) Phân tích hồi quy của họ cho thấy rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tăng trưởng tiền gửi

1.2.1.2 Lạm phát

Lạm phát được coi là một vấn đề kinh tế ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20 Lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, việc làm, phân phối thu nhập và sự giàu có cũng như các điều kiện chính trị xã hội của một quốc gia (Mohammad & Mahdi, 2010) Hệ thống ngân hàng với tư cách là nhân

tố hiệu quả quan trọng trong hoạt động kinh tế cũng chịu ảnh hưởng của lạm phát Khi tỷ lệ lạm phát tăng, tỷ lệ lãi suất thực tế giảm; do đó tiền gửi không còn hấp dẫn

Trang 32

Hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng bởi lạm phát về mặt hấp thụ tiền gửi (Mohammad & Mahdi, 2010) Theo Mohammad & Mahdi (2010), ở các nước phát triển mối tương quan tiêu cực giữa lạm phát và tiền gửi đã được ghi nhận Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển thì điều ngược lại là đúng Tương tự, ở Nigeria, Ojeaga & Odejimi (2013) cho thấy rằng lãi suất có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến tiền gửi ngân hàng Trong khi đó, Haron & Azmi (2006) cho biết

tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tiền gửi ngân hàng tại Malaysia

Liên quan đến tác động của lạm phát đối với tiết kiệm, có thể nói rằng, tất cả các cá nhân tiết kiệm một phần thu nhập của họ trong các ngân hàng đều

bị thiệt hại trực tiếp bởi lạm phát và tài sản của họ giảm theo tỷ lệ giảm giá trị của tiền (Mohammad & Mahdi, 2010) Trong trường hợp đó, Mohammad & Mahdi (2010) mô tả mọi người cố gắng đổi tiền mặt và tiền tiết kiệm sang các tài sản ổn định và đáng tin cậy hơn như đất đai, trang sức, đồ cổ, ngoại tệ làm giảm tổng tiền gửi ngân hàng thương mại Tỷ lệ lạm phát cao làm giảm giá trị thực của tiền gửi và đòi hỏi mọi người phải bỏ nhiều tiền hơn cho tiêu dùng và giảm tiêu thụ trong tương lai (M A Baqui & Richard L Meyer, 198; Ünvan & Yakubu, 2020) Theo Harald & Heiko (2008), lạm phát là một trong những yếu

tố quyết định lượng tiền gửi ngân hàng thương mại Mohammad & Mahdi (2010) đã chỉ ra rằng ở Mỹ Latinh, tác động của lạm phát đối với tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn là tiêu cực một cách đáng kể

1.2.1.3 Tăng trưởng kinh tế

Hiệu quả kinh tế nói chung được đo lường thông qua hai chỉ tiêu: GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) hoặc thu nhập bình quân đầu người

GDP là một biến số đã trở thành thước đo phổ biến trên thực tế cho mức sống Nó được áp dụng phổ biến theo các tiêu chuẩn chung, và có một số lợi ích không thể phủ nhận chủ yếu là do tính đơn giản của nó Khi tổng sản phẩm quốc

Trang 33

nội tăng, ngoài việc tăng nhu cầu giao dịch đối với tiền, sẽ làm tăng tiết kiệm của cộng đồng (Sandhu và Goswami, 1986) Các yếu tố quyết định hành vi tiết kiệm của các nước đang phát triển được nghiên cứu bởi Masson et al (1998) và họ phát hiện ra rằng tăng trưởng GDP có liên quan tích cực đến tiết kiệm ở nhóm quốc gia trên, mặc dù có sự khác biệt nhỏ về mức độ của các mối quan hệ này

Theo Harald & Heiko (2008), tăng trưởng là một trong những yếu tố quyết định đối với tiền gửi ngân hàng thương mại Erna & Ekki (2004) cũng cho rằng GDP có ảnh hưởng đến khối lượng tiền gửi Doshi (1994) đã xem xét ảnh hưởng của mức tăng trưởng dân số và mức tăng trưởng thu nhập (được đo bằng tổng sản phẩm quốc dân GDP) đến tiết kiệm ở 129 quốc gia Nghiên cứu này cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến tiết kiệm ở các nước kém phát triển, trong khi mối quan hệ nghịch đảo đã được ghi nhận tại các nước phát triển

Theo Meyer (1989), thu nhập tăng dẫn đến tăng tiền gửi Khi thu nhập tăng, một tỷ lệ tài sản của hộ gia đình dự kiến sẽ được nắm giữ dưới hình thức tài chính bao gồm gửi tiền ngân hàng để giao dịch và tiết kiệm (Blanco và Meyer, 1988) Họ cũng phát hiện ra rằng thu nhập hộ gia đình ảnh hưởng đến tiền gửi ngân hàng thông qua ảnh hưởng của chúng đến năng lực và mức độ sẵn sàng tiết kiệm

Theo Jim (2008), thu nhập bình quân đầu người là mức GDP chia cho dân số của một quốc gia hoặc khu vực Thay đổi GDP thực tế trên đầu người theo thời gian thường được hiểu là thước đo thay đổi trong mức sống trung bình của một quốc gia Khi thu nhập của xã hội tăng lên thì lượng tiền gửi ngân hàng thương mại cũng tăng lên Nói cách khác, khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì sẽ tăng tiền gửi ngân hàng thương mại Mahendra (2005) cũng chỉ ra rằng thu nhập của xã hội rất quan trọng đối với tăng trưởng tiền gửi của ngân hàng Trong khi các biến nhân khẩu học có ảnh hưởng quan trọng với tỷ

Trang 34

lệ tiết kiệm ở châu Á thì thu nhập bình quân đầu người ở châu Phi và tăng trưởng thu nhập ở các nước Mỹ Latin đã được tìm thấy là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng tiền gửi tại ngân hàng thương mại (Doshi, 1994)

1.2.1.4 Cú sốc

Các cú sốc ảnh hưởng đến tiền gửi và lãi suất trong thời kỳ khủng hoảng đối với bất cứ ngân hàng nào và phản ứng của nhà đầu tư đối với việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng luôn tăng lên sau khủng hoảng (Maria & Sergio, 2001) Do đó, với các biến số khác không đổi, các cú sốc đã xảy ra trong nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng

Hosono (2005) đã kiểm tra hiệu quả của kỷ luật thị trường ở các nước Châu Á trong thời kỳ khủng hoảng Kết quả của ông cho thấy khả năng phản ứng của người gửi tiền đối với việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng thấp hơn trong và sau cuộc khủng hoảng so với trước khi khủng hoảng Demirgüç-Kunt

và Huizinga (2013) đã xem xét tác động của bảo hiểm tiền gửi đối với hành vi của người gửi tiền khi nghe thông tin ngân hàng gặp rủi ro Rõ ràng, bảo hiểm tiền gửi làm giảm độ nhạy cảm của người gửi tiền khi tiếp nhận những thông tin không tốt về ngân hàng

Muhamad Abduh (2013) cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính 2007 –

2008 tại Malaysia ảnh hưởng tích cực đến tổng tiền gửi tại các ngân hàng Hồi giáo Nghiên cứu cung cấp bằng chứng về niềm tin của người gửi tiền Nó chỉ

ra rằng, do kinh nghiệm khủng hoảng tài chính 1997-1998, người gửi tiền đã tin tưởng vào ngân hàng Hồi giáo khi đối mặt với khủng hoảng tài chính và do

đó, dòng tiền gửi vào các ngân hàng Hồi giáo tăng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về nhân tố thuộc về ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi

Ngoài các nhân tố vĩ mô được tìm hiểu ở phần trước, các nhân tố thuộc

Trang 35

về đặc thù ngân hàng thương mại đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích nhu cầu tiền gửi ở cấp ngân hàng (Haral & Heiko, 2009) Trong phần này, tác giả đưa ra tổng quan một số các nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại có ảnh hưởng đến tiền gửi của họ

1.2.2.1 Thanh khoản của ngân hàng

Quản lý thanh khoản của ngân hàng liên quan đến việc có đủ tài sản lưu động để đáp ứng nghĩa vụ của ngân hàng đối với người gửi tiền Theo các lý thuyết về trung gian tài chính, hai lý do quan trọng nhất cho sự tồn tại của các

tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng, là việc cung cấp thanh khoản và dịch vụ tài chính (ISMAL, 2010) Theo ISMAL (2010), liên quan đến tính thanh khoản, các ngân hàng chấp nhận tiền từ người gửi tiền và mở rộng số tiền

đó bằng cách cho vay, tuy nhiên vai trò của ngân hàng trong việc chuyển tiền gửi ngắn hạn thành cho vay dài hạn làm cho chúng dễ bị rủi ro thanh khoản (Bank for International Settlements, 2008) Cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ sẽ sẵn sàng gửi tiền vào ngân hàng nếu họ chắc chắn rằng họ có thể rút tiền bất cứ khi nào họ muốn, đây là câu hỏi về thanh khoản của các ngân hàng Các ngân hàng có tính thanh khoản cao hơn có thể thu hút tiền gửi nhiều hơn

Bộ đệm thanh khoản cao hơn (được đo bằng tỷ lệ tài sản lưu động trên tiền gửi) có xu hướng ủng hộ cầu tiền gửi Harald & Heiko (2008) cho rằng tình hình thanh khoản của ngân hàng cũng đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng tiền gửi ngân hàng Các ngân hàng thanh khoản cao hơn thì tăng trưởng tiền gửi cao hơn Theo Nada (2010), các ngân hàng được coi là rủi ro nếu gặp khó khăn hơn trong việc thu hút tiền gửi và cho vay so với các ngân hàng được coi là an toàn Khi các ngân hàng không thanh toán cho người gửi tiền thì nó phải đối mặt với rủi ro thanh khoản khiến những người gửi tiền khác không gửi tiền vào ngân hàng đó

1.2.2.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng

Khả năng sinh lời của ngân hàng thường được đo bằng tỷ lệ giữa lợi

Trang 36

nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng) trên tổng tài sản bình quân hoặc bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân

Erna & Ekki (2004) thấy rằng mối quan hệ lâu dài giữa tiền gửi ngân hàng thương mại và lợi nhuận của các ngân hàng Lợi nhuận ngân hàng cao hơn sẽ có xu hướng báo hiệu sự vững chắc của ngân hàng, điều này có thể giúp các ngân hàng này dễ dàng thu hút tiền gửi hơn (Harald & Heiko, 2008) Tuy nhiên, ảnh hưởng của lợi nhuận ngân hàng và quy mô ngân hàng được tìm thấy

là không đáng kể khi bị kiểm soát các biến khác Vì vậy, ảnh hưởng của lợi nhuận và quy mô ngân hàng đối với tiền gửi ngân hàng thương mại thấp hơn

so với các biến khác

1.2.2.3 Lãi suất tiền gửi

Một trong những nhân tố hiệu quả nhất để quyết định gửi tiền vào hệ thống ngân hàng là lãi suất (Mohammad & Mahdi, 2010) Harald & Heiko (2008) cũng đề cập đến lãi suất là một trong những yếu tố quyết định đối với tiền gửi ngân hàng thương mại Philip (1968) cũng nói rằng việc đưa ra lãi suất hấp dẫn đối với tiền gửi ngân hàng có thể được coi là có tác dụng có lợi Hơn nữa, Mustafa & Sayera (2009) nói rằng lãi suất tiền gửi thấp đang không khuyến khích huy động tiết kiệm

Theo Erna & Ekki (2004), người gửi tiền bị thu hút để gửi tiền vào ngân hàng vì chi phí cơ hội nắm giữ tiền mặt cao khi lãi suất cũng cao Tương tự như Đài Loan, lãi suất dường như quan trọng đối với người Trung Quốc trong việc gửi tiền (Tan, 2003)

Hơn nữa, khi nghiên cứu các nhân tố quyết định đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng Hồi giáo ở Indonesia, Erna & Ekki (2004) thấy rằng những người gửi tiện tại các ngân hàng Hồi giáo chủ yếu hành động bởi động cơ lợi nhuận,

họ chọn các ngân hàng có lãi suất cao hơn để gửi tiền Điều này cùng quan điểm với Lomuto (2008), Harald & Heiko (2009) khi nghiên cứu về tiền gửi tại

Trang 37

các ngân hàng ở Kenya Lãi suất hấp dẫn cũng chiếm khoảng 78% biến động

về mức tiền gửi tại các ngân hàng Ghana, điều đó chứng minh rằng lãi suất hấp dẫn đối với những người có tiền nhàn rỗi để tiết kiệm (Eric và cộng sự, 2015) Khi nghiên cứu các nước G7 trong giai đoạn 1960-1999, Cohn và Kolluri (2003) cũng tìm thấy phản ứng tích cực của hành vi tiết kiệm với lãi suất

Lê (2012) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu hành vi gửi tiền tiết kiệm ngân hàng của khách hàng cá nhân” đã nhận thấy chính sách lãi suất là một trong những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng vốn huy động nói chung và tiền gửi nói riêng của ngân hàng Mức lãi suất ngân hàng đưa ra phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát để người gửi tiền hưởng được một mức lãi suất thực dương Ngân hàng phải đưa ra được một chính sách lãi suất hợp lý, linh hoạt và đảm bảo lợi ích của người gửi tiền, lợi ích của ngân hàng, giúp ngân hàng đạt hiệu quả trong công tác huy động vốn

1.2.2.4 Quy mô ngân hàng

Một trong số các yếu tố nổi bật được xác định là ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tiền gửi là quy mô ngân hàng Trong hầu hết các tài liệu, tổng tài sản của ngân hàng được sử dụng như một đại diện cho quy mô ngân hàng Các nghiên cứu trước đây có những kết luận không đồng nhất về tác động của quy

mô ngân hàng đến tiền gửi ngân hàng

Molyneux và Thornton (1992), Bikker và Hu (2002), Goddard et al (2007) và Ikuko & Konishi (2007) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa quy

mô và tăng trưởng tiền gửi Quy mô lớn cũng như mạng lưới chi nhánh lớn hơn giúp các ngân hàng huy động được lượng tiền gửi nhiều hơn so với các ngân hàng nhỏ Trái ngược với quan điểm trên, Kaufman (1972) và Harald & Heiko (2008) lại cho rằng các ngân hàng nhỏ hơn tuy tạo ra ít tiền gửi hơn về mặt tuyệt đối nhưng về mặt tương đối lại có tốc độ tăng trưởng tiền gửi cao hơn các ngân hàng lớn, do đó có thể có lợi cho các ngân hàng nhỏ trong việc đạt được

Trang 38

tăng trưởng tiền gửi cao hơn

Ngoài tổng tài sản ra, quy mô ngân hàng còn được thể hiện bởi số lượng chi nhánh và phòng giao dịch Có một mối quan hệ giữa tiền gửi ngân hàng thương mại và việc mở rộng chi nhánh ngân hàng thương mại Không chỉ các khoản tiền gửi bị ảnh hưởng bởi các chi nhánh ngân hàng, mà việc mở rộng các chi nhánh ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi mức độ tiền gửi ở bất kỳ khu vực nào (M A Baqui & Richard L Meyer, 1987) Dự kiến các ngân hàng đưa ra quyết định mở rộng chi nhánh của họ bằng cách xem xét các yếu tố như mức

độ cạnh tranh, tiềm năng tiền gửi, thu nhập khu vực và sự thuận tiện của đường

bộ và phương tiện Vì tiềm năng tiền gửi là một điều mà các ngân hàng xem xét trong việc mở rộng chi nhánh, tiền gửi cũng có thể là một lý do cho chiến lược mở rộng chi nhánh mà ngành ngân hàng sử dụng Theo (Erna & Ekki, 2004), có một mối quan hệ lâu dài giữa chi nhánh ngân hàng thương mại và tiền gửi ngân hàng thương mại

1.2.2.5 Chất lượng tín dụng

Chất lượng khoản vay tốt sẽ báo hiệu sự thành công của ngân hàng trong việc tạo thu nhập cũng như nhu cầu thu hút nhiều tiền gửi hơn để hỗ trợ các hoạt động tín dụng của ngân hàng (Harald & Heiko, 2008)

Nghiên cứu các khoản tiền gửi tại Mỹ, Park và Peristiani (1998) đã chứng minh mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng tiền gửi và tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu cao khiến cho người gửi tiền cảm thấy sự không an toàn khi gửi tiền vào các ngân hàng đó, điều đó làm giảm lượng tiền gửi tại ngân hàng Ikuko & Konishi (2007) cho rằng tỷ lệ nợ xấu là một trong số những nhân tố

có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng tiền gửi Với các ngân hàng không đáp ứng được các yêu cầu về lành mạnh và an toàn tài chính thì lượng tiền gửi sẽ giảm

1.2.2.6 Một số nhân tố khác

Trang 39

Công nghệ tài chính: Các công nghệ tài chính cho phép khách hàng tiếp

cận các dịch vụ không dùng tiền mặt trong 7 ngày-24 giờ (Gunnar & Zhao, 2013) Nó thay đổi vượt ra khỏi giới hạn của một ngân hàng truyền thống Tiền gửi bình quân đầu người của các nước tăng trưởng tốt sau khi có các dịch vụ thanh toán thẻ, ATM và các công nghệ ngân hàng di động Một nghiên cứu ở Georgia chỉ ra rằng những công nghệ này đã làm giảm nhu cầu nắm giữ tiền mặt trong ví Bên cạnh đó, các dịch vụ liên quan đến tiết kiệm như mở sổ, rút tiền hay tất toán hiện nay đều được triển khai online khiến cho lượng tiền gửi tại các ngân hàng gia tăng

Nghiên cứu của Capgemini (2016) đã chỉ ra một cách đầy đủ các hướng ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống ngân hàng toàn cầu trong hiện tại

và tương lai gần Đó là sự gia nhập của các công ty fintech, trở thành đối thủ, đồng thời cũng là đối tác của các NHTM trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng áp dụng công nghệ cao cho khách hàng Hơn nữa, đầu tư và nâng cấp hệ thống Core banking (phần mềm ngân hàng lõi), công nghệ bảo mật, hệ thống quản lý rủi ro cũng là yêu cầu bắt buộc trong điều kiện các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, hiện đại trong một môi trường ngày càng bất trắc

Dịch vụ đa dạng: Một ngân hàng cung cấp đa dạng các dịch vụ cho khác

hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền hơn (Bhatt, 1970)

Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất chính là yếu tố trực quan nhất ảnh hưởng

đến khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng Trong marketing dịch vụ, sự hấp dẫn của cơ sở vật chất là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của ngân hàng Kết quả nghiên cứu của Mokhlis (2008), Phạm (2010), Hà (2014) đã chỉ ra rằng cơ sở vật chất có ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng

Sau đây là bảng tổng hợp các nghiên cứu thế giới về nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi ngân hàng:

Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thế giới về nhân tố vĩ mô và nhân

Trang 40

tố thuộc ngân hàng tác động đến lượng tiền gửi ngân hàng

Kết quả nghiên cứu

Loayza &

Shankar

(2000)

Ấn Độ VECM Lãi suất thực tế, thu nhập

bình quân đầu người và

tỷ trọng nông nghiệp trong GDP có mối quan

hệ tích cực với tiết kiệm, trong khi mối quan hệ nghịch đảo đã được tìm thấy đối với phát triển tài chính, lạm phát và tỷ lệ phụ thuộc

Haral & Lebano 1993- VECM Lãi suất, tăng trưởng

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Thị Anh Thư (2017), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Huế, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật, số 20, Tr. 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Huế
Tác giả: Hoàng Thị Anh Thư
Năm: 2017
5. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
8. Ngân hàng Nhà nước, 2006-2019. Báo cáo thường niên từ năm 2006 đến năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nhà nước, 2006-2019
9. Nguyễn Thị Thái Hà, 2014. Một số kết quả nghiên cứu hành vi gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thái Hà, 2014
10. Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2013. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến khả năng duy trì khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2013
12. Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thu Thủy, 2014, Giáo trình Nguyên lý và nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thu Thủy, 2014, Giáo trình Nguyên lý và nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
13. Phạm Thị Tâm và Phạm Ngọc Thúy, 2010, Yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng luqanj chọn ngân hàng của khách hàng cá nhân, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, số 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng
14. Trịnh Thanh Bình, 2013. Quan hệ tương quan giữa hành vi khách hàng gửi tiền và việc lựa chọn giao dịch ngân hàng trong khu vực các quận nội thành Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ tương quan giữa hành vi khách hàng gửi tiền và việc lựa chọn giao dịch ngân hàng trong khu vực các quận nội thành Hà Nội
15. Abduh, Muhamad and Omar, Mohd Azmi and Duasa Jarita, 2011. The Impact of Crisis and Macroeconomic Variables Towards Islamic Banking Deposits. American Journal of Applied Sciences, Vol. 8, No. 12, pp.1413-1418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal of Applied Sciences
17. Adams, Jr, R. H. (2002). Nonfarm income, inequality, and land in rural Egypt. Economic Development and Cultural Change, 50(2), 339-363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Development and Cultural Change, 50
Tác giả: Adams, Jr, R. H
Năm: 2002
18. Ahn, S.C. and P. Schmidt, 1995. Efficient estimation of models for dynamic panel data, Journal of Econometrics, Vol. 68, 5–27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Econometrics
19. Ali, S. A. S., Eldaw, K. E. H. I., Alsmadi, M. K., & Almarashdeh, I. (2019). Determinants of deposit of commercial banks in Sudan: an empirical investigation (1970-2012). International Journal of Electronic Finance, 9(3), 230-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Electronic Finance
Tác giả: Ali, S. A. S., Eldaw, K. E. H. I., Alsmadi, M. K., & Almarashdeh, I
Năm: 2019
20. Ameriks, J., Caplin, A., & Leahy, J. (2003). Wealth accumulation and the propensity to plan. The Quarterly Journal of Economics, 118(3), 1007-1047 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Quarterly Journal of Economics, 118
Tác giả: Ameriks, J., Caplin, A., & Leahy, J
Năm: 2003
21. Anderson Jr., W.T., Cox III, E.P. and Fulcher, D.H., 1976. Bank selection decisions and market segmentation. Journal of Marketing, Vol. 40, No. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Marketing
22. Arellano, M. and S. Bond, 1991. Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. Review of Economic Studies 58, 277–297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Economic Studies
23. Arellano, M. and O. Bover, 1995. Another look at the instrumental variable estimation of error-component models. Journal of Econometrics 68, 29–51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Econometrics
26. Attanasio, O. P., & Weber, G. (1993). Consumption growth, the interest rate and aggregation. The Review of Economic Studies, 60(3), 631-649 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Review of Economic Studies, 60
Tác giả: Attanasio, O. P., & Weber, G
Năm: 1993
27. Attanasio, O. P., Picci, L., & Scorcu, A. E. (2000). Saving, growth, and investment: a macroeconomic analysis using a panel of countries. Review of Economics and Statistics, 82(2), 182-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Economics and Statistics
Tác giả: Attanasio, O. P., Picci, L., & Scorcu, A. E
Năm: 2000
28. Avery, R. B., & Kennickell, A. B. (1991). Household Saving in the US. Review of Income and Wealth, 37(4), 409-432 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Income and Wealth, 37
Tác giả: Avery, R. B., & Kennickell, A. B
Năm: 1991
49. Capgemini, 2016. Banking Top 10 Trends 2016, online at https://www.capgemini.com/wp Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thành phần hóa học của thân cây sắn sau chế biến và bảo quản - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Bảng 2. Thành phần hóa học của thân cây sắn sau chế biến và bảo quản (Trang 4)
4 FEM Mô hình hồi quy tác động cố định 5 GDP Tổng sản phẩm quốc nội - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
4 FEM Mô hình hồi quy tác động cố định 5 GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Trang 8)
• Các biến độc lập trong mô hình có thể thu thập được và có hệ thống. - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
c biến độc lập trong mô hình có thể thu thập được và có hệ thống (Trang 54)
2.2.1. Mô hình nghiên cứu - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
2.2.1. Mô hình nghiên cứu (Trang 55)
Bảng 2.1: Số lượng các ngânhàng lựa chọn nghiên cứu - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Bảng 2.1 Số lượng các ngânhàng lựa chọn nghiên cứu (Trang 70)
2.3.1. Mô hình nghiên cứu - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
2.3.1. Mô hình nghiên cứu (Trang 71)
Hình 3.1. Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.1. Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 83)
Hình 3.3. Diễn biến lạm phát giai đoạn 2011-2015 (% so với cùng kỳ) - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.3. Diễn biến lạm phát giai đoạn 2011-2015 (% so với cùng kỳ) (Trang 89)
Hình 3.4. Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 – 2019 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.4. Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 – 2019 (Trang 91)
Hình 3.6: Số lượng ngânhàng giai đoạn 2006-2019 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.6 Số lượng ngânhàng giai đoạn 2006-2019 (Trang 97)
Hình 3.7: Vốn điều lệ các NHTM tại 31/12/2019 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.7 Vốn điều lệ các NHTM tại 31/12/2019 (Trang 98)
Hình 3.8: Kết quả kinh doanh các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2010 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.8 Kết quả kinh doanh các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2010 (Trang 99)
Hình 3.9: Kết quả kinh doanh các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2015 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.9 Kết quả kinh doanh các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (Trang 101)
Hình 3.11: Tăng trưởng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2019 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.11 Tăng trưởng tiền gửi tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2019 (Trang 102)
Hình 3.12: Tiền gửi khách hàng các NHTM theo kỳ hạn giai đoạn 2015-2019 - NGHIÊN cứu NHÂN tố tác ĐỘNG đến LƯỢNG TIỀN gửi tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM
Hình 3.12 Tiền gửi khách hàng các NHTM theo kỳ hạn giai đoạn 2015-2019 (Trang 104)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w