Bài viết đề xuất và thực thi một mô hình thực nghiệm truyền thông dữ liệu song công qua kênh truyền ánh sáng trắng giữa hai thiết bị đầu cuối như PC/Embedded Computer, smartphone/tablet. Các thiết bị này được kết nối với các Front-End qua cổng Universal Serial Bus (USB) 2.0 và một bộ chuyển đổi từ chuẩn USB sang RS232. Ở phân lớp ứng dụng, chúng tôi phát triển một phần mềm được cài trên thiết bị đầu cuối cho phép cấu hình các tham số và truyền các dữ liệu (gồm chuỗi văn bản, ảnh) tới front-end. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Mô Hình Nghiên Cứu Thực Nghiệm Về Truyền Dữ Liệu Thời Gian Thực Sử Dụng Ánh Sáng Đèn LED
Đỗ Trọng Tuấn1†, Hà Duyên Trung1†, La Văn Thiện1, Phan Van Huy1, Lương Tuấn Hải2
1Viện Điện tử Viễn thông, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
2 Cục Thông tin liên lạc, Tổng cục Hậu cần kỹ thuật, Bộ Công an
† Emails: {tuan.dotrong, trung.haduyen}@hust.edu.vn
Abstract— Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất và thực thi một
mô hình thực nghiệm truyền thông dữ liệu song công qua kênh
truyền ánh sáng trắng giữa hai thiết bị đầu cuối như
PC/Embedded Computer, smartphone/tablet Các thiết bị này
được kết nối với các Front-End qua cổng Universal Serial Bus
(USB) 2.0 và một bộ chuyển đổi từ chuẩn USB sang RS232 Ở
phân lớp ứng dụng, chúng tôi phát triển một phần mềm được cài
trên thiết bị đầu cuối cho phép cấu hình các tham số và truyền
các dữ liệu (gồm chuỗi văn bản, ảnh) tới front-end Ngoài ra,
chúng tôi sẽ trình bày kiến trúc hệ thống truyền thông bằng ánh
sáng nhìn thấy (VLC-Visible Light Communications), nguyên
mẫu thiết kế một testbed VLC song công sử dụng môi trường
trong nhà Các kết quả thực nghiệm đã đánh giá độ trễ truyền
thời gian thực phụ thuộc vào tốc độ và kích thước dữ liệu Ngoài
ra, khoảng cách truyền dẫn sẽ được tăng lên nếu mô hình chuyển
tiếp đa chặng VLC được áp dụng
Keywords- Kênh truyền ánh sáng, truyền thông thời gian thực,
mô hình thực nghiệm
I GIỚI THIỆU Trong những năm trở lại đây, công nghệ truyền thông bằng
ánh sáng nhìn thấy (Visible Light Communications – VLC)
ngày càng được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Ý
tưởng sử dụng Diode phát quang (Light Emitting Diode –
LED) cho cả triển khai hạ tầng chiếu sáng và truyền tin xuất
phát từ rất nhiều yếu tố thực tiễn Hiện nay, LED được kỳ vọng
sẽ thay thế các nguồn chiếu sáng truyền thống như đèn sợi đốt
và đèn huỳnh quang bởi chúng có rất nhiều điểm ưu việt như:
công suất tiêu thụ thấp, bền, tính thẩm mỹ cao và linh hoạt
trong quá trình triển khai hạ tầng chiếu sáng… Do vậy, LED
hứa hẹn sẽ là thiết bị chiếu sáng thế hệ mới trong tương lai,
thay thế hoàn toàn các đèn sợi đốt và huỳnh quang Bên cạnh
đó, công nghệ sử dụng sóng tần số vô tuyến (Radio Frequency
- RF) đang bộc lộ rất nhiều nhược điểm như cạn kiệt tài nguyên
vô tuyến, băng thông hẹp và ảnh hưởng tới sức khỏe con
người, máy móc thôi thúc chúng ta đi tìm công nghệ mới giải
quyết các vấn đề trên Ngoài ra, LED là thiết bị bán dẫn có khả
năng bật tắt ở tốc độ siêu cao Bằng cách sử dụng ánh sáng
trắng để truyền tin, chúng ta có thể giải quyết được rất nhiều
vấn đề còn tồn đọng của công nghệ RF và mở rộng băng thông
được xuống cho các thiết bị đầu cuối Như vậy, LED không chỉ
được sử dụng như một thiết bị chiếu sáng thông minh mà còn
được sử dụng như một thiết bị truyền thông băng siêu rộng
Hiện tại có rất nhiều dự án nghiên cứu khoa học trên thế
giới về VLC đã và đang được triển khai Công nghệ truyền
thông bằng ánh sáng nhìn thấy lần đầu tiên được đề xuất bởi Toshihiki Komine, Nhật Bản vào năm 2004 [1], sau khi ông có một nghiên cứu cơ bản về các đặc tính của đèn LED trong chiếu sáng [2] Và từ đó đến nay, công nghệ VLC được các nhóm nghiên cứu trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ như hiệp hội truyền thông bằng ánh sáng nhìn thấy tại Nhật Bản (Visible Light Communications Consortium – VLCC) [3], nhóm dự án OMEGA châu Âu [4], diễn đàn nghiên cứu thế giới vô tuyến (the Wireless World Research Forum - WWRF) [5] và rất nhiều nhóm nghiên cứu khác trên toàn thế giới IEEE
đã đưa ra chuẩn 802.15 dành cho một thế hệ mạng không dây mới trong đó có VLC [6] Có thể khái quát một số định hướng nghiên cứu chính của các nhóm VLC trên toàn thế giới như cải thiện tốc độ và khoảng cách truyền dữ liệu [7-8], nghiên cứu về các đặc tính kênh truyền [9-10], nghiên cứu các phương pháp điều chế [11] và một số định hướng nghiên cứu khác
Trong bài báo này, chúng tôi trình bày về kiến trúc hệ thống truyền dữ liệu (chuỗi văn bản, hình ảnh) thời gian thực bằng ánh sáng đèn LED trắng Một nguyên mẫu đã được thiết kế testbed VLC song công để truyền dữ liệu môi trường trong nhà Các kết quả thực nghiệm về tốc độ, kích thước dữ liệu và khoảng cách truyền dẫn dữ liệu thời gian thực qua kênh truyền ánh sáng trắng
Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: phần II trình bày mô hình hệ thống VLC bao gồm kiến trúc hệ thống, kênh truyền lý thuyết và mô hình thực nghiệm hệ thống VLC môi trường trong nhà Phần III đưa ra thiết kế chi tiết dựa trên
mô hình thực nghiệm trong thực tế và kết quả đạt được của mô hình đã triển khai Cuối cùng, chúng tôi kết luận bài báo trong phần IV
II MÔ HÌNH HỆ THỐNG VLC
A Kiến trúc hệ thống VLC
Mô hình thiết kế kiến trúc hệ thống VLC song công được biểu diễn trên Hình 1 Hệ thống bao gồm các front-ends được kết nối với thiết bị đầu cuối để nhận dữ liệu từ lớp trên được đưa xuống dưới dạng các tín hiệu điện hoặc đưa các tín hiệu thích hợp để các đầu cuối xử lý và giải mã tín hiệu Mỗi front-end cũng được kết nối với một LED và một Photodiode (PD)
để phát và thu tín hiệu quang Dữ liệu được truyền nhận giữa hai đầu cuối qua các front-ends
Các đầu cuối cho phép người dùng truyền và nhận dữ liệu ở
là các chuỗi văn bản hoặc ảnh Đầu cuối ở đây có thể là một
Trang 2PC (Personal Computer), máy tính nhúng hay thậm chí là các
smart phone Một phần mềm được cài đặt tại mỗi thiết bị đầu
cuối truyền, nhận và hiển thị dữ liệu Phần mềm này có nhiệm
vụ tạo ra các luồng bit nhị phân từ dữ liệu của người dùng và
đưa xuống lớp vật lý thành tín hiệu điện, qua một bộ chuyển
đổi chuẩn USB sang RS232 và đưa vào bộ phát của front-end
Ở phía ngược lại, phần mềm có nhiệm vụ nhận luồng bit từ bộ
thu và khôi phục dữ liệu để hiển thị cho người dùng Ngoài ra,
phần mềm này có khả năng tính toán trễ và thông lượng trễ khi
người dùng truyền một đoạn dữ liệu
LED
PD Lens
Lens Concentrator
Concentrator 01010101010
01010101010
Channel 1
Channel 2
Model for VLC Full-Duplex
Circuit
Hình 1 Kiến trúc hệ thống VLC
Front-end là phần cứng bao gồm một bộ phát và một bộ
thu Bộ phát nhận tín hiệu điện dạng xung theo dữ liệu truyền
đi, chuyển đổi sang tín hiệu điện phù hợp để điều khiển cường
độ sáng của LED thay đổi theo tín hiệu đầu vào Bộ thu nhận
tín hiệu quang và chuyển đổi sang tín hiệu xung để đưa vào bộ
chuyển đổi RS232 sang USB Ngoài ra, chúng tôi sử dụng
LENs cho đèn LED để tập trung ánh sáng vào một góc khối
nhỏ hơn nhằm tăng hiệu suất phát quang Ở phía thu, một bộ
tập trung quang sử dụng ngay trước PD để giới hạn FOV (Field
of View) của PD nhằm hạn chế các nguồn ánh sáng không
mong muốn từ bên ngoài
B Kênh truyền VLC
Trong phần này, chúng tôi sẽ phân tích về lý thuyết về mô
hình kênh LOS trong nhà (Hình 2) Các thông số như suy hao
đường và công suất quang nhận được rút ra dựa vào các thông
số đo sáng Đây là đại lượng quan trọng cho việc lựa chọn đặc
tính của các đèn LEDs thích hợp được sử dụng trong thử
nghiệm thực tế sau này
Mối liên hệ giữa công suất thu và công suất phát cho kênh
truyền VLC được biểu thị qua công thức sau:
Trong đó: L L hệ số suy hao trên đường truyền, được xác định
bởi [1]
2
2
m r
L
D
Trong đó A r là diện tích vật lý bề mặt photodiode, D là khoảng
cách thu phát, là góc bức xạ tại máy phát, là góc tới phía
thu, m là bậc của LED Lumberton,1/ 2là bán góc tại nửa công
suất phát, và nó xác định chiều rộng của chùm tia sáng của
LED
Trong trường hợp có nhiều kênh LOS, công suất nhận được
bằng tổng các công suất thu của mỗi đường LOS
1
n
i
Hình 2: Mô hình kênh truyền VLC
Sự phân bố năng lượng điện tại máy thu phụ thuộc vào sự phân bố độ rọi của nguồn sáng Độ rọi thể hiện độ sáng trên một bề mặt được chiếu sáng Cường độ sáng tại góc được tính theo (4) dựa trên định luật Lambert’s Cosine [12]
I I (4) Trên thực tế, phần lớn các LED thương mại được sản xuất theo định luật Lambert’s Cosine Cường độ sáng giảm khi góc tớităng Trong đó I(0) là cường độ sáng trung tâm của LED,
là góc bức xạ và m là bậc của sự phát thải Lumberton.
Độ rọi ngang Ehor tại điểm A(x,y) cho bởi [12]
d
I E
D
Trong đó D dlà khoảng cách giữa LED và bề mặt đặt máy thu
C Mô hình kênh truyền thực nghiệm
Trong phần này, chúng tôi tiến hành khảo sát kênh truyền ở hai môi trường khác nhau nhằm đánh giá sự phụ thuộc của chất lượng hệ thống VLC vào môi trường thí nghiệm Từ đó, có thể rút ra kết luận về ưu nhược điểm của các môi trường kênh truyền để điều chỉnh thiết kế hợp lý Hình 3 và Hình 4 thể hiện hai môi trường thí nghiệm thực tế
Hình 3 LED và PD đặt trong mặt phẳng nằm ngang
Hình 3 cho thấy LED và PD được đặt trên cùng một mặt phẳng Với môi trường này, chúng ta phải che chắn để tạo ra một điều kiện thí nghiệm lý tưởng Vì vậy, chúng có một số nhược điểm như: (1) hệ thống không thể hoạt động nếu PD hướng ra ngoài cửa sổ và chịu ảnh hưởng của các nguồn ánh sáng không mong muốn (2) Mặt phẳng thí nghiệm phải ít bị
Trang 3phản xạ và rất bằng phẳng để thỏa mãn điều kiện thẳng hàng
thu phát Chính vì những lý do đó, rất khó để thiết lập thí
nghiệm và nếu có thể sẽ tốn rất nhiều thời gian
Hình 8 LED và PD đặt trong mặt phẳng dọc
Chính vì vậy, mô hình kênh truyền được thay đổi như trên
Hình 8 Trong mô hình này, các nguồn nhiễu từ bên ngoài được
hạn chế đi vào phía thu do: (1) LED và PD được đặt theo trục
đứng, (2) PD được đặt trong một ống PVC với độ sâu 8cm Với
mô hình kênh truyền này, thí nghiệm có thể được thiết lập
nhanh chóng ở nhiều môi trường Điều này vô cùng quan trọng
trong việc triển khai và đánh giá các testbed mới thiết kế
A Đầu cuối thu phát VLC song công
Trong phần này sẽ trình bày mô hình thiết kế chi tiết của
front-end (đầu cuối thu phát) VLC song công có khả năng
truyền các dữ liệu đa phương tiện như văn bản hoặc hình ảnh
Như đã đề cập ở các mục trước, front-end gồm hai phần:
mô-đun phát và mô-mô-đun thu nên thiết kế sẽ được trình bày lần lượt
theo hai khối như vậy
Dữ liệu đầu vào của mô-đun phát là các xung tín hiệu điện
0V-3.3V từ bộ chuyển đổi USB sang RS232 (Prolific PL2303)
biểu diễn luồng bit dữ liệu Tín hiệu đi vào mô-đun phát được
khuếch đại (OPA211-TI) và tạo thành tín hiệu điều khiển LED
1W Luxeon bật tắt Đầu ra mô-đun phát là tín hiệu quang của
đèn LED bật tắt theo xung đầu vào (Hình 9)
Data USB to COM Amplifier LED
Differential signal TTL Signal
DC 5V-2A
01010101
Channel Transmitter Module
Hình 9 Sơ đồ khối thiết kế phía phát
Dữ liệu đầu vào của mô-đun thu là tín hiệu quang nhận
được từ phía phát Qua một đổi chuyển quang điện (PD
Hamamastu S6968), tín hiệu sau đó đi qua một khối so sánh
(LM393 - TI) và quyết định để đưa ra dạng tín hiệu điện mong
muốn Cuối cùng, tín hiệu đầu ra của mô-đun thu chính là xung điện để đưa vào bộ chuyển đổi RS232 sang USB (Hình 10)
PD Decision USB to COM Data
Differential signal TTL Signal
DC 5V-2A
01010101
Receiver Optical Channel
Hình 10 Sơ đồ khối thiết kế phía thu Sau khi thiết kế, Front-End được chế tạo và đóng gói như minh họa trên Hình 11 để thuận tiện cho quá trình thí nghiệm
và di chuyển
Hình 11 Front-end VLC song công
B Mô hình thực nghiệm và kết quả đạt được
USB to TTL Converter VLC Front - End
TTL to USB Converter VLC Front - End
0101010101
0101010101
Transfer between 2 PC
PC or Embedded Computer COM PORT #1
COM PORT #2
Hình 12 Mô hình truyền tin sử dụng một đầu cuối Hình 12 chỉ ra mô hình thiết lập thí nghiệm cho testbed đã thiết kế Hai front-ends khác nhau được kết nối với hai cổng RS232 riêng biệt của cùng một máy tính Do vậy, có thể xem
PC này mô hình hóa hai PC ảo riêng biệt Dữ liệu dạng văn bản
và hình ảnh được truyền trong thời gian thực giữa hai PC này
Full-duplex VLC Testbed
@ASELab
Trang 4Hình 13 Giao diện phần mềm được cài trên đầu cuối: Text-transfer
mode
Hình 14 Giao diện phần mềm được cài trên đầu cuối: Image-transfer
mode
Mô hình sử dụng một đầu cuối có một số ưu điểm ban đầu
như: (1) Dễ dàng thiết lập thí nghiệm, (2) dễ dàng lập trình để
tính toán trễ và thông lượng chính xác vì hai máy tính ảo (từ
một máy tính thật) sử dụng cùng một đồng hồ vật lý Tuy
nhiên, chúng ta có thể thiết lập thí nghiệm với mô hình hai đầu
cuối một cách đơn giản bằng cách thay đổi giao thức tính trễ
của phần mềm sử dụng cơ chế phản hồi (feedback) Lúc này
chúng ta sẽ vẫn tính toán trên một đồng hồ vật lý của đầu cuối
phát dữ liệu và nhận feedback trở về
Phần mềm được sử dụng trong các thí nghiệm VLC (Các
Hình 13 và Hình 14) được thiết kế cho thí nghiệm truyền dữ
liệu thời gian thực với những chức năng chính sau đây: (1) đo
độ trễ truyền thông qua lệnh “Ping” Các nhãn thời gian của
các gói tin “Ping” tại thời điểm bắt đầu phát gói tin ở máy phát
và thời điểm nhận được gói tin ở máy thu được ghi lại Các giá
trị độ trễ được tính toán dựa trên các nhãn thời gian và lưu vào
các file log, với mô hình hai đầu cuối, chúng ta se thay đổi
giao thức bằng cách phía thu gửi một bản tin feedback về máy
phát, sau đó máy phát nhận được và ghi lại thời gian nhận
được gói feedback và tín hành tính toán; (2) Truyền văn bản
vào file log (Hình 15); (3) Truyền hình ảnh song công với định dạng khác nhau, độ phân giải và tốc độ bit khác nhau, hiện thị hình ảnh nhận được, đo độ trễ truyền dẫn và lưu vào file log
Hình 15 Nội dung của tập tin logPing.txt
Sau đây là các kịch bản thí nghiệm khác nhau đã được thực hiện để đánh giá khả năng truyền tin của hệ thống testbed VLC song công thời gian thực
Kịch bản 1: Đo độ trễ bằng lệnh PING
Gửi lệnh “Ping” tại các tốc độ bit khác nhau Tại mỗi tốc
độ bit, lặp lại 20 lần và lưu dữ liệu vào một file log theo định dạng transmit_time; receive_times; transmission_delay
Kịch bản 2: Truyền gói tin (văn bản, hình ảnh)
Truyền văn bản ở tốc độ bit khác nhau trên cả hai kênh truyền VLC Tại mỗi tốc độ bit, lặp lại 10 lần với mỗi kênh VLC đoạn văn bản “Visible Light Communications” và lưu dữ liệu vào một file log theo định dạng: transmit_time; receive_time; transmission_delay
Truyền hai hình ảnh phổ biến: Foreman có dung lượng 7.7kB; độ phân giải 248×203 pixels, và Lena có dung lượng 31.6kB; độ phân giải 200×200 pixels Tại mỗi tốc độ bit, thí nghiệm được lặp lại 10 lần truyền và lưu giữ liệu vào một file log với định dạng: transmit_time; receive_time; transmission_delay
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3
Data (kbyte)
Baud rate=19,2 (kbps) Baud rate=28,8 (kbps)
Hình 16 Độ trễ gói tin theo kích thước dữ liệu ở các tốc độ baud rate khác nhau 19,2 kbps và 28,8 kbps, khoảng cách truyền dẫn 80 cm
Thực hiện đo độ trễ của quá trình truyền dữ liệu các gói tin truyền với hai tốc độ khác nhau lần lượt là 28,8kbps và 19,2kbps Với mỗi tốc độ chúng tôi thực hiện thí nghiệm 7 lần
Trang 5được đồ thị để so sánh độ trễ gói tin theo kích thước dữ liệu ở
2 baud rate trên Kết quả được thể hiện Hình 16 cho thấy sự
sai khác về độ trễ truyền tin ở các tốc độ baud rate khác nhau
Điều này được giải thích là khi tốc độ cao hơn cho ta độ trễ
nhỏ hơn vì bộ thu thực hiện tách dữ liệu nhanh hơn, kênh
truyền ít bị nhiễu hơn và ngược lại đối với tốc đọ baud rate
thấp hơn thì độ trễ sẽ tăng lên
C Đề xuất mô hình đa chặng song công sử dụng nút chuyển
tiếp
Trong các công nghệ truyền thống như vô tuyến (RF) hay
cáp sợi quang, mô hình đa chặng được sử dụng rất nhiều để
tăng khoảng cách và chất lượng truyền tin Đây là một giải
pháp rất hay vì chúng ta không cần phải thiết kế lại front-end
mà vẫn có thể kéo dài khoảng cách truyền tin Vì vậy, sử dụng
các nút chuyển tiếp nhằm tăng khoảng cách truyền tin trong
công nghệ VLC là xu hướng tất yếu
FRONT-END
Transmitter
Receiver
FRONT-END Transmitter Receiver
PC/Embedded Device
PC/Embedded Device
PC/Embedded Device
RELAY Device
VLC RELAY MODEL
COM #1 COM #2 FRONT-END
Transmitter Receiver
FRONT-END
Transmitter
Receiver
OPTICAL Channel OPTICAL Channel
Hình 17 Mô hình chuyển tiếp đa chặng (2 chặng) song công sử dụng
nút chuyển tiếp trong VLC Hình 17 là thể hiện của mô hình đa chặng sử dụng nút
chuyển tiếp trong VLC Trong mô hình này, hai đầu cuối là
“Source Device” và “Dest Device” sẽ không truyền thông trực
tiếp mà thông qua một nút chuyển tiếp là “RELAY Device”
Dữ liệu từ “Source Device” được đẩy xuống Front-End sau đó
được thu bởi front-end của “RELAY Device” từ cổng COM
#1 “RELAY Device” không trực tiếp chuyển tín hiệu điện
này sang cổng COM #2 mà sẽ giải mã sau đó mới truyền dữ
liệu xuống cổng COM #2 nhằm giảm thiểu sai sót tối đa Quá
trình tương tự khi “RELAY Device” truyền dữ liệu sang “Dest
Device” Dữ liệu từ “Dest Device” được truyền sang “Source
Device” cũng bằng cách như vậy tuy nhiên theo hướng ngược
lại
Thực hiện truyền dữ liệu gói tin trên cùng 1 tốc độ baud
rate 19,2kbps với hai kịch bản khác nhau: đơn chặng (80cm)
và hai chặng (160cm) Truyền dữ liệu đa chặng dựa trên đặc
tính chuyển tiếp khôi phục dữ liệu và bù công suất phát
Chúng tôi thực hiện 7 lần truyền gói tin trong mỗi kịch bản
với kích thước gói tin tăng dần từ 1kbyte đến 7kbyte Sau đó,
kết quả thu được như trên Hình 18 so sánh độ trễ giữa hai kịch
bản truyền dữ liệu đơn chặng và đa chặng khi tốc độ dữ liệu
cố định tại 19.2kbps Nhìn vào đồ thị có sự khác biệt ở độ trễ
là do khoảng cách truyền nhận, nhiễu và khoảng thời gian khôi
phục , bù công suất gây ra
Nhìn chung mô hình đa chặng là giải pháp để tăng khoảng
cách đối với bất cứ hệ thống thông tin vô tuyến/hữu tuyến nói
chung và VLC nói riêng khi tín hiệu có ích trên đường truyền
bị suy hao và can nhiễu theo khoảng cách
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3
Data (kbyte)
Single-hop Two-hop
Hình 18 Độ trễ gói tin theo kích thước dữ liệu cho hệ thống đơn chặng
có khoảng cách truyền dẫn 80 cm và đa chặng (2 chặng) có khoảng cách truyền dẫn 160 cm, ở cùng tốc độ baud rate 19,2 kbps
VLC là giải pháp công nghệ truyền thông hứa hẹn nhiều triển vọng, giải quyết được nhiều vấn đề về tài nguyên, băng thông hay tính an toàn của công nghệ RF VLC có thể trở thành công nghệ truyền tin/chiếu sáng thể hệ mới và sẽ sớm được ứng dụng vào thực tiễn Trong bài báo này, chúng tôi đã đưa ra kiến trúc một hệ thống VLC cơ bản, mô hình kênh truyền môi trường trong nhà của VLC nhằm phân tích và đánh giá các tác động môi trường ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống Tiếp theo, chúng tôi nghiên cứu và thiết kế front-end nhằm chứng minh khả năng truyền tin của ánh sáng trắng, một số kết quả thực nghiệm đã đánh giá độ trễ truyền thời gian thực phụ thuộc môi trường, tốc độ và kích thước dữ liệu Cuối cùng mô hình
đa chặng song công được đề xuất nhằm làm tăng khoảng cách truyền tin
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] T Komine, M Nakagawa, “Fundamental analysis for visible light
communication system using LED lights”, IEEE Trans on Consumer
Elec 50 (2004) 100–107
[2] T Komine, Y Tanaka, S Haruyama, “Basic study on visible-light
communication using light emitting diode illumination”, In: Proceedings
of 8th International Symposium on Microwave and Optical Technology,
2001, pp 45–48.Haruyama, S.: Visible light communication IEEE Trans on IEICE J86-A (2003) 1284–1291
[3] VLCC, “Visible Light Communications Consortium”, Japan 2008 [4] “Home Gigabit Access project”, funded by European Framework 7, http://www.ict-omega.eu/
[5] “Wireless World Research Forum.” http://www.wireless-world-research.org/
[6] IEEE, “IEEE P802.15 Working Group for Wireless Per-sonal Area
Networks (WPANs)” 2008
[7] J Vucic, C Kottke, S Nerreter, K Habel, A Buttner, K D Langer and
J W Waleski, “125 Mbit/s over 5 m Wireless Distance by Use of
Trang 6OOK-Modulated Phosphorescent White LEDs”, Processing of 35th European
Conf of Opt Commun (2009)
[8] G Cossu, A M Khalid, “3.4 Gbit/s Visible Optical Wireless
Transmission Based on RGB LED”, Optics Express, Vol 20, No 26,
2012, pp B501-B506.Y Zheng and M Zhang, Visible Light
Communications Recent Progresses and Future Outlooks, Proc of
Photonics and Optoelectronics Conf (2011) 1-6.
[9] X Zhang, K Cui, “Experimental Characterization of Indoor Visible
Communications Systems, 2011
[10] R Cheng, X Yan, “Indoor multi-source channel characteristic for
visible light communication”, The Jounal of China University of Posts
and Telecommunications, 2013
[11] R Mesleh, H Elgala and H Hass, “Optical Spatial Modulation,”
Journal of Optical Communications and Networking, Vol 3, No 3,
2011
[12] Z Ghassemlooy, W Popoola, S Rajbhandari Optical Wireless Communication: System and Channel Modelling with Matlab 2012, CRC Press